Hiển thị các bài đăng có nhãn Giải đáp thắc mắc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giải đáp thắc mắc. Hiển thị tất cả bài đăng

19/03/2020

Đấng Pa-rác-lê là ai? (TM Gio-an)


Email: josleminhthong@gmail.com
Cập nhật, ngày 19 tháng 03 năm 2020.


Nội dung

Dẫn nhập
I. Tại sao dùng từ “Đấng Pa-rác-lê”?
    1. “Paraklêtos” trong Tin Mừng và cách dịch
    2. Paraklêtos trong văn chương Hy-lạp
    3. Chuyển âm Hy-lạp sang tiếng Việt: “Đấng Pa-rác-lê”
II. Sứ vụ và vai trò Đấng Pa-rác-lê trong Tin Mừng
    1. Ga 14,15-17. lại mãi mãi với các môn đệ
    2. Ga 14,25-26. Dạy và làm cho nhớ lại
    3. Ga 15,26-27. Làm chứng trướctrong các môn đệ
    4. Ga 16,7-11. Chứng minh thế gian sai lầm
    5. Ga 16,12-15. Dẫn đường, loan báo, tôn vinh
Kết luận

13/10/2013

Bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh dùng trong Hội Thánh Công Giáo



Có thể kể đến ba bản dịch:
1- Bản dịch Revised Standard Version - Second Catholic Edition, 2006 (RSV-SCE). Online:
http://honlam.org/rsvce/index.html
Bản dịch này có thể dùng để học hỏi Kinh Thánh.

2- Bản dịch New American Bible, Revised Edition, 1991 – Present (NAB-RE). Online: http://usccb.org/bible/books-of-the-bible/
Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ dùng trong Phụng vụ.

3- Bản dịch New Jerusalem Bible (NJB). 
Online http://www.catholic.org/bible/

Có thể tìm hiểu thêm về các bản bản dịch này trên Web.
Xem các bản gốc Kinh Thánh và các dịch khác tại mục:
Bản văn KINH THÁNH.

Ngày 12 tháng 10 năm 2013.
Giuse Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com



01/04/2012

Có thể dùng TỰ ĐIỂN và SÁCH CHÚ GIẢI bằng tiếng Anh nào để học hỏi và nghiên cứu Kinh Thánh?



Có nhiều bộ tự điển và sách chú giải Kinh Thánh bằng tiếng Anh có giá trị có thể dùng để học hỏi và nghiên cứu Kinh Thánh. Tự Điển (Dictionary) và Sách Chú Giải (Commentary) có thể chia làm hai loại:
1) Loại nhỏ (đại cương) là tự điển Kinh Thánh hay chú giải toàn bộ Kinh Thánh trong khoảng 1000 đến 2000 trang.
2) Loại lớn (chi tiết) là tự điển Kinh Thánh hay chú giải toàn bộ cuốn Kinh Thánh từ 3-4 cuốn, đến 30-40 cuốn, có thể mỗi sách Kinh Thánh được chú giải bằng một cuốn sách.

Phần sau đây sẽ liệt kê một số tự điển và sách chú giải bằng tiếng Anh theo phân loại trên: (I) Dictionary: 1. General Dictionary, 2. Big Dictionary. (II) Commentary: 1. General Commentary. 2. Collection of Commentary. 3. Other Commentary.


BIBLE DICTIONARY AND COMMENTARY

I. DICTIONARY

1. General Dictionary

ACHTEMEIER, Paul J., (Ed.), Harper’s Bible Dictionary, (With the Society of Biblical Literature [SBL]), San Francisco (CA),  Harper & Row Publishers, 1985, 1178 p.

WIGODER, Geoffrey, (Ed.), The Illustrated Dictionary & Concordance of the Bible, New York (NY), Sterling Publishing, 2005 (1986),1037 p.

2. Big Dictionary

BALZ, Horst; SCHNEIDER, Gerhard, Exegetical Dictionary of the New Testament, (3 volumes), Grand Rapids, (Michigan), William B. Eerdmans Publishing Company, 1993. (Originally published as Exegetisches Wörterbuch zum Neuen Testament Band I, Lieferungen 1-9 Copyright © 1978-80 by Verlag W. Kohlhammer GmbH, Stuttgart, West Germany).

BROMILEY, Geoffrey W. (Ed.), International Standard Bible Encyclopedia, (Fully Revised, Illustrated, In Four Volumes), Grand Rapids (Michigan), William B. Eerdmans Publishing Company, [1986], Reprinted, 1992.

FREEDMAN, David Noel, (Ed.), The Anchor Yale Bible Dictionary, (6 volumes), New York, Doublelay, 1992.

KITTEL, Grehard, (Ed.), Theological Dictionary of the New Testament, (10 volumes), Translated by Geoffrey W. Bromiley. Grand Rapids, (Michigan), William B. Eerdmans Publishing Company, 1964-1976.

II. COMMENTARY

1. General Commentary

BERGANT, Dianne, (Ed.), The Collegeville Bible Commentary, Old Testament, (Based on the New American Bible), Collegeville (Minnesota), The Liturgical Press, 1992, 1-857 p.; KARRIS, Robert, J., (Ed.), The Collegeville Bible Commentary, New Testament, (Based on the New American Bible), Collegeville (Minnesota), The Liturgical Press, 1992, 861-1300 p.

BROWN, R. E., FITZMEYER, J. A., MURPHY, R. E., (Eds.), The New Jerome Biblical Commentary, New Jersey, Prentice Hall, 1990 [1968: The Jerome Biblical Commentary], 1484 p.

FARMER, W. R., (Ed.), The International Bible Commentary, A Catholic and Ecumenical Commentary for the Twenty-First Century, Collegeville (Minnesota), The Liturgical Press, 1998, 1934 p.

MAYS, James, L., (Ed.), Harper’s Bible Commentary, (With the Society of Biblical Literature), New York (NY),  HarperCollins Publishers, 1988, 1326 p.

2. Collection of Commentary

Sacra Pagina Series (Commentary of New Testament) [18 volumes]
HARRINGTON, Daniel, (Editor), 
Collegeville (MN), The Liturgical Press.

The Anchor Bible (Yale) Commentary [44 volumes]
New York (NY), Doubleday.

The New International Greek Testament Commentary [13 volumes]
MARSHALL, I. Howard; HAGNER, Donald A., (Editors),
Grand Rapids (MI), William B. Eerdmans Publishing Company.

The New Interpretation’s Bible [12 volumes]
Nashville (TN), Abingdon Press.

Độc giả có thể tìm hiểu chi tiết từng cuốn một của các bộ tự điển và chú giải này trên Internet.

3. Other Commentary

Ngoài ra còn có các sách chú giải Kinh Thánh của những tác giả khác không ở trong các bộ sưu tập (collections). Chẳng hạn:

KEENER, C. S., The Gospel of John. A Commentary, (2 volumes), Peabody (MA), Hendrickson Publishers, 2003, 1636 p.

schnaCkenburg, R., The Gospel According to St. John, vol. I: Introduction and Commentary on Chapter 1–4, (1965), 1987, 638 p.; vol. II: Commentary on Chapter 5–12, (1971), 1987, 556 p., New York, Crossroad Publishing Company; vol. III: Commentary on Chapters 13–21, (1975), 1988, 510 p., (HTC.NT), London, Burns & Oates. (Orig. Das Johannesevangelium).


Trên đây là một số tự điển và sách chú giải quan trọng, còn nhiều bộ tự điển và các sách chú giải Kinh Thánh khác nữa. Điều cần chú ý là lượng định giá trị của chúng khi sử dụng làm tài liệu để học hỏi và nghiên cứu Kinh Thánh.


Ngày 01 tháng 04 năm 2012.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com

04/03/2012

Thể văn MIDRASH của sách KINH THÁNH là thể văn gì?


1. Định nghĩa

Thuật ngữ MIDRASH là tiếng Híp-ri có nghĩa là “xem xét” (examiner), “giải thích” (expliquer). Thể văn midrash là loại văn chương chú giải (exégèse) các sách Kinh Thánh của các thầy Ráp-bi (các thầy dạy trong Do Thái giáo). 

Đây là bộ Kinh Thánh Do Thái (la Bible Juive). Quy điển (canon) Kinh Thánh Do Thái giáo gồm phần lớn các sách Cựu Ước Ki-tô giáo, ngoại trừ các sách sau đây: Tô-bi-a, Gui-đi-tha, Khôn ngoan, Huấn ca, Ba-rúc, 1-2 Ma-ca-bê và một số đoạn văn trong sách Ét-te và Đa-ni-en. Do Thái giáo không nhận những sách này vào quy điển Kinh Thánh.

Thể văn midrash có thể xuất hiện dưới dạng bản văn giải thích Kinh Thánh theo từng câu và được chia thành hai loại: “Midrash aggadique” và “Midrash halakique”.

2. Midrash aggadique

Midrash aggadique là những lời giải thích Kinh Thánh của các Ráp-bi trong hội đường, trong hoàn cảnh đặc biệt của dân tộc (như chiến tranh, đói kém), hay trong những dịp lễ của dân chúng (như lễ cắt bì, đám cưới, đám tang…). Đôi khi có những yếu tố huyền thoại (légendaires) trong midrash aggadique. Thuật ngữ này chỉ nội dung những lời chú giải của các Ráp-bi liên quan đến các giáo huấn trong bản văn Kinh Thánh, nhằm giúp dân chúng áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể.

3. Midrash halakique

Midrash halakique là những lời giải thích các bản văn Kinh Thánh liên quan đến Luật (textes législatifs). Các Ráp-bi giải thích các khoản Luật ghi chép trong Kinh Thánh để dân chúng có thể áp dụng vào cuộc sống thường nhật. Mỗi thời đại có hoàn cảnh sống khác nhau, vì thế các khoản luật cần được giải thích và thích nghi với hoàn cảnh mới. Luật Mô Sê trong bộ Ngũ Thư (năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh: St, Xh, Lv, Ds, Đnl) được các Ráp-bi, giải thích và làm rõ để dân chúng tuân giữ gọi là midrash halakique, hay nói gọn là MIDRASH, bao gồm cả hai loại midrash trên.

4. Bản văn MIDRASH

Những bản văn midrash cổ nhất: chú giải một phần các sách Xuất Hành, Lê-vi, Dân số và Đệ Nhị Luật, có thể đã xuất hiện từ thế kỷ I-II (CN). Đối với các sách khác của Kinh Thánh, văn chương midrash được biên soạn và hoàn thành trong khoảng thế kỷ VI-XII. Hiện nay, hầu hết các sách Kinh Thánh đều có phần chú giải midrash và đã được in thành sách.

Xem mục từ “MIDRASH” và thư mục trong CENTRE INFORMATIQUE ET BIBLE ABBAYE DE MAREDSOUS, (dir.), Dictionnaire encyclopédique de la Bible, Turnhout, Brepols, 2002, (3è éd. rev. et aug.), p. 839.


Ngày 04 tháng 03 năm 2012.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

26/11/2011

H/Đ.PP. Có đoạn văn hay nhất trong Kinh Thánh không?


Hỏi:
Sau khi phân tích một đoạn văn, độc giả có thể nói đây là đoạn văn hay nhất được không?


Để đưa ra nhận định: “Đây là đoạn văn hay nhất”, chắn chắn độc giả đã dày công làm việc, áp dụng phương pháp học hỏi để phân tích đoạn văn. Từ đó độc giả đã khám phá ra những nét hay, nét độc đáo của bản văn, đã tìm ra phần nào ý nghĩa của bản văn, đã áp dụng chúng vào hoàn cảnh cụ thể trong cuộc sống của độc giả và cảm thấy điều đó là thú vị.

Cảm nhận đoạn văn mình đang phân tích là “đoạn văn hay nhất” là một bước tiến lớn trong quá trình ứng dụng phương pháp phân tích thuật chuyện và cấu trúc vào việc đọc Kinh Thánh. Có thể hiểu “hay nhất” ở đây là so với những gì độc giả đã đọc và đã hiểu từ trước cho đến lúc bấy giờ. Tuy nhiên, xét về phương pháp có thể mở rộng cái “hay” đến các đoạn văn khác. Nhờ đó độc giả sẽ cảm nhận được rằng: Đọc Kinh Thánh là một tiến trình suốt cả cuộc đời và còn nhiều điều hay, thú vị và độc đáo khác đang chờ đợi mình. Sau đây là hai ý giúp mở rộng cái “hay” của bản văn:

1) Có ba cấp độ so sánh: so sánh bằng (A = B), so sánh hơn (A cao/thấp hơn B), so sánh cấp cao nhất (A cao/thấp nhất). Nếu chưa phân tích kỹ các đoạn văn khác thì làm sao có thể so sánh được?

2) Thực ra không thể nói đoạn văn này hay hơn đoạn văn khác, vì mỗi đoạn văn vẽ lên một bức tranh độc đáo riêng. Mỗi đoạn văn đều có những chi tiết, những ý tưởng, những từ ngữ, và nhất là cách kể câu chuyện riêng biệt. Không một đoạn nào hoàn toàn giống một đoạn văn khác.

Chẳng hạn, năm đoạn văn về Đấng Pa-rác-lê trong Ga 14–16 là năm bức tranh độc đáo riêng. Năm bức tranh ấy làm nên đề tài “Đấng Pa-rác-lê trong Tin Mừng Gio-an”. Đây là đề tài hay và độc đáo riêng của Tin Mừng Gio-an, nhưng không thể nói đề tài này “hay hơn” hoặc “hay nhất” so với các đề tài khác. Bởi vì đề tài khác như “yêu và ghét”, “ánh sáng và bóng tối”… đều là những đề tài “rất quan trọng” và “rất hay” trong Tin Mừng Gio-an.

Tóm lại, có thể nói tất cả các đoạn văn đều hay, đều độc đáo. Còn có nhiều điều “hay” đang chờ độc giả khám phá. Tuy nhiên, có thể nói “thích đoạn văn này hơn đoạn văn khác”. Sở thích mang tính chủ quan, nên có thể so sánh để diễn tả sở thích riêng của mình. Tôi thích đoạn văn này hơn đoạn văn kia vì đoạn văn này phù hợp với ưu tư và tìm kiếm của tôi hơn...

Ước mong độc giả sau khi khám phá ra “nét hay”, “nét đẹp” của một đoạn văn sẽ mong muốn lên đường tìm hiểu và phân tích những đoạn văn khác. Dần dần độc giả sẽ nhận thấy rằng Kinh Thánh là một kho tàng và mỗi đoạn văn là một viên ngọc quý trong kho tàng ấy./.      


Ngày 27 tháng 11 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

17/11/2011

H/Đ-BV. Cấu trúc Ga 13–17


Hỏi:
 Có thể cấu trúc Ga 13–17 như dưới đây được không?
I. Dẫn nhập: 13,1: Đức Giêsu biết “giờ” của Người đã đến.
II. 13,2–16,33: Khủng hoảng và giải pháp để vượt qua khủng hoảng.
   1) 13,2–15,17: Khủng hoảng trong nội bộ các môn đệ và giải pháp.
   2) 15,18–16,4a: Khủng hoảng đến từ bên ngoài và giải pháp.
   3) 16,4b–16,33: Khủng hoảng vì Đức Giê su ra đi và giải pháp.
III. Kết thúc: Ga 17: Đức Giêsu ngỏ lời với Chúa Cha trước sự hiện diện của các môn đệ.

Phân chia “Đoạn văn Ga 15,18–16,4a: Khủng hoảng đến từ bên ngoài và những giải pháp” là chưa đủ, vì sự đối lập giữa các môn đệ với thế gian thù ghét đã xuất hiện trong Ga 14. Do đó, Ga 13,2–15,17 không chỉ là khủng hoảng nội bộ mà thôi. Đối lập “thế gian thì ghét - môn đệ” còn xuất hiện cuối chương 16 và giữa chương 17 nữa. Vì vậy, cấu trúc trên chưa nói lên được cách trình bày độc đáo của bản văn.

Đề nghị chia cấu trúc Ga 13–17 thành 2 phần lớn: Ga 13–14 và Ga 15–17 (Xem lý do trong trả lời liên hệ giữa Ga 14,31; 15,1 và 18,1 trên đây [01.H/Đ-BV. Ga 14,31; 18,1]). Trong phần Ga 15–17, chương 17 được tách ra vì Đức Giê-su ngỏ lời với Cha, không còn nói trực tiếp với các môn đệ nữa. Có thể cấu trúc Ga 13–17 theo đề nghị trong phần trích đoạn của cuốn sách Bản văn Gio-an TIM MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt.

Trong phần lý giải cấu trúc, chú ý 3 chi tiết: (1) 13,1 mở đầu chung cho Ga 13–17. (2) 14,31 kết thúc Ga 13–14 và (3) Ga 16,33 kết thúc đoạn văn 16,4b-32 và cũng là kết thúc của Ga 15–16. Xem trình bày về cấu trúc Ga 13–16 trong KHỦNG HOẢNG VÀ GIẢI PHÁP cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư.
Ngày 17 tháng 11 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

13/11/2011

H/Đ-BV. Ga 15,15b: “Làm cho biết”


Hỏi:
Đức Giê-su nói với các môn đệ ở 15,15b: “Thầy gọi anh em là bạn hữu,vì tất cả những gì Thầy nghe nơi Cha của Thầy,Thầy đã làm cho anh em biết”, (1) Tại sao Đức Giê-su đang “nói cho anh em biết” mà bản văn lại viết “làm cho anh em biết”? (2) Có phải câu này có hai động từ: “làm” và “biết” hay không?

(1) Đúng là trong mạch văn, Đức Giê-su đang nói với các môn đệ, nhưng kiểu nói “làm cho anh em biết” có nghĩa rộng hơn. Trong câu 15,15, điều làm cho các môn đệ trở thành “bạn hữu của Đức Giê-su” là vì tất cả những gì Đức Giê-su nghe nơi Cha của Người, Người đã làm cho các môn đệ biết. Kiểu nói “làm cho biết tất cả” này đã tóm kết toàn bộ sứ vụ của Đức Giê-su. Không chỉ mặc khải bằng lời nói, Đức Giê-su “làm cho các môn đệ biết” bằng chính cuộc đời của Người. Lời nói, giáo huấn, tranh luận, hành động, các dấu lạ và cách ứng xử của Đức Giê-su là cách thức Người “làm cho các môn đệ biết”. Người làm cho biết Chúa Cha, biết Đức Giê-su và biết con người phải làm gì để có sự sống đời đời. Xem phân tích Ga 15,15 trong Tình yêu và tình bạn trong Ga 15,9-17.

(2) Trong cụm từ “làm cho anh em biết” không phải là có hai động từ “làm” và “biết” mà chỉ có một động từ: “làm cho biết” (gnôrizô). Động từ này liên hệ với hai động từ Hy Lạp khác có nghĩa là “biết”: ginôskô và oida. Động từ “làm cho biết” (gnôrizô) chỉ xuất hiện 3 lần trong Tin Mừng Gio-an (15,15; 17,26a.26b) nhưng diễn tả ý tưởng thần học quan trọng. Thực vậy, Đức Giê-su đã làm cho các môn đệ biết tất cả những gì Người nghe nơi Cha của Người, nghĩa là vào cuối sứ vụ công khai, Đức Giê-su đã trao ban tất cả mặc khải cho các môn đệ, Người đã hoàn thành sứ vụ Cha giao phó (15,15). Tuy nhiên, sứ vụ “làm cho biết” này chưa kết thúc, vì trước khi bước vào cuộc Thương Khó, Đức Giê-su ngỏ lời với Cha của Người như sau: “Con đã làm cho họ biết (egnôrisa) danh của Cha, và Con sẽ còn làm cho họ biết (gnôrisô), để tình yêu mà Cha đã yêu mến Con ở trong họ và Con trong họ.” Như thế, sau khi Đức Giê-su về với Cha, Người vẫn tiếp tục làm cho các môn đệ biết, vẫn tiếp tục dạy các môn đệ qua Đấng Pa-rác-lê như Người đã nói với các môn đệ ở 14,26: “Đấng Pa-rác-lê (paraklêtos) sẽ dạy anh em tất cả và sẽ làm cho anh em nhớ lại tất cả những gì [chính] Thầy đã nói với anh em.” Xem vai trò của Đấng Pa-rác-lê Thần khí sự thật trongTin Mừng thứ tư.
 
Ngày 13 tháng 11 năm 2011. 
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
  

06/11/2011

H/Đ-PP. Làm những việc gì khi phân tích bản văn?




Hỏi:
Đã đọc bản văn nhiều lần và quan sát kỹ bản văn theo dàn bài này nhưng vẫn chưa thấy ý tưởng nào hay để tìm hiểu, vậy phải làm sao bây giờ?  


Ba công việc cần làm song song với nhau: (1) Tìm hiểu phương pháp phân tích, (2) Quan sát bản văn và (3) Đọc tài liệu (bằng tiếng Việt, Anh, Pháp.v.v...), đó là các sách nghiên cứu viết theo đề tài và các sách chú giải liên quan đến đoạn văn đang phân tích. Ba công việc này bổ túc cho nhau. Nhờ nắm vững phương pháp sẽ biết lượng giá những kiến thức trong các tài liệu. Nhờ tài liệu sẽ giúp quan sát bản văn tốt hơn và tìm được ý tưởng hay và phù hợp để tìm hiểu. 

Nguyên tắc làm việc là tận dụng tối đa những gì người khác đã suy nghĩ và đã khám phá ra. Phân tích xem tại sao các tác giả lại nói như thế, họ dựa vào đâu trong bản văn để đưa ra kết luận. Dựa vào phương pháp phân tích để xem kết luận của các tác giả có sức thuyết phục hay không. Có khả năng phê bình các tài liệu sẽ giúp xây dựng cách suy nghĩ riêng của mình, đồng thời giúp phân tích bản văn theo phong cách riêng, phù hợp với ưu tư và tìm kiếm của riêng mình. 

Ngày 06 tháng 11 năm 2011. 
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.


H/Đ-BV. Liên hệ giữa Ga 14,31; 15,1 và 18,1


Hỏi: 
Tại sao cuối Ga 14, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Hãy đứng dậy, chúng ta đi khỏi đây” (Ga 14,31) mà không thấy đi? Đức Giê-su tiếp tục nói với các môn đệ 2 chương (Ga 15–16) nữa, sau đó Người ngỏ lời với Cha 1 chương (Ga 17) mãi đến Ga 18,1 mới đi: “Nói những điều đó xong, Đức Giê-su đi ra cùng với các môn đệ của Người sang bên kia thung lũng Kít-rôn...” (Ga 18,1). Tại sao có Ga 15–17 và để làm gì? 


Đúng như vậy, theo mạch văn, Ga 14,31 liên tục với Ga 18,1. Tuy nhiên, tình trạng bản văn Tin Mừng Gio-an hiện nay cho thấy sách Tin Mừng được biên soạn qua nhiều giai đoạn khác nhau. Có ít nhất ba giai đoạn chính (xem “các giai đoạn hình thành Tin Mừng” trong Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư?, tr. 187-216). Có thể nghĩ rằng: Trước khi kết thúc sách Tin Mừng như độc giả có hiện nay, đã có một bản văn trong đó 14,31 nối liền với 18,1.

Sau quá trình suy tư và “đọc lại” (relecture) bản văn trong cộng đoàn Gio-an, tác giả sách Tin Mừng đã biên soạn Ga 15–17. Trong tiến trình đọc lại bản văn, Ga 15–17 đã triển khai và đào sâu các đề tài trong Ga 13–14, nhằm thích ứng với hoàn cảnh mới của cộng đoàn, đồng thời trong Ga 15–17 cũng xuất hiện một số đề tài mới như: “Các môn đệ bị thế gian thù ghét và bách hại” ở 15,18–16,4a (xem Yêu và ghét trong Tin Mừng Gio-an, tr. 163-293); “Vai trò và hoạt động của Đấng Pa-rác-lê” ở Ga 16,7-15 (xem Đấng Pa-rác-lê Thần khí sự thật trongTin Mừng thứ tư). Như thế, Ga 15–17 rất quý cho độc giả, vì đoạn văn này chứa đựng nhiều mặc khải quan trọng về bốn mối tương quan chính: (1) Tương quan giữa Đức Giê-su với Cha của Người; (2) Tương quan giữa Đức Giê-su với các môn đệ; (3) Tương quan giữa các môn đệ với thế gian; và (4) Tương quan giữa các môn đệ với nhau.

Sách Tin Mừng Gio-an không chú trọng đến sự hợp lý trong cách sắp xếp câu chuyện cho bằng nội dung mặc khải. Vì thế, hiện tượng Ga 14,31 nối liền với Ga 18,1 chèn vào giữa đoạn văn Ga 15–17 là một trong những đặc điểm độc đáo của Tin Mừng Gio-an (xem bối cảnh văn chương Ga 13–16 trong Khủng hoảng và giải pháp cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư, tr. 17-76).

Ngày 06 tháng 11 năm 2011. 
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
  

04/10/2011

Hướng dẫn đặt câu hỏi


Với ước mong độc giả tìm được niềm vui và thú vị khi đọc bản văn Kinh Thánh, mục này nhằm giải đáp phần nào những thắc mắc của độc giả trong quá trình áp dụng phương pháp phân tích thuật chuyện và cấu trúc vào bản văn Kinh Thánh. Dưới đây là đôi điều về mục giải đáp thắc mắc.

1. Về lý thuyết và áp dụng phương pháp, xem tài liệu: Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư.
 
2. Độc giả có thể trình bày ngắn gọn những câu hỏi về phương pháp đọc Kinh Thánh liên quan đến phân tích bản văn theo lối tiếp cận thuật chuyện và cấu trúc, sau đó gửi về email: josleminhthong@gmail.com

3. Các câu hỏi có thể xếp thành hai loại: (a) Câu hỏi về phương pháp phân tích thuật chuyện và cấu trúc. (b) Câu hỏi về những khó khăn khi phân tích một bản văn cụ thể.

4. Trong thời gian sớm nhất, tác giả sẽ cố gắng giải đáp phần nào các câu hỏi theo khả năng giới hạn của mình.

5. Những thắc mắc và trả lời chung cho nhiều người sẽ được đưa lên blog để chia sẻ với mọi người.



Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

Các giải đáp thắc mắc