30/03/2020

Ba “điều răn yêu thương” trong Kinh Thánh



Bài viết tiếng Pháp:

Tác giả: Giuse Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com
Cập nhật, ngày 30 tháng 03 năm 2020.


Nội dung

Dẫn nhập
I. Điều răn yêu thương trong Cựu Ước
    1. Yêu mến ĐỨC CHÚA (Đnl 6,5)
    2. Yêu người thân cận (Lv 19,18)
    3. Người thân cận theo Do Thái giáo
II. Điều răn yêu thương trong Tin Mừng Nhất Lãm
    1. Điều răn yêu thương Lc 10,25-28
    2. Dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu (Lc 10,30-35)
    3. Người thân cận theo Ki-tô giáo
III. Điều răn yêu thương trong Tin Mừng Gio-an
    1. Điều răn mới, nền tảng đời sống các môn đệ
    2. Điều răn mới so với Cựu Ước
    3. “Điều răn mới” là “điều răn cũ” trong các thư Gio-an
    4. Điều răn của Đức Giê-su
    5. Cách thức yêu thương trong điều răn mới
Kết luận



Dẫn nhập

Mọi người nói đến “điều răn yêu thương” và mời gọi sống điều răn này, nhưng cụ thể là điều răn nào? “Yêu thương người thân cận” hay “yêu thương lẫn nhau”? Điều răn yêu thương còn được gọi là “điều răn mới”, mới ở chỗ nào và mới so với điều gì? Có khác biệt giữa “điều răn yêu thương” trong Tin Mừng Nhất Lãm và “điều răn yêu thương” trong Tin Mừng Gio-an không? Nội dung “điều răn yêu thương” diễn tả bằng động từ “agapaô”, thường dịch là “yêu mến” để phân biệt với động từ “phileô” dịch là “yêu thương”, “thương mến”. Bài viết này dùng kiểu nói quen thuộc: “điều răn yêu thương”. Để tìm hiểu nội dung và cách thức yêu thương, bài viết trình bày sơ lược về ba điều răn yêu thương trong Kinh Thánh qua ba mục: (I) điều răn yêu thương trong Cựu Ước; (II) điều răn yêu thương trong Tin Mừng Nhất Lãm; (III) điều răn yêu thương trong Tin Mừng Gio-an với những đặc điểm riêng.

I. Điều răn yêu thương trong Cựu Ước

Tin Mừng Mát-thêu thuật lại cuộc trao đổi liên quan đến hai điều răn trong Cựu Ước, người thuật chuyện kể ở Mt 22,34-40: “34 Khi nghe tin Đức Giê-su đã làm cho nhóm Xa-đốc phải câm miệng, thì những người Pha-ri-sêu họp nhau lại. 35 Rồi một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng: 36 ‘Thưa Thầy, trong Lề Luật, điều răn (entolê) nào là điều răn trọng nhất?’ 37 Đức Giê-su đáp: ‘Ngươi phải yêu mến (agapêseis) Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. 38 Đó là điều răn quan trọng nhất và đứng hàng đầu. 39 Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu mến (agapêseis) người thân cận (plêsion) như chính mình. 40 Tất cả Luật Mô-sê và các sách ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy.’” (Xem Bản dịch của NPD/CGKPV ấn bản 2011). Trong đoạn văn này, Đức Giê-su kết hợp hai điều răn trong Cựu Ước. Điều răn yêu thương trong Cựu Ước được trình bày qua ba điểm: (1) yêu mến ĐỨC CHÚA (Đnl 6,5); (2) yêu người thân cận (Lv 19,18); (3) người thân cận theo Do Thái giáo.

    1. Yêu mến ĐỨC CHÚA (Đnl 6,5)

Điều răn yêu thương thứ nhất lấy trong sách Đệ Nhị Luật. Mô-sê truyền lại cho dân Ít-ra-en điều răn của Đức Chúa ở Đnl 6,4-5: “4 Nghe đây, hỡi Ít-ra-en! ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa chúng ta, là ĐỨC CHÚA duy nhất. 5 Hãy yêu mến (agapêseis) ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh (em), hết lòng hết dạ, hết sức anh (em).” Đây là “điều răn quan trọng nhất và đứng hàng đầu” (Mt 22,38).

Sách Đệ nhị luật nhấn mạnh việc tuân giữ và truyền lại điều răn này cho con cháu ở Đnl 6,6-9: “6 Những lời này tôi truyền cho anh (em) hôm nay, anh (em) phải ghi tạc vào lòng. 7 Anh (em) phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũng như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy, 8 phải buộc những lời ấy vào tay làm dấu, mang trên trán làm phù hiệu, 9 phải viết lên khung cửa nhà anh (em), và lên cửa thành của anh (em).” Cụm từ “Những lời này” ở đầu câu 6,6 là nội dung điều răn “yêu mến ĐỨC CHÚA”, đồng thời cũng gợi đến 10 điều răn trong chương trước đó (Đnl 5,1-22) như là nền tảng Giao Ước. Trong đó điều răn đứng hàng đầu là “yêu mến ĐỨC CHÚA” (Đnl 6,5). Việc tuân giữ những điều răn và các thánh chỉ khác của ĐỨC CHÚA đều dựa trên lòng “yêu mến ĐỨC CHÚA.”

    2. Yêu người thân cận (Lv 19,18)

Điều răn yêu thương người thân vận ở trong sách Lê-vi. ĐỨC CHÚA phán ở Lv 19,18b: “Ngươi phải yêu (agapêseis) người thân cận (plêsion) như chính mình.” Điều răn này nằm trong đoạn văn Lv 19,11-17, trình bày những quy định luân lý dân Ít-ra-en phải giữ theo như Giao ước đã thiết lập giữa Thiên Chúa và dân qua trung gian ông Mô-sê (Lv 19,1-2). Chẳng hạn, chỉ thị ở Lv 19,17-18: “17 Ngươi không được để lòng ghét người anh em, phải mạnh dạn quở trách người đồng bào, như thế, ngươi sẽ khỏi mang tội vì nó. 18 Ngươi không được trả thù, không được oán hận con cái dân ngươi. Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Ta là ĐỨC CHÚA.” Câu hỏi đặt ra là theo Do Thái giáo, người thân cận là ai?

    3. Người thân cận theo Do Thái giáo

Trong Do Thái giáo, nghĩa từ “người thân cận” tuỳ thuộc thời đại, môi trường xã hội và tôn giáo. Tự điển bách khoa Kinh Thánh (Dictionnaire encyclopédique de la Bible) định nghĩa “người thân cận” như sau: “Trong cơ cấu thị tộc, người thân cận là thành viên của thị tộc hay thành viên của thị tộc đồng minh (St 31,32; Tl 9,18). Đó là công dân hay người đồng đạo theo quan niệm xã hội của dân Ít-ra-en thời xưa (Is 66,20; Mk 5,7; Nkm 5,8). Đối với nhóm Ét-xê-nô (esséniens), sống tách biệt thành cộng đoàn, người thân cận là thành viên của phái này (1QS; Fl. Jos, B.J. 2,124 s). Do Thái giáo chính thống, thời sau khi Kinh Thánh được biên soạn, và thời talmud (l’époque postbiblique et talmudique), ít tán thành việc giao tiếp với dân ngoại, nói chung họ xem người thân cận là đồng bào hay người theo đạo Do Thái (BabBQ 38a; 113b). Đối với Do Thái giáo Hy-lạp hoá hay ở Alexandrin, họ giao tiếp hằng ngày với người Hy-lạp. Với những cấp độ khác nhau, người thân cận là tất cả công dân (Kn 12,19; 2Mcb 4,36; Lettre d’Aristée).” (Mục từ “prochain” trong Dictionnaire encyclopédique de la Bible, Centre Informatique et Bible Abbaye de Maredsous, (dir.), (3è éd. rev. et aug.), Turnhout, Brepols, 2002). (Các từ viết tắt trong trích dẫn trên: 1QS: Luật cộng đoàn (bản văn Qumran); Fl. Jos, B.J.: Tác phẩm Cuộc chiến Do Thái (Guerre juive) của Flavius Josèphe; BabBQ: Talmud Babylone Baba’ qamma’; Lettre d’Aristée: ngụy thư (Écrit pseudépigraphe) viết bằng tiếng Hy-lạp bởi một người Do Thái ở Ai Cập).

Trong Cựu Ước, “yêu thương người thân cận” gợi đến “yêu thương ngoại kiều” nói đến ở Lv 19,33-34 và Đnl 10,19. ĐỨC CHÚA phán ở Lv 33-34: “33 Khi có ngoại kiều cư ngụ với (các) ngươi trong xứ các ngươi, các ngươi đừng bức hiếp nó. 34 (Các) ngươi phải đối xử với người ngoại kiều cư ngụ với các ngươi như với một người bản xứ, một người trong các ngươi; (các) ngươi phải yêu nó như chính mình, vì các ngươi đã từng là ngoại kiều tại đất Ai-cập. Ta là ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của các ngươi.” Mô-sê nói với dân ở Đnl 10,19: “Anh em phải yêu thương ngoại kiều, vì anh em đã từng là ngoại kiều ở đất Ai-cập.” Vậy định nghĩa “người thân cận” thay đổi theo thời gian và tuỳ thuộc vào môi trường xã hội và tôn giáo.

Tóm lại, phần trên đã trình bày điều răn kép: “yêu mến ĐỨC CHÚA” (Đnl 6,5) và “yêu thương người thân cận” (Lv 19,18b) trong Cựu Ước. Đây là những điều răn ĐỨC CHÚA ban cho dân Ít-ra-en. Trong viễn cảnh này, “người thân cận” là thành viên của các cộng đồng Ít-ra-en. Có thể gọi đây là điều răn yêu thương thứ nhất trong Kinh Thánh.

II. Điều răn yêu thương trong Tin Mừng Nhất Lãm

Tân Ước áp dụng hai điều răn trong Cựu Ước trên đây cho các môn đệ Đức Giê-su: “yêu mến Thiên Chúa” và “yêu thương người thân cận”, nhưng theo nghĩa nào? Đức Giê-su định nghĩa thế nào về người thân cận? Đặc điểm điều răn yêu thương trong Tin Mừng Nhất Lãm được trình bày qua ba điểm: (1) điều răn yêu thương ở Lc 10,25-28; (2) dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu (Lc 10,30-35); (3) người thân cận theo Ki-tô giáo.

    1. Điều răn yêu thương Lc 10,25-28

Tin Mừng Nhất Lãm (Mt 22,36-40 // Mc 12,28-34 // Lc 10,25-28) nhắc lại hai điều răn “Mến Chúa” - “yêu người” trong Cựu Ước, và xác định đây là hai điều răn quan trọng nhất. Tin Mừng Lu-ca thuật lại câu chuyện liên quan đến điều răn yêu thương ở Lc 10,25-28: “25 Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng: ‘Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?’ 26 Người đáp: ‘Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?’ 27 Ông ấy thưa: ‘Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.’ 28 Đức Giê-su bảo ông ta: ‘Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.’”

Trong đoạn văn Lc 10,25-28, người thông luật trả lời câu hỏi và nối kết hai điều răn yêu thương trong Cựu Ước, trong khi ở Mt 22,36-40 (xem trích dẫn trên), chính Đức Giê-su trả lời. Có ba chi tiết đáng chú ý trong Tin Mừng Nhất Lãm: (1) nối kết điều răn yêu mến ĐỨC CHÚA và yêu mến người thân cận lại với nhau (Mt 22,37-39); (2) đây là hai điều răn quan trọng hơn cả (Mt 22,38; Mc 12,31b); (3) Lề Luật và các ngôn sứ qui vào hai điều răn đứng đầu này (Mt 22,40).

    2. Dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu (Lc 10,30-35)

Đức Giê-su mời gọi người thông luật thực thi điều răn yêu thương ở Lc 10,28: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống.” Nhưng người thông luật hỏi Đức Giê-su ở Lc 10,29: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” Đây là câu hỏi khó trả lời đối với Ki-tô hữu, vì khi chỉ ra ai là người thân cận cũng có nghĩa là những người còn lại không phải là người thân cận. Đức Giê-su trả lời người thông luật bằng cách kể dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu ở Lc 10,30-35: “30 Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. 31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. 32 Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. 33 Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. 34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. 35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: ‘Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác.’”

Sau khi kể dụ ngôn, Đức Giê-su hỏi người thông luật ở Lc 10,36: “Theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy” (10,37a). Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông hãy đi và hãy làm như thế” (Lc 10,37b). Trong câu hỏi ở Lc 10,36, Đức Giê-su đảo ngược câu hỏi của người thông luật. Ông ấy hỏi Đức Giê-su “ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10,29) thì Đức Giê-su lại hỏi ông ta “ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” (Lc 10,36b). Điều độc đáo là theo Đức Giê-su, thay vì hỏi “ai là người thân cận của tôi” thì hãy tự hỏi “tôi là người thân cận của ai”.

    3. Người thân cận theo Ki-tô giáo

Đức Giê-su đề cao nhân vật chính của dụ ngôn: người Sa-ma-ri là người không thuộc dân Do Thái. Qua đó, Đức Giê-su mở rộng khái niệm “người thân cận”. Từ nay người thân cận không chỉ giới hạn trong dân Ít-ra-en, dân được tuyển chọn. Theo Đức Giê-su, người thân cận là người liên đới với người khác, là người cứu giúp những ai đang gặp hoạn nạn. Câu hỏi đặt ra không còn là “ai là người thân cận của tôi?” mà là “tôi đã làm gì cho người khác để trở thành người thân cận của họ?” Để tránh rơi vào tình trạng phân biệt: ai là, ai không là người thân cận, Đức Giê-su mời gọi làm cho mình trở thành người thân cận của mọi người mà không cần biết trước tình trạng của người ấy (như chủng tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, v.v... ). Điều quan trọng là họ đang ở trong trình trạng khó khăn và cần được giúp đỡ. Nạn nhân trong dụ ngôn chỉ đơn giản là “một người kia” (anthrôpos tis), độc giả không biết gì về nguồn gốc hay tình trạng xã hội của người ấy. Hơn nữa, người Sa-ma-ri nhân hậu cũng không đi tìm nạn nhân, ông chỉ là người đang đi đường (Lc 10,33), tình cờ gặp nạn nhân “nửa sống nửa chết” (10,30b). Những chi tiết trong dụ ngôn đưa ra định nghĩa “người thân cận” theo quan điểm của Đức Giê-su.

Như thế qua dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu (Lc 10,29-37), người thân cận là tất cả mọi người, không phân biệt màu da, chủng tộc, văn hoá, ngôn ngữ. Tân Ước nối kết hai điều răn trong Cựu Ước và mở rộng nghĩa từ “plêsion” (người thân cận). Trong viễn cảnh này, Phao-lô mời gọi các tín hữu Rô-ma sống điều răn yêu thương trong Tin Mừng Nhất Lãm ở Rm 13,8-10: “8 Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái (to allêlous agapan); vì ai yêu người, thì đã chu toàn Lề Luật. 9 Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận (plêsion) như chính mình. 10 Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại (plêsion); yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy.” Trong đoạn văn này, từ “plêsion” (thân cận, đồng loại) hiểu là “tất cả mọi người.” “Yêu thương người thân cận” là yêu thương mọi người, không phân biệt hay loại trừ bất cứ ai. Như thế, “yêu thương người thân cận” trong Tân Ước mang chiều kích phổ quát (Gl 5,14; Gc 2,8).
Các môn đệ Đức Giê-su giữ điều răn yêu thương trên đây. Họ yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tất cả mọi người bằng cách làm cho mình trở thành người thân cận của mọi người. Đây là điều răn yêu thương thứ hai trong Kinh Thánh.

III. Điều răn yêu thương trong Tin Mừng Gio-an

Còn có một điều răn yêu thương nữa, khác với điều răn yêu thương trong Cựu Ước và trong Tin Mừng Nhất Lãm. Đó là điều răn yêu thương trong Tin Mừng Gio-an mà Đức Giê-su gọi là “điều răn mới” (Ga 13,34). Điều răn này có ý nghĩa thần học độc đáo riêng so với các điều răn đã phân tích. Tin Mừng Gio-an không nói đến “yêu thương người thân cận (plêsion)” mà là “yêu thương lẫn nhau (allêlous)” giữa các môn đệ. Phần sau tìm hiểu điều răn mới qua năm mục: (1) điều răn mới, nền tảng đời sống các môn đệ; (2) điều răn mới so với Cựu Ước; (3) “điều răn mới” là “điều răn cũ” trong các thư Gio-an, (4) điều răn của Đức Giê-su; (5) cách thức yêu thương trong điều răn mới.

    1. Điều răn mới, nền tảng đời sống các môn đệ

Trước khi bước vào cuộc Thương Khó, Đức Giê-su nói với các môn đệ ở Ga 13,34-35: “34 Thầy ban cho anh em một điều răn mới (entolên kainên) là anh em hãy yêu mến nhau (hina agapate allêlous), như Thầy đã yêu mến (êgapêsa) anh em anh em hãy yêu mến nhau (agapate allêlous). 35 Ở điều này mọi người sẽ nhận biết rằng: Anh em là môn đệ của Thầy, nếu anh em có tình yêu mến (agapên) lẫn nhau (allêlois).” (Xem Tin Mừng và Ba thư Gio-an). Đức Giê-su lặp lại điều răn này với các môn đệ ở 15,12-13: “12 Đây là điều răn của Thầy (hê entolê hê emê): Anh em hãy yêu mến nhau (hina agapate allêlous) như Thầy đã yêu mến (êgapêsa) anh em. 13 Không ai có tình yêu (agapên) cao cả hơn người đã hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu (tôn philôn) của mình”; và ở 15,17: “Những điều này, Thầy truyền dạy anh em, để anh em yêu mến nhau (hina agapate allêlous).”

“Điều răn mới” (13,34) là đặc trưng quan trọng của “điều răn yêu thương” và đây là trọng tâm đời sống các môn đệ. Theo J.-P. Lémonon: “(Điều răn mới) làm nên hiến chương của thời cuối cùng, được khởi đầu với cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su.” (J.-P. Lémonon, “Agapè dans le Nouveau Testament”, dans B.-M. Duffé, (dir.), Agapè, sources et interprétation de la charité, 1999, p. 78). Vậy “điều răn mới” là căn tính (identité) của người môn đệ và làm nên dân mới của Thiên Chúa. Khi người tin giữ điều răn này thì mọi người sẽ nhận biết họ là môn đệ Đức Giê-su (13,35).

Trong Tin Mừng, cuộc đời người tin hoà vào dòng chảy tình yêu qua ba tương quan tình yêu giữa: Chúa Cha và Đức Giê-su, Đức Giê-su và các môn đệ, các môn đệ với nhau. Đức Giê-su nói về tương quan tình yêu này với các môn đệ ở 15,9-10: “9 Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến anh em. Anh em hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. 10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy, như chính Thầy, Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình yêu của Người.” Dòng chảy tình yêu chỉ trọn vẹn khi các môn đệ sống điều răn Đức Giê-su ban tặng: “Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em” (15,12). (Xem bài viết: “Ga 15,9-13: Dòng chảy tình yêu giữa Chúa Cha, Đức Giê-su và các môn đệ”).

    2. Điều răn mới so với Cựu Ước

Tính từ “mới” (kainos) trong “điều răn mới” (Ga 13,34) đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử cứu độ. Khi nói đến “điều răn mới” giả thiết là đã có “điều răn cũ.” Điều răn yêu thương trong Tin Mừng Gio-an gợi đến điều răn yêu thương trong Cựu Ước ở Lv 19,18b: “Ngươi phải yêu (agapêseis) người thân cận (plêsion) như chính mình.” Tuy vậy, điều răn mới trong Tin Mừng vừa tiếp nối, vừa mới mẻ so với điều răn yêu thương trong Lv 19,18b. Điều răn mới tiếp nối điều răn yêu thương trong Cựu Ước, vì cội nguồn của điều răn mới (Ga 13,34) là tình yêu Chúa Cha dành cho thế gian (Ga 3,16) và tình yêu Chúa Cha dành cho Đức Giê-su (Ga 15,9). Đồng thời, điều răn mới là mới mẻ so với “điều răn cũ” (Lv 19,18b), qua ba đặc điểm:

(1) Điều mới của “điều răn yêu thương” trong Tin Mừng so với Lv 19,18b không phải là “tình yêu” nhưng là “đối tượng của tình yêu”: “yêu thương lẫn nhau (allêlous)” giữa các môn đệ Đức Giê-su; còn trong sách Lê-vi là “yêu thương người thân cận (plêsion)” trong dân Ít-ra-en.

(2) Chủ thể ban điều răn thay đổi. Trong Cựu Ước, ĐỨC CHÚA ban điều răn cho dân. Còn trong Tin Mừng, chính Đức Giê-su ban điều răn mới cho các môn đệ với tư cách là Con Thiên Chúa, là Đấng Chúa Cha sai đến, và là vị trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và con người như Người nói với các môn đệ ở 14,6b: “Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy.” Vậy bước ngoặt quyết định trong lịch sử cứu độ đã xảy ra. Từ nay con người chỉ có thể hiệp thông với Thiên Chúa và đón nhận tình yêu của Thiên Chúa qua trung gian Đức Giê-su. Với tư cách là Đấng trung gian duy nhất, Đức Giê-su ban điều răn mới cho các môn đệ.

(3) Đối tượng tình yêu trong Cựu Ước là Đức Chúa “yêu mến ĐỨC CHÚA” (Đnl 6,5). Còn trong Tin Mừng, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ “yêu mến Người và giữ các điều răn của Người” (Ga 14,15-23), “ở lại trong tình yêu của Người” (15,9-10). Ai yêu mến Đức Giê-su sẽ được Chúa Cha yêu mến (14,21.23; 16,27). Như thế “yêu mến ĐỨC CHÚA” trong Cựu Ước, trở thành “yêu mến Đức Giê-su” trong Tân Ước. Những điều mới mẻ này làm cho “điều răn mới” trong Tin Mừng Gio-an đánh dấu giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ.

    3. “Điều răn mới” là “điều răn cũ” trong các thư Gio-an

Trong truyền thống Gio-an (Tin Mừng và ba thư), “điều răn mới” (Ga 13,34) có vị trí đặc biệt. Tác giả thư thứ nhất Gio-an nói về điều răn mới (Ga 13,34) bằng cách chơi chữ “cũ - mới”. Tác giả viết ở 1Ga 2,7-8: “7 Anh em thân mến, không phải một điều răn mới (entolên kainên) tôi viết cho anh em, nhưng một điều răn cũ (entolên palaian) mà anh em đã có từ khởi đầu. Điều răn cũ ấy (hê entolê hê palaia) là lời mà anh em đã nghe. 8 Tuy nhiên, đó là một điều răn mới (entolên kainên) tôi viết cho anh em, – điều ấy là sự thật nơi Người và nơi anh em – vì bóng tối đang đi qua và ánh sáng thật đã tỏa sáng rồi.” Trong thư thứ hai Gio-an, tác giả viết ở 2Ga 4-6: “4 Tôi rất vui mừng vì đã tìm thấy trong số con cái của Bà, những người bước đi trong sự thật, như điều răn (entolên) chúng ta đã nhận được từ nơi Cha. 5 Thưa Bà, bây giờ tôi xin Bà điều này – đây không phải là một điều răn mới (entolên kainên) tôi viết cho Bà, nhưng là điều răn chúng ta đã có từ khởi đầu – là chúng ta yêu mến nhau (hina agapômen allêlous). 6 Đây là tình yêu: Chúng ta sống theo các điều răn (tas entolas) của Người. Đây là điều răn (hê entolê) như anh em đã được nghe từ khởi đầu: Anh em sống trong tình yêu.” Những kiểu nói: “Điều răn mới”, “điều răn cũ” và “yêu mến nhau” ở 1Ga 2,7-8 và 2Ga 5 gợi đến “điều răn mới” trong Tin Mừng Gio-an (Ga 13,34; 15,12).

Vào thời điểm các thư Gio-an được viết ra, điều răn yêu thương trong Tin Mừng vừa “cũ” lại vừa “mới”. Nội dung thư thứ nhất Gio-an cho thấy khủng hoảng trầm trọng đã xảy ra ngay giữa cộng đoàn các môn đệ, nguyên nhân là do cách hiểu khác nhau về căn tính của Đức Giê-su. Vấn đề sai lạc Ki-tô học ở đây là tách rời nhân tính và thiên tính của Đức Giê-su (x. 1Ga 2,21-22; 4,2-3). Xem bài viết: “Chia rẽ và hiệp thông, sự thật và dối trá (1Ga).” Trong bối cảnh đó, tác giả kêu gọi cộng đoàn hiệp thông và sống điều răn yêu thương. Điều răn này không phải là điều răn mới, bởi vì đã có ngay từ khởi đầu, từ lúc cộng đoàn được thành lập. Vì thế, tác giả viết ở 1Ga 2,7b: “Điều răn cũ (entolên palaian) mà anh em đã có từ khởi đầu.” Thư thứ hai Gio-an cũng dùng kiểu nói này: Đó là điều răn “mà chúng ta đã có từ lúc khởi đầu” (2Ga 5b).

Cách chơi chữ “cũ - mới” trong thư thứ nhất Gio-an đề cao “điều răn mới”. Thật vậy, trước hết tác giả viết: “Không phải một điều răn mới tôi viết cho anh em, nhưng một điều răn cũ” (1Ga 2,7a). Kế đến, tác giả nhắc lại: “Điều răn cũ ấy là lời mà anh em đã nghe” (1Ga 2,7b). Cuối cùng, tác giả kết luận cách nghịch lý: “Nhưng đó cũng là một điều răn mới tôi viết cho anh em” (1Ga 2,8a). Khi nhấn mạnh tính chất “cũ” của điều răn, tác giả cho biết là không nói điều gì mới mà chỉ nhắc lại điều đã có từ khởi đầu. Tác giả lá thư dựa vào mặc khải trong Tin Mừng để kêu gọi hiệp thông ở 1Ga 1,3: “Điều chúng tôi thấy và chúng tôi nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em, để chính anh em cũng có sự hiệp thông với chúng tôi. Sự hiệp thông của chúng tôi với Cha và với Con của Người, Đức Giê-su Ki-tô.” Sự hiệp thông này dựa trên điều răn yêu thương trong Tin Mừng (Ga 13,34; 15,12). Đồng thời “điều răn cũ” là “điều răn mới” (1Ga 2,7-8), vì đây là tên gọi của điều răn trong Tin Mừng. Đức Giê-su nói với các môn đệ ở Ga 13,34a: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới (entolên kainên)...” Tóm lại, “điều răn cũ” là cũ về thời gian, vì đã có ngay từ đầu, nhưng lại là “điều răn mới” vì đây là tên gọi của điều răn yêu thương.

    4. Điều răn của Đức Giê-su

Trong Tin Mừng Nhất Lãm (Mt 22,36-40 // Mc 12,28-34 // Lc 10,25-28), Đức Giê-su lấy lại các điều răn của ĐỨC CHÚA trong Cựu Ước (Đnl 6,5; Lv 19,18b). Còn trong Tin Mừng Gio-an, chính Đức Giê-su ban điều răn yêu thương cho các môn đệ. Đồng thời đó là điều răn của Người chứ không phải của ai khác. Người nói với các môn đệ ở Ga 13,34a: “Thầy ban cho (didômi) anh em một điều răn mới:...” và ở 15,12a: “Đây là điều răn của Thầy (hê entolê hê emê):...” Đây là điều răn của Đức Giê-su chứ không phải của ĐỨC CHÚA. Nói đúng hơn, Đức Giê-su đã lãnh nhận điều răn từ nơi Cha và Người ban cho các môn đệ như Người nói ở Ga 12,49-50: “49 Vì chính Tôi đã không nói tự mình, nhưng là Cha, Đấng đã sai Tôi, chính Người cho Tôi mệnh lệnh (entolên) để Tôi nói điều gì và tuyên bố điều gì. 50 Và Tôi biết rằng: Mệnh lệnh (hê entolê) của Người là sự sống đời đời. Vậy những điều Tôi nói, thì như Cha đã nói với Tôi thế nào, Tôi nói như vậy.” Danh từ “mệnh lệnh” ở 12,49-50 tiếng Hy-lạp là“entolê”, từ này được dùng ở 13,34; 15,12 để nói về “điều răn” yêu thương.

Như thế “Anh em hãy yêu mến nhau như Thầy đã yêu mến anh em” (13,34; 15,12) là điều răn của Đức Giê-su và chính Người đã ban cho các môn đệ. Đây là những đặc điểm Ki-tô học quan trọng của “điều răn mới”. Với tư cách là “người sở hữu” và là “người ban” điều răn, Đức Giê-su được đặt song song với ĐỨC CHÚA là đấng sở hữu và ban các điều răn cho dân Ít-ra-en trong Cựu Ước.

    5. Cách thức yêu thương trong điều răn mới

Vế thứ hai của điều răn mới: “...như (kathôs) Thầy đã yêu thương anh em” (13,34c; 15,12c) chỉ ra cách thức yêu thương. Từ “như” (kathôs) trong điều răn yêu thương (13,34; 15,12) có nghĩa thần học, diễn tả “nền tảng” (le fondement), “nguồn gốc” (l’origine) và “nguồn mạch” (la source) tình yêu của các môn đệ dành cho nhau. Nói cách khác, từ “như” (kathôs) vừa khẳng định tình yêu Đức Giê-su dành cho các môn đệ, vừa là nền tảng, là nguồn mạch cho các môn đệ trong hành động “yêu thương lẫn nhau”. Vậy tình yêu của Đức Giê-su liên lỷ “sinh ra” (engendre) tình yêu giữa các môn đệ. “Yêu thương lẫn nhau” giữa các môn đệ chỉ có thể hiện hữu “trong”, “nhờ” và “với” tình yêu của Đức Giê-su dành cho họ.

Theo cách hiểu trên, mệnh đề thứ hai của điều răn:  “...như Thầy đã yêu thương anh em” (13,34c; 15,12c) là yếu tố cấu thành và không thể tách khỏi mệnh đề thứ nhất: “Anh em hãy yêu thương nhau” (13,34b; 15,12b). Nếu không có mệnh đề thứ hai thì mệnh đề thứ nhất cũng không còn ý nghĩa. Mệnh đề thứ hai làm rõ bản chất của “yêu thương lẫn nhau” qua hai yếu tố: (1) cách thức yêu thương: yêu thương nhau “như” (bằng, với) tình yêu của Đức Giê-su; (2) nền tảng của tình yêu: yêu thương nhau luôn đặt trên nền tảng tình yêu của Đức Giê-su được Người định nghĩa ở 15,13: “Không ai có tình yêu cao cả hơn người đã hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu của mình.”

Vậy “điều răn mới” là điều răn Đức Giê-su ban cho các môn đệ và chỉ dành cho họ mà thôi. Bởi vì họ được mời gọi yêu thương nhau bằng tình yêu mà Đức Giê-su đã dành cho họ. Chỉ người tin mới cảm nhận và sống tình yêu của Đức Giê-su dành cho mình và yêu thương nhau bằng tình yêu ấy. “Yêu thương nhau như Đức Giê-su đã yêu thương” là dấu chỉ tuyệt hảo để mọi người nhận ra người ấy là môn đệ Đức Giê-su, đồng thời giúp phân biệt “tình yêu” trong “điều răn mới” với các thứ tình yêu khác như “yêu mến bóng tối” (3,19) hay “yêu mạng sống mình” (12,25). Xem “tình yêu nẩy sinh sự sống” và “tình yêu dẫn đến sự hư mất” trong bài viết: “Đề tài tình yêu và tình bạn (TM Gio-an).”

Kết luận

Phân tích về điều răn yêu thương trong Cựu Ước, trong Tin Mừng Nhất Lãm, nhất là “điều răn mới” trong truyền thống Gio-an (Tin Mừng và ba thư), giúp phân biệt ba điều răn yêu thương trong Kinh Thánh:

(1) Điều răn yêu thương thứ nhất trong Cựu Ước là điều răn kép: “Yêu mến ĐỨC CHÚA” (Đnl 6,5) và “yêu thương người thân cận như chính mình” (Lv 19,18). Trong đó, “người thân cận” là đồng bào Ít-ra-en.

(2) Điều răn yêu thương thứ hai trong Tân Ước lấy lại điều răn kép trong Cựu Ước trên đây và mở rộng định nghĩa về người thân cận. Đó là tất cả mọi người, không loại trừ bất kỳ ai. Các môn đệ được mời gọi sống điều răn yêu thương và làm cho mình trở thành người thân cận của người khác.

(3) Điều răn yêu thương thứ ba là “điều răn mới” trong Tin Mừng Gio-an: yêu thương nhau như Đức Giê-su đã yêu thương (Ga 13,34; 15,12). Điều răn này vừa nối kết, vừa  mới mẻ so với Cựu Ước: Nối kết với Cựu Ước vì “điều răn mới” bắt nguồn từ tình yêu giữa Đức Giê-su và Cha của Người (Ga 10,18; 12,49.50; 15,9-10). Mới mẻ so với Cựu Ước qua bốn ghi nhận sau: (a) Tình yêu giữa các thành viên dân Chúa trong Cựu Ước (yêu thương người thân cận) nay trở thành tình yêu giữa các môn đệ Đức Giê-su (yêu mến nhau). (b) “Yêu thương người thân cận như chính mình” (Lv 19,18b) trở thành “yêu thương nhau như Đức Giê-su đã yêu thương” (Ga 13,34; 15,12). (c) Điều răn của ĐỨC CHÚA (Lv 19,18b) nay trở thành điều răn của Đức Giê-su (Ga 15,12). (d) yêu mến ĐỨC CHÚA trong Cựu Ước, nay trở thành yêu mến Đức Giê-su (Ga 14,15-21) trong Tân Ước.

Như thế, “điều răn mới” trong Tân Ước đi xa hơn, mở rộng hơn so với điều răn yêu thương trong Cựu Ước. Đức Giê-su ban điều răn mới cho các môn đệ và điều răn này chỉ dành cho người tin. Sống và thực hành điều răn mới là lời chứng tuyệt vời về tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại và về tình yêu của người môn đệ dành cho Đức Giê-su. Xem phân tích chi tiết về “điều răn yêu thương” trong tập sách Tình yêu và tình bạn trong Ga 15,9-17, tr. 97-180./.


14 nhận xét:

  1. Hơi khó thực hiện điều răn này cha nhỉ ?Yêu như Chúa Giê su yêu...
    Như vậy là cả với người hành hạ mình, làm khổ mình, sỉ nhục mình ... mình cũng vẫn cứ yêu thương ? Với con, mỗi khi nhìn thấy người đã gây đau khổ cho con tự nhiên con muốn tránh mặt vì không muốn người ta làm con đau lần nữa. Bạn con vẫn chọc con là : Tha nhưng không quên !
    Con đọc đi đọc lại bài của cha để thấy Chúa yêu con quá mà con thì chưa dám yêu như Chúa yêu, vẫn còn phân biệt đối xử ...
    Cám ơn bài viết của cha.

    Trả lờiXóa
  2. “Thực hiện điều răn yêu thương”, không phải là hơi khó mà là khó thực sự. Cần nhờ ơn Chúa để sống nó suốt cả đời mình. Điều độc đáo trong “điều răn mới” là “yêu thương LẪN NHAU”. Nghĩa là tình thương đến từ hai phía. Trong thực tế, không ai có thể ép buộc người khác thương mình. Chúa cũng không ép buộc con người sống điều răn yêu thương. Tình yêu tự nó là không thể ép buộc, yêu thương đúng nghĩa là yêu thương trong tự do.

    Điều răn yêu thương, điều răn mới mà Đức Giê-su ban tặng là một món quà lớn cho người môn đệ. Đây là thứ tình yêu có sức giải thoát con người khỏi hận thù, ghen ghét. Người sống điều răn yêu thương sẽ có bình an và niềm vui của Chúa. Điều quan trọng không phải là thực hiện điều răn, nhưng sống điều răn ấy theo khả năng của mình.

    Trong cách nói “Tha nhưng không quên” không có gì trái với điều răn yêu thương cả. Làm sao có thể quên được những bài học xương máu. Hơn nữa, cần nhớ những bài học ấy để hiểu ta và hiểu người hơn. Tuy nhiên, dù người ta có làm khổ mình đến đâu đi nữa, mình vẫn không nuôi hận thù trong lòng, như thế là đã bắt đầu sống điều răn yêu thương rồi vậy./.

    Trả lờiXóa
  3. Bài: "Ba điều răn yêu thương trong Kinh Thánh" cha đã phân tích thật rõ trong Cựu Ước và Tân Ước, nhất là trong truyền thống Gioan, giúp con hiểu biết sâu hơn và xác tín hơn về giới răn này. Với cái nhìn nội tâm nhờ Thần Khí, người theo Đức Giêsu có thể lượng giá về lối sống của chính mình xem có thực là môn đệ của Đức Giêsu không. Bởi "yêu thương nhau như Đức Giêsu đã yêu thương" thì cao cả và tuyết đối lắm. Đó là tình yêu hiến tế mà đỉnh yêu thương là Núi Sọ! Điều này thật khó, nhưng con hiểu rằng "Tin Mừng đòi lột xác" để trở thành chứng nhân cho Đấng đã yêu thương cho đến cùng, nhờ sự trợ lực của ân sủng Chúa.
    Cám ơn Cha đã làm rất tốt nhiệm vụ của người hướng dẫn những ai muốn bước vào đồng cỏ xanh tươi mầu mỡ của Lời Chúa. Phần độc giả là cố gắng đừng bỏ lỡ cơ hội, kẻo ai biết ý chủ mà không thực hiện thì "bị đòn" nhiều hơn.
    Xin Chúa chúc lành cho cha.

    Trả lờiXóa
  4. Tuần qua là tuần kiểm tra cuối khóa những môn con học ở TTMV. Con làm bài không tệ lắm nhưng chờ cha giáo chấm điểm xong mới biết kết quả.
    Đọc những gì cha phân tích con vui lắm vì con hiểu hơn chữ " LẪN NHAU"... Tình yêu thương phải tự do, không ép buộc... ( tại có người thương con nhưng con hoàn toàn không có chút cảm tình nào với người đó, con sợ con mắc lỗi vì không biết sống yêu thương như Chúa dạy, bây giờ con hiểu rồi cha ạ, không sợ nữa.)
    Con cũng không nuôi hận thù với ai cả vì con nghĩ đơn giản : Chúa biết! Vậy là con đang sống điều răn yêu thương rồi cha nhỉ ?
    Cám ơn những phân tích thấu tình, đạt lý của cha

    Trả lờiXóa
  5. Cám ơn cha thật nhiều về "Ba điều răn yêu thương trong KT".
    Tình yêu thật quan trọng và cần thiết như nhịp đập con tim, như hơi thở cuộc sống!
    cuộc sống hàng ngày, vợ chồng phải chung thủy; người tu sĩ luôn trung thành với lý tưởng ơn gọi của mính.Nhưng trong cuộc sống, cũng có lối rẽ bên đường làm cho lo âu. Đôi lúc tình cảm dịu dàng khiến lòng phải bâng khuâng. Nếu cuộc sống không có lối rẽ, không có nụ cười duyên dáng thì tình yêu trong hôn nhân cũng như lý tưởng của người tu sĩ không còn biết cố gắng phấn đấu nữa, vì chẳng còn gì lựa chọn để tiếp tục lựa chon. T Phải chăng, nhờ có lối rẽ bên đường, tình cảm dịu dàng làm tăng khả năng tự do lựa chọn, phải dừng lại tự hỏi lòng mình, phải cố gắng chung thủy và trung thành.Lúc hỏi lại lòng, lúc phấn đấu là lúc tình yêu dành cho người yêu, dành cho lý tưởng ơn gọi của mình mặm nồng, sâu đậm hơn, phải vậy, thưa cha?

    Trả lờiXóa
  6. Đúng như vậy, tình yêu đích thực hàm ẩn sự trung tín và chung thủy. Nhưng để có thể sống trung tín và thuỷ chung thì không đơn giản. Mọi thứ ta gặp trên đường đều có thể làm ta đi trệch hướng, dẫn đến lạc hướng. Sự cuốn hút và hấp dẫn của “lối rẽ bên đường” của “tình cảm dịu dàng” có thể trở thành tiêu cực khi nó làm ta bất an, nhưng có thể trở thành tích cực khi nó làm ta xác tín hơn con đường mình đã chọn.

    Tốt nhất là nhận ra nét hay, nét đẹp của mỗi con đường. Cha ông ta có câu: “Đứng núi này trông núi nọ” theo nghĩa răn dạy, nghĩa là không nên làm như thế. Lời nói này phù hợp với thực tế đời người, bởi vì người tu hành thì thấy đời sống lứa đôi sao hấp dẫn quá. Người lập gia đình thì bảo “Tu là cõi phúc tình là dây oan” hay “Không gì sướng bằng đi tu”.

    Theo ý tưởng tích cực của Josepphin, xin giải thích cách tích cực câu “Đứng núi này trông núi nọ” như sau: Sống trong cuộc đời, ai cũng đứng “núi này” trông “núi nọ”. Nhưng trông “núi nọ” để thấy “núi này” là chỗ đứng tốt nhất cho ta. “Núi nọ” rất đẹp, rất hấp dẫn nhưng “núi này” hợp với ta hơn, “núi này” mang lại hạnh phúc cho ta hơn. Tóm lại, núi nào cũng đẹp vấn đề là núi nào đẹp hơn cho ta. Cần có “núi nọ” để thấy “núi này” là núi của ta, để lựa chọn và xác tín hơn sự lựa chọn của mình. Hơn nữa, nếu tương quan tốt với “núi nọ” thì “núi nọ” có thể làm cho cuộc sống của “núi này” đẹp hơn và có ý nghĩa hơn.

    Như thế, để trung tín và chung thủy trong tình yêu, trung tín và thủy chung với con đường mình đang đi là một sự lựa chọn liên lỷ suốt cuộc đời. Khi thực sự yêu thương, con người có thể chấp nhận trả giả đắt: chính mạng sống mình, để bày tỏ tình yêu và lòng trung tín./.

    Trả lờiXóa
  7. cảm ơn về bài chia sẻ của Cha, Cha ơi thế giới ngày nay rất cần tình yêu đích thực, vì chính tình yêu này sẽ đem lại sự bình yên mà ĐỨC GS KITO nói đến

    Trả lờiXóa
  8. Cha ơi "yêu thương lẫn nhau" và tình yêu bao hàm sự tự do, tự nguyện. Thế nhưng, đời hôn nhân có khi "chỉ đẹp khi còn dang dở" lấy nhau rồi thì chỉ nếm mùi "dập mật".

    Hai người dù không ly hôn nhưng chỉ toàn gây khổ cho nhau bằng cách không nói với nhau lời nào, hoặc tìm cách đi suốt hay có nói thì toàn lời khó nghe, nhân vật nữ trong chuyện là người đau hơn cả.

    Vây theo cha có cách nào để hàn gắn? Thời nay có thể có Mônica không khi Giáo Hội dạy hôn nhân không thế phân ly?

    Trả lờiXóa
  9. Những khó khăn này thuộc lãnh vực hôn nhân và gia đình, Kim Nhung có thể bàn hỏi với những người chuyên môn trong lãnh vực này. Chỉ xin gợi lên vài ý như sau. Lời dạy của Đức Giê-su về lòng mến vẫn luôn có giá trị, lời mời gọi yêu thương và tôn trọng nhau càng thiết thực hơn trong hoàn cảnh khó khăn.

    Muốn hàn gắn phải có "keo". Có thể làm ra “keo” bằng cách đừng làm khổ nhau nữa. Tôn trọng và nhận ra sự giới hạn của nhau. Nhớ lại tình yêu thuở ban đầu để cùng nhau xây dựng một điều gì đó. Thay vì đòi hỏi nhau thì hãy làm gì đó cho nhau, dù rất nhỏ.

    Nếu đã có “keo” mà chưa hàn gắn được cũng chẳng sao. Tình yêu không thể ép buộc mà cũng không thể đi xin. Hãy sống là mình và can đảm đón nhận cuộc sống. Những đau khổ sẽ làm cho mình lớn lên và trưởng thành hơn. Vả lại, trong cuộc đời này còn nhiều thứ để có thể hy vọng vào tương lai. Nếu như cả hai bên tôn trọng nhau, để dần dần dám chấp nhận sự thật về nhau thì đã là một bước tiến rất xa rồi./.

    Trả lờiXóa
  10. Rất cám ơn những gợi ý của cha, nó có thể áp dụng cho mọi khát vọng hàn gắn.

    Có lẽ con không cần gợi lên thêm những thắc mắc với ai nữa, bởi cuộc sống đầy tràn những điều "quá" với sức người. Mỗi người mỗi cảnh, ẩn sâu trong đó là những lắt léo, khó giải gỡ, con thiết nghĩ, như thánh Phaolô "Ơn Thầy luôn đủ cho con" và như lời cha nói "Những đau khổ sẽ làm cho mình lớn lên và trưởng thành hơn... cuộc đời này còn nhiều thứ để có thể hy vọng"...

    Dẫu biết rằng nỗ lực cố gắng phải bắt đầu từ cả hai thì "keo" mới mong dính được. Nhưng cho dù thế nào thì cũng cứ phải nỗ lực bằng mọi cách đúng không cha?

    Con thương lắm những người vợ bất hạnh trong hôn nhân!

    Trả lờiXóa
  11. Trong hoàn cảnh éo le, phức tạp và tế nhị, những điều trong tầm tay có thể làm là đọc Lời Chúa, tin tưởng và phó thác vào tình thương quan phòng của Cha trên trời, sống lời Đức Giê-su dạy: “yêu người thân cận”, “yêu kẻ thù”, “yêu thương nhau” mà không ngồi chờ người khác yêu thương mình trước. Nhờ thế, tâm hồn mình được thanh thản để đón nhận niềm vui, bình an và sức mạnh của Chúa, hầu vượt qua thử thách. Có thể đọc thêm cuốn sách KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP cho các môn đệ để có thêm ý tưởng.

    Trả lờiXóa
  12. Con không biết nói gì thêm ngoài hai tiếng "cám ơn" chân thành gởi đến cha.

    Những lời chia sẻ, chỉ dẫn của cha khích lệ con rất nhiều.

    Ngày qua tháng lại, sức người như không thể và rất khó để trung thành trước những cám dỗ bỏ cuộc, dẫu đã nhủ lòng là quyết đi đến cùng...

    Con sẽ ghi nhớ và cố gắng làm "những điều trong tầm tay".

    Xin một lời cầu nguyện cho những ai đang nản lòng!

    Trả lờiXóa
  13. Xin hiệp ý cầu nguyện cho những ai đang gặp nghịch cảnh, khó khăn.Rất cảm thông và mong dù thế nào đi nữa vẫn giữ được niềm tin,tình yêu và hy vọng vào tương lai tốt đẹp hơn. Một cánh cửa đóng lại sẽ có nhiều cánh cửa khác mở ra.Sau cơn mưa trời lại sáng ...Can đảm và kiên cường hơn trong Chúa !!!

    Trả lờiXóa
  14. Cầu nguyện là đặt đời mình trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa, cầu nguyện là hiệp thông với nhau, vui với người vui, khóc với người khóc (Rm 12,15). Cầu nguyện là chia sẻ niềm vui, chia sẻ nỗi đau của nhau, vì người tin vừa là anh chị em với nhau vừa là con cái của Cha trên trời. Cầu nguyện tạo nên sức mạnh tâm linh và giúp thoát khỏi bế tắc, cô độc. Cầu nguyện là tin vào tình thương của Chúa và tin vào sức mạnh của Người. Vì thế, chúng ta hãy hiệp thông với nhau bằng cách cầu nguyện cho nhau./.

    Trả lờiXóa