03/04/2026

Ga 13,1-15. Rửa chân, hành động đảo ngược tận gốc: Đấng Ki-tô chịu đóng đinh

 


Trình thuật Đức Giê-su rửa chân (Ga 13,1-15) mở đầu các diễn từ Người từ biệt các môn đệ (ch. 13–17) trước khi bước vào cuộc Thương Khó. Phải chăng hành động rửa chân nói về sự khiêm nhường của Đức Giê-su? Cuối bài Tin Mừng Người nói với các môn đệ ở 13,15a: “Một gương mẫu (hupodeigma), Thầy đã cho anh em.” Gương mẫu này là gì? Nếu là gương mẫu về sự khiêm nhường theo nghĩa thông thường thì đáng lẽ Phê-rô đã để Đức Giê-su rửa chân và thán phục Thầy. Nhưng không, Phê-rô đã quyết liệt phản đối hành động rửa chân của Đức Giê-su. Chúng ta cùng tìm hiểu ý nghĩa việc làm của Người.

Việc rửa chân đặt trong bối cảnh bữa ăn cuối cùng của Đức Giê-su với các môn đệ. Đây là lúc Giờ của Người đã đến. Về lịch sử, đó là Giờ Người chết trên thập giá; nhưng về thần học, đó là Giờ Người được tôn vinh, Giờ Người đến với Cha (13,1c), Giờ Người yêu mến những ai thuộc về Người cho đến cùng, đến cùng về thời gian nghĩa là yêu cho đến chết, và đến cùng về mức độ nghĩa là tình yêu cao cả. Điều nghịch lý là Giờ của Đức Giê-su bắt đầu bằng việc quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa ý định nộp Thầy (13,2). Trong bối cảnh này, Đức Giê-su rửa chân cho các môn đệ.

Phản ứng của Phê-rô giúp chúng ta hiểu ý nghĩa hành động rửa chân. Ông không thể chấp nhận Thầy rửa chân khi nói: “Đến muôn đời, Thầy chắc chắn không rửa chân của con” (13,8a). Khi Đức Giê-su nói: “Nếu Thầy không rửa anh, anh không có phần với Thầy” (13,8b), Phê-rô lại thay đổi lập trường 180 độ, ông xin rửa không chỉ chân mà còn cả tay và đầu (13,9). Phản ứng của Phê-rô có nét châm biếm vì ông muốn hai điều nhưng không được điều nào cả. Không để Thầy rửa chân thì không có phần với Thầy. Còn lời xin rửa cả tay và đầu cũng không được chấp nhận. Điều này cho phép kết luận rằng Phê-rô không hiểu ý nghĩa việc rửa chân. Sâu xa hơn, ông chưa biết Đức Giê-su là ai và chưa biết cách Đấng Ki-tô bày tỏ quyền năng của Người như thế nào.

Phê-rô là môn đệ đứng đầu Nhóm Mười Hai, ông đại diện Nhóm bày tỏ sự tôn trọng Thầy bằng cách không để Thầy rửa chân (13,8a), và sau đó bày tỏ lòng nhiệt thành bằng cách xin rửa thêm cả tay và đầu (13,9). Cách hành xử của Phê-rô phản ánh suy nghĩ chung của các môn đệ. Tưởng là tôn trọng và nhiệt thành với Thầy nhưng thực sự không biết ý nghĩa việc Thầy làm. Chìa khoá giúp chúng ta hiểu hành động rửa chân là lời Đức Giê-su nói với Phê-rô ở 13,7: “Điều chính Thầy làm, chính anh không biết bây giờ, nhưng anh sẽ biết sau những điều này.” Cụm từ “sau những điều này” nói về sau biến cố Giờ của Đức Giê-su. Vì thế không một nhân vật nào trong Tin Mừng thực sự biết Đức Giê-su là ai và biết căn tính của Người trước khi Người Phục Sinh.

Nội dung các Tin Mừng soi sáng cho việc Phê-rô không hiểu Đức Giê-su. Các môn đệ suy nghĩ và mong đợi Đấng Ki-tô theo nghĩa trần thế. Chẳng hạn, Gia-cô-bê và Gio-an xin ngồi bên hữu bên tả trong vinh quang của Đức Giê-su (Mc 10,35-40 // Mt 20,20-23) nhưng không được. Còn Phê-rô, sau khi nghe Đức Giê-su loan báo Thương Khó – Phục Sinh lần thứ nhất (Mc 8,31-33 // Mt 16,21-23; Lc 9,22), ông ngăn cản Người nên bị Người quở trách ở Mt 16,23: “Xa-tan, hãy đi sau Thầy, vì anh không suy nghĩ theo suy nghĩ của Thiên Chúa, nhưng theo suy nghĩ của loài người.” Trong bối cảnh này, có thể hiểu việc Giu-đa nộp Thầy là để Thầy bày tỏ quyền năng Đấng Ki-tô trần thế. Ông có thể nghĩ rằng Thầy làm nhiều dấu lạ và có quyền năng làm cho người chết sống lại thì ai có thể làm hại được Thầy.

Đối với tác giả Tin Mừng, khi nộp Thầy, Giu-đa đã để cho Xa-tan hoạt động nơi mình. Tác giả cho biết quỷ đã gieo vào Giu-đa ý định nộp Đức Giê-su (Ga 13,2); và sau khi nhận miếng bánh Người trao, Xa-tan đã nhập vào Giu-đa (Ga 13,27a). Còn với Phê-rô, Đức Giê-su gọi ông là “Xa-tan” và bảo ông “Hãy đi sau Thầy” (Mc 8,33). Như thế, việc Giu-đa nộp Thầy và Phê-rô can Thầy đều do Xa-tan xúi dục.

Điều mà các môn đệ không thể chấp nhập là Đấng Ki-tô phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ mục, các thượng tế và các kinh sư loại bỏ và bị giết chết (Mc 8,31). Đức Giê-su loan báo ba lần điều này trong Tin Mừng Nhất Lãm nhưng các ông vẫn không hiểu. Về phía chúng ta, khi chúng ta nghĩ về Đức Giê-su như là một Đấng Ki-tô bày tỏ sức mạnh và vinh quang theo nghĩa trần thế, thì chúng ta đã rơi vào cám dỗ của quỷ như nó đã cám dỗ Đức Giê-su. Quỷ nói rằng nếu Đức Giê-su phủ phục trước nó thì nó sẽ tặng Người mọi quyền năng và vinh quang của thế gian (Lc 4,5-8).

Phê-rô không hiểu Đức Giê-su trước biến cố thập giá, nhưng sau khi Người Phục Sinh, Phê-rô trở thành khuôn mẫu cho chúng ta. Ông đã thực sự biết Đức Giê-su và sống theo lời Người trăn trối ở Ga 13,14: “Nếu chính Thầy rửa chân của anh em, Thầy là ‘Chúa’ và ‘Thầy’, thì chính anh em cũng phải rửa chân của nhau.” Cuối Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su Phục Sinh nói với Phê-rô ở Ga 21,18: “A-men a-men Thầy nói cho anh, lúc anh còn trẻ, anh tự chính mình thắt lưng và bước đi nơi anh muốn; nhưng khi anh về già, anh sẽ dang tay của anh ra, rồi người khác sẽ thắt lưng anh và đem đến nơi anh không muốn.” Tác giả Tin Mừng giải thích ở Ga 21,19a: “Quả thật, Người nói điều đó, nhằm ám hiệu bằng cái chết nào ông ấy sẽ tôn vinh Thiên Chúa.” Vậy Phê-rô đã hiểu ý nghĩa nghịch lý của hành động rửa chân. Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, là Đấng Ki-tô đầy quyền năng, nhưng Người chọn con đường hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Phêrô đã “rửa chân cho nhau” bằng cách sống và chết như Thầy để phục vụ cộng đoàn và tôn vinh Thiên Chúa.

Khác với các Tin Mừng Nhất Lãm, Tin Mừng Gio-an không thuật lại việc Đức Giê-su lập bí tích Thánh thể trong bữa tiệc ly. Thay vào đó là việc Người rửa chân cho các môn đệ. Vì thế hành động này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không chỉ là khiêm nhường tự hạ theo cách suy nghĩ của con người, nhưng là một mặc khải về căn tính và cách thức hành động của Đấng Ki-tô. Qua hành động rửa chân, Đức Giê-su báo trước cái chết của Người. Biến cố thập giá là sự đảo ngược tận gốc rễ về quyền năng của Đấng Ki-tô theo quan niệm trần thế. Chấp nhận Đức Giê-su rửa chân là nhận biết Người bày tỏ vương quyền của Người qua cuộc khổ nạn. Khi Hội Thánh cử hành việc Đức Giê-su rửa chân là Hội Thánh tuyên xưng niềm tin về điều nghịch lý: Đức Giê-su Ki-tô là vua các vua, chúa các chúa, nhưng Người đã chịu đóng đinh và chết trên thập giá.

Chúng ta được mời gọi thực hiện lời Đức Giê-su dạy “rửa chân cho nhau” nghĩa là đối xử với nhau với tư cách là môn đệ thực sự, biết Đức Giê-su là ai, sống giáo huấn của Người, yêu thương, phục vụ và trung tín với Người, với lời của Người cho đến cùng, đến cùng về thời gian và đến cùng về mức độ./.

03/04/2026. Giu-se Lê Minh Thông, OP.

Xem mục chia sẻ ngắn:

https://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/p/chia-se-ngan.html

 


26/10/2025

Hatha Yoga: động tác “ngồi ghế” giúp khoẻ chân và đầu gối

 

Xin chia sẻ với mọi người hai biến thể của động tác yoga “ngồi ghế” (Utkatasana, Awkward pose, Chair pose). Động tác này giúp khoẻ chân và đầu gối, đặc biệt dành cho những người cao tuổi vì chân và đầu gối yếu dần theo thời gian (hình minh hoạ lấy trên web).









Xem chia sẻ về HATHA YOGA trong mục “chia sẻ ngắn”
https://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/p/chia-se-ngan.html

26/10/2025. Giu-se Lê Minh Thông OP.

 

08/07/2025

Sách: Chú giải Tin Mừng Gio-an, tập 5


Giu-se Lê Minh Thông, Chú giải Tin Mừng Gio-an,
tập 5, Ga 7,1–8,59,
Hà Nội, Nxb. Hồng Đức, 2025, 720 tr.
ISBN: 978-604-389-409-7.















08/07/2025
Giu-se Lê Minh Thông, OP.




14/11/2024

“Điều răn” (調 噒) hay “giới răn” (誡 噒)

 

Núi Xi-nai và Tu viện Thánh Ca-ta-ri-na


Trong các bài viết và sách báo Ki-tô giáo, chúng ta thường gặp các từ “giới răn”, “mười giới răn”, “giới răn trọng nhất”, “giới răn mến Chúa yêu người”, “giới răn mới” (tìm từ “giới răn” trên web). Những kiểu nói này chỉ về “mười điều răn” trong Cựu Ước (Xh 20,1-17 // Đnl 5,6-21), “điều răn yêu thương” trong Tin Mừng Nhất Lãm (Mc 12,28-34 // Mt 22,36-40 // Lc 10,25-28) và “điều răn mới” trong Tin Mừng Gio-an (Ga 13,34; 15,12). Bài viết này quan sát cách dùng hai từ “giới” và “răn” trong chữ Hán và chữ Nôm, cũng như các bản dịch Kinh Thánh về đề tài này, từ đó đề nghị dùng từ “điều răn”, từ này phù hợp hơn khi bàn về Kinh Thánh.

Thiều Chửu, Hán–Việt tự điển, 2009, tr. 1048-1049, liệt kệ 18 chữ Hán đọc là “giới”; trong đó có hai từ liên quan đến bài viết:  (phồn thể  誡,giản thể ). Hai từ (đọc là “giới”) đều có bộ qua (binh khí) và bộ củng (chắp tay) với ý nghĩa hai tay nắm vững vũ khí để chiến đấu trên con đường tu luyện bằng việc giữ điều răn. Từ (giới) có thêm bộ ngôn  (lời nói), diễn tả những lời răn dạy; chẳng hạn, danh sách mười điều răn trong Cựu Ước chữ Hán là 十誡 (thập giới), viết đầy đủ  十 條 誡(thập điều giới mệnh), chữ Nôm là 調 (Mười điều răn). “Điều răn mới” trong Tin Mừng Gio-an (Ga 13,34), chữ Hán là 新 命 令 (tân mệnh lệnh) hay 新 誡 令 (tân giới mệnh); chữ Nôm là 調 (điều răn mới).

Theo Thiều Chửu, Hán–Việt Tự Điển, chữ (giới) có năm nghĩa: (1) răn, như “khuyến giới”; (2) phòng bị, như “dư hữu giới tâm”; (3) trai giới, nghĩa là trước khi cúng giỗ ăn chay tắm sạch để làm lễ cho kính; (4) lấy làm răn, như “giới tửu”; “ngũ giới” của Phật giáo là năm điều không nên làm; (5) cõi, như từ  (giới hạn, hạ giới). Chữ (giới) có ba nghĩa (1) bài răn bảo, như “giới tử thư” (thơ răn bảo con); (2) trừng giới (dùng hình phạt nhẹ cho biết sợ); (3) sai, bảo.

Chữ Nôm 調 (điều răn) tương đương với các chữ Hán là 命 令 (mệnh lệnh), 誡 令 (giới mệnh). Chữ Hán (giới)  được dùng trong chữ Nôm (giới) với hai nghĩa: (1) “Điều cấm kỵ”, “kiêng cữ”; (2) “che dấu”, “che đỡ” (x. Nguyễn Quang Hồng, Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải, 2021).

Trong hai chữ Hán (giới) đã có nghĩa “răn” (khuyên răn, răn bảo), nếu dùng từ “giới răn” () trong tiếng Việt thì có nghĩa “răn răn”. Đây là cách cấu tạo từ ghép trong tiếng Việt: dùng một chữ Hán và một chữ Nôm đồng nghĩa; trong đó chữ Nôm giải thích ý nghĩa của chữ Hán, chẳng hạn chữ Nôm “hiếu thảo” (孝 討) gồm từ Hán có nghĩa “hết lòng phụng dưỡng cha mẹ”, đứng trước chữ Nôm có nghĩa “lòng thành”, “hiếu thuận”. Chữ Nôm (thảo) giải thích chữ Hán (hiếu) làm thành cụm từ tiếng Việt “hiếu thảo”. Cách dùng tương tự trong tiếng Việt như “băng giá”, “tiễn đưa”, “kỳ lạ”, “kính nể”, v.v....

Trong Cựu Ước, Xh 24,12 viết: “ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: ‘Hãy lên núi (núi Xi-nai, Xh 19,11) với Ta và ở lại đó; Ta sẽ ban cho ngươi những bia đá: luật và mệnh lệnh (BHS wǝhammiǝwāh, LXX kai tas entolas) Ta đã viết ra để dạy dỗ chúng (dân Ít-ra-en).” Trong câu này danh từ Híp-ri “miǝwāh” (mệnh lệnh, commandment), trong bản Hy-lạp LXX là danh từ “hê entolê” (mệnh lệnh, điều răn) ở đối cách, số nhiều “tas entolas”. “Điều răn mới” trong Tin Mừng Gio-an (Ga 13,34) có tiếng Hy-lạp là “entolê kainê”.

Các bản dịch Kinh Thánh thường dùng từ “điều răn” ở Ga 13,34; 14,15; 15,12. Bản dịch Kinh Thánh tiếng Việt đầu tiên của Cố Chính Linh (Albertus Schlicklin) dùng từ “điều răn” trong Quyển IV: Sấm truyền mới (1916). Cố Chính Linh dịch ba câu Đức Giê-su nói với các môn đệ như sau: Ga 13,34: “Tao truyền cho bay một điều răn mới, là bay hãy yêu thương nhau; tao đã yêu thương bay thế nào thì bay cũng hãy thương yêu nhau thế ấy”; Ga 14,15: “Nếu bay kính mến tao, thì bay hãy vâng giữ các điều răn tao”; và Ga 15,12: “Này là điều răn tao ban để bay thương yêu nhau như tao đã thương yêu bay vậy.” Năm 1926, cha Chính An (Fr. Marcus Gispert) xuất bản cuốn Bốn quyển sách Phúc-Âm Đức Chúa Giêsu Kirixitô, cũng dùng từ “điều răn” trong các câu trên. Bản dịch Kinh Thánh của cha Nguyễn Thế Thuấn dịch “điều răn mới” (Ga 13,34) và “các lịnh truyền” (Ga 14,15), “lịnh truyền” (Ga 15,12). Bản dịch của Nhóm CGKPV dùng từ “điều răn” trong ba câu này.

Từ những quan sát trên có thể đưa ra ba nhận định về cách dùng từ “điều răn” và “giới răn”:

-1. Cách dùng tiếng Việt bằng cách ghép từ “Hán + Nôm”, trong đó chữ Nôm giải thích chữ Hán như từ “giới răn”, chỉ diễn tả ý “khuyên răn”. Từ “điều răn”, chữ Nôm 調 , vừa không dùng chữ Hán, vừa phù hợp hơn với Kinh Thánh, chữ Nôm 調 (điều) chỉ từng khoảng mục của “lệnh truyền”.

-2. Theo văn phạm tiếng Việt, có thể dùng từ “giới răn” (Hán + Nôm) theo nghĩa chữ Nôm (răn) giải thích chữ Hán hay (giới). Tuy nhiên, chữ Nôm cũng dùng từ (giới) và có nghĩa “cấm kỵ”; chẳng hạn 五 戒 (ngũ giới) trong Phật giáo là năm điều cấm: sát sinh, trộp cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu. Vì thế từ “giới răn” có thể hiểu là điều cấm, không nên làm. Trong Kinh Thánh, từ “điều răn” đồng nghĩa với “lệnh truyền” bao gồm điều phải làm và không được làm.

-3. Trong Tự Điển Công Giáo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (2016), có các mục từ “Mệnh lệnh”, “Điều răn mới”, “Mười điều răn”, không có mục từ “Giới răn”. Từ “giới răn” chỉ được nhắc đến trong mục từ “Mệnh lệnh”: “Mệnh lệnh còn gọi là điều răn hay giới răn, là chỉ thị của Thiên Chúa hay Hội Thánh truyền cho tín hữu phải tuân giữ” (tr. 583).

Tóm lại, khi bàn về lệnh truyền của ĐỨC CHÚA trong Cựu Ước và giáo huấn của Đức Giê-su trong Tân Ước thì từ “điều răn” vừa dễ hiểu trong tiếng Việt, vừa phù hợp với văn chương Kinh Thánh.

14/11/2024. Giu-se Lê Minh Thông, OP.

https://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2024/11/ieu-ran-hay-gioi-ran.html


Từ viết tắt

BHS: Biblia Hebraica Stuttgartensia, Kinh Thánh tiếng Híp-ri. Elliger, K.; Rudolph, W., (eds), Biblia Hebraica Stuttgartensia, (Hebrew Bible, Masoretic Text), Fourth Corrected Edition, Stuttgart 1990.

LXX: Kinh Thánh tiếng Hy-lạp, còn gọi là bản 70 (LXX). Rahlfs, A., (ed.), Septuaginta, (Old Greek Jewish Scriptures), Deutsche Bibelgesellschaft, (1935), 1979.

Thư mục:

Gispert, Marcus, (cha Chính An), Bốn quyển sách Phúc-Âm Đức Chúa Giêsu Kirixitô, (dịch và chú giải, song ngữ La-tinh–Annam), Phú Nhai Đường, 1926, Toà Giám mục Bùi Chu in lại, Hà Hội, Nxb. Tôn Giáo, 2014.

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Từ điển Công Giáo, Hà Nội, Nxb. Tôn giáo, 2016, 1278 tr.

Lê Đình Khẩn, Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, Tp. Hồ Chí Minh, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2002.

Nguyễn Quang Hồng (biên soạn), Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải, (tái bản, theo bản in năm 2014, có sửa chữa và bổ sung), tập 1 (A-M), tập 2 (N-Y), Hà Nội, Nxb. Khoa Học Xã hội, 2021, 2418 tr.

 Schlicklin, Albertus, (cố Chính Linh), Kinh Thánh, cứ bản Vulgata, Quyển IV, Sấm Truyền Mới, (dịch ra tiếng Annam và thích nghĩa, song ngữ Annam – La-tinh), Hồng Kông, Imprimerie de la Société des Missions-Étrangères, 1916.

Thiều Chửu, Hán–Việt Tự Điển, Hà Nội, Nxb. Văn Hoá, 2009, 1286 tr.


25/07/2024

Sách: Chi è “il discepolo che Gesù amava”?

 

Joseph Lê Minh Thông, Chi è “il discepolo che Gesù amava”?, 
(Biblioteca bibica 34), (dịch giả: G. Romagnoli),
Brescia, Editrice Queriniana, 2022, 136 p. 
(Dịch từ tiếng Pháp: Qui est “le disciple que Jésus aimait”?,
Éditions du Cerf, 2019).


Xem giới thiệu sách:

Tiếng Việt: Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai?
https://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2010/10/gioi-thieu-sach-nguoi-mon-e-uc-gie-su_19.html
Tiếng Pháp: Qui est “le disciple que Jésus aimait”?
https://www.editionsducerf.fr/librairie/livre/18602/qui-est-le-disciple-que-jesus-aimait
Tiếng Ý: Chi è “il discepolo che Gesù amava”?
https://www.queriniana.it/libro/chi-e-il-discepolo-che-gesu-amava--4411
Các sách đã xuất bản tại:
https://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/p/sach.html

25/07/2024.
Giu-se Lê Minh Thông.

03/06/2024

Sách: Chú giải Tin Mừng Gio-an, tập 4



Giu-se Lê Minh Thông, Chú giải Tin Mừng Gio-an,
tập 4, Ga 6,1-71,
Hà Nội, Nxb. Hồng Đức, 2024, 604 tr.
ISBN: 978-604-89-6975-2.













Sách có bán tại:
Nhà sách Đức Mẹ, 38 Kỳ Đồng, P.9, Q.3, TP.HCM
ĐT: 38.439.540 / 38.438.607
Email: nsachdcct@gmail.com
Mở cửa: 8:00 - 21:00, thứ ba đến Chúa Nhật. Thứ hai nghỉ.

22/03/2024

Mc 15,34: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni?” (// Mt 27,46b)




Tin Mừng Mc kể về những gì xảy ra trước khi Đức Giê-su chết trên thập giá ở Mc 15,34-35: "34 Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: 'Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni?' được dịch là 'Lạy Thiên Chúa của Con, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi Con?' 35 Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: 'Kìa Ông ấy gọi Ê-li-a.'"

16/03/2024

Ga 12,23-24: Làm sao “chết” lại có thể “sinh nhiều hoa trái” được?




Đức Giê-su nói với các môn đệ ở Ga 12,23-24: “23 Giờ đã đến để Con Người được tôn vinh. 24 A-men a-men Thầy nói cho anh em, nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất không chết đi nó vẫn ở lại một mình; nhưng nếu chết đi, nó sinh nhiều hoa trái.”

07/03/2024

Ga 3,13-21: Tóm tắt ơn cứu độ liên quan đến Thiên Chúa, Đức Giê-su và con người




Trong Tin Mừng Gio-an, sau khi đối thoại với Ni-cô-đê-mô (3,1-12), lời độc thoại của Đức Giê-su (3,13-21) đã tóm tắt ơn cứu độ thuật lại trong Tin Mừng liên quan đến ba nhân vật: Thiên Chúa, Đức Giê-su và con người.

29/02/2024

Ga 2,13-22: Loan báo Thương Khó – Phục Sinh ngay khi khai mạc sứ vụ





Trong Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su khai mạc sứ vụ qua hai trình thuật: (1) 2,1-12: dấu lạ hoá nước thành rượu ngon trong tiệc cưới ở Ca-na, miền Ga-li-lê. Biểu tượng rượu ngon hảo hạng diễn tả niềm vui, sức sống và sự dồi dào phong phú của thời Tân Ước. (2) 2,13-22: đuổi những người buôn bán ra khỏi quảng trường Đền Thờ Giê-ru-sa-lem và nói về cuộc Thương Khó – Phục Sinh. Qua trình thuật Đức Giê-su khai mạc cách thờ phượng mới của thời Tân Ước: thờ phượng Cha trong thần khí và sự thật (4,23-24).