Tin Mừng Gio-an, Évangile de Jean, Gospel of John
Giu-se Lê Minh Thông, OP.
12/10/2026
Sách: Chú giải Tin Mừng Gio-an, tập 6
03/04/2026
Ga 13,1-15. Rửa chân, hành động đảo ngược tận gốc: Đấng Ki-tô chịu đóng đinh
Trình thuật Đức Giê-su rửa chân (Ga 13,1-15) mở
đầu các diễn từ Người từ biệt các môn đệ (ch. 13–17) trước khi bước vào cuộc
Thương Khó. Phải chăng hành động rửa chân nói về sự khiêm nhường của Đức Giê-su?
Cuối bài Tin Mừng Người nói với các môn đệ ở 13,15a: “Một gương mẫu (hupodeigma),
Thầy đã cho anh em.” Gương mẫu này là gì? Nếu là gương mẫu về sự khiêm nhường theo
nghĩa thông thường thì đáng lẽ Phê-rô đã để Đức Giê-su rửa chân và thán phục Thầy.
Nhưng không, Phê-rô đã quyết liệt phản đối hành động rửa chân của Đức Giê-su. Chúng
ta cùng tìm hiểu ý nghĩa việc làm của Người.
Việc rửa chân đặt trong bối cảnh bữa ăn cuối cùng
của Đức Giê-su với các môn đệ. Đây là lúc Giờ của Người đã đến. Về lịch sử, đó là
Giờ Người chết trên thập giá; nhưng về thần học, đó là Giờ Người được tôn vinh,
Giờ Người đến với Cha (13,1c), Giờ Người yêu mến những ai thuộc về Người cho
đến cùng, đến cùng về thời gian nghĩa là yêu cho đến chết, và đến cùng về mức
độ nghĩa là tình yêu cao cả. Điều nghịch lý là Giờ của Đức Giê-su bắt đầu bằng
việc quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa ý định nộp Thầy (13,2). Trong bối cảnh này, Đức
Giê-su rửa chân cho các môn đệ.
Phản ứng của Phê-rô giúp chúng ta hiểu ý nghĩa
hành động rửa chân. Ông không thể chấp nhận Thầy rửa chân khi nói: “Đến muôn
đời, Thầy chắc chắn không rửa chân của con” (13,8a). Khi Đức Giê-su nói: “Nếu
Thầy không rửa anh, anh không có phần với Thầy” (13,8b), Phê-rô lại thay đổi
lập trường 180 độ, ông xin rửa không chỉ chân mà còn cả tay và đầu (13,9). Phản
ứng của Phê-rô có nét châm biếm vì ông muốn hai điều nhưng không được điều nào
cả. Không để Thầy rửa chân thì không có phần với Thầy. Còn lời xin rửa cả tay
và đầu cũng không được chấp nhận. Điều này
cho phép kết luận rằng Phê-rô không
hiểu ý nghĩa việc rửa chân. Sâu xa hơn, ông chưa biết Đức Giê-su là ai và
chưa biết cách Đấng Ki-tô bày tỏ quyền năng của Người như thế nào.
Phê-rô là môn đệ đứng đầu Nhóm Mười Hai, ông đại
diện Nhóm bày tỏ sự tôn trọng Thầy bằng cách không để Thầy rửa chân (13,8a), và
sau đó bày tỏ lòng nhiệt thành bằng cách xin rửa thêm cả tay và đầu (13,9). Cách
hành xử của Phê-rô phản ánh suy nghĩ chung của các môn đệ. Tưởng là tôn trọng và
nhiệt thành với Thầy nhưng thực sự không biết ý nghĩa việc Thầy làm. Chìa khoá
giúp chúng ta hiểu hành động rửa chân là lời Đức Giê-su nói với Phê-rô ở 13,7: “Điều chính Thầy làm, chính anh không biết bây giờ, nhưng
anh sẽ biết sau những điều này.” Cụm từ “sau những điều này” nói về sau
biến cố Giờ của Đức Giê-su. Vì thế không một nhân vật nào trong Tin Mừng thực
sự biết Đức Giê-su là ai và biết căn tính của Người trước khi Người Phục Sinh.
Đối với tác giả Tin Mừng, khi nộp Thầy, Giu-đa đã
để cho Xa-tan hoạt động nơi mình. Tác giả cho biết quỷ đã gieo vào Giu-đa ý
định nộp Đức Giê-su (Ga 13,2); và sau khi nhận miếng bánh Người trao, Xa-tan đã
nhập vào Giu-đa (Ga 13,27a). Còn với Phê-rô, Đức Giê-su gọi ông là “Xa-tan” và
bảo ông “Hãy đi sau Thầy” (Mc 8,33). Như thế, việc Giu-đa nộp Thầy và Phê-rô can
Thầy đều do Xa-tan xúi dục.
Điều mà các môn đệ không thể chấp nhập là Đấng
Ki-tô phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ mục, các thượng tế và các kinh sư loại
bỏ và bị giết chết (Mc 8,31). Đức Giê-su loan báo ba lần điều này trong Tin
Mừng Nhất Lãm nhưng các ông vẫn không hiểu. Về phía chúng ta, khi chúng ta nghĩ
về Đức Giê-su như là một Đấng Ki-tô bày tỏ sức mạnh và vinh quang theo nghĩa
trần thế, thì chúng ta đã rơi vào cám dỗ của quỷ như nó đã cám dỗ Đức Giê-su.
Quỷ nói rằng nếu Đức Giê-su phủ phục trước nó thì nó sẽ tặng Người mọi quyền
năng và vinh quang của thế gian (Lc 4,5-8).
Phê-rô không hiểu Đức Giê-su trước biến cố thập
giá, nhưng sau khi Người Phục Sinh, Phê-rô trở thành khuôn mẫu cho chúng ta.
Ông đã thực sự biết Đức Giê-su và sống theo lời Người trăn trối ở Ga 13,14: “Nếu
chính Thầy rửa chân của anh em, Thầy là
‘Chúa’ và là ‘Thầy’, thì chính
anh em cũng phải rửa chân của nhau.” Cuối Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su Phục Sinh
nói với Phê-rô ở Ga 21,18: “A-men a-men Thầy nói cho anh, lúc anh còn trẻ, anh
tự chính mình thắt lưng và bước đi nơi anh muốn; nhưng khi anh về già,
anh sẽ dang tay của anh ra, rồi người khác sẽ thắt lưng anh và đem đến
nơi anh không muốn.” Tác giả Tin Mừng giải thích ở Ga 21,19a: “Quả thật, Người
nói điều đó, nhằm ám hiệu bằng cái chết nào ông ấy sẽ tôn vinh Thiên Chúa.” Vậy
Phê-rô đã hiểu ý nghĩa nghịch lý của hành động rửa chân. Đức Giê-su là Con
Thiên Chúa, là Đấng Ki-tô đầy quyền năng, nhưng Người chọn con đường hy sinh
mạng sống mình vì đàn chiên. Phêrô đã “rửa chân cho nhau” bằng cách sống và
chết như Thầy để phục vụ cộng đoàn và tôn vinh Thiên Chúa.
Khác với các Tin Mừng Nhất Lãm, Tin Mừng Gio-an
không thuật lại việc Đức Giê-su lập bí tích Thánh thể trong bữa tiệc ly. Thay
vào đó là việc Người rửa chân cho các môn đệ. Vì thế hành động này có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng. Không chỉ là khiêm nhường tự hạ theo cách suy nghĩ của con
người, nhưng là một mặc khải về căn tính và cách thức hành động của Đấng Ki-tô.
Qua hành động rửa chân, Đức Giê-su báo trước cái chết của Người. Biến cố thập
giá là sự đảo ngược tận gốc rễ về quyền năng của Đấng Ki-tô theo quan niệm trần
thế. Chấp nhận Đức Giê-su rửa chân là nhận biết Người bày tỏ vương quyền của
Người qua cuộc khổ nạn. Khi Hội Thánh cử hành việc Đức Giê-su rửa chân là Hội
Thánh tuyên xưng niềm tin về điều nghịch lý: Đức Giê-su Ki-tô là vua các vua,
chúa các chúa, nhưng Người đã chịu đóng đinh và chết trên thập giá.
Chúng ta được mời gọi thực hiện lời Đức Giê-su
dạy “rửa chân cho nhau” nghĩa là đối xử với nhau với tư cách là môn đệ thực sự,
biết Đức Giê-su là ai, sống giáo huấn của Người, yêu thương, phục vụ và trung
tín với Người, với lời của Người cho đến cùng, đến cùng về thời gian và đến cùng
về mức độ./.
03/04/2026. Giu-se
Lê Minh Thông, OP.
Xem mục chia sẻ ngắn:
https://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/p/chia-se-ngan.html
26/10/2025
Hatha Yoga: động tác “ngồi ghế” giúp khoẻ chân và đầu gối
Xin chia sẻ với mọi người hai biến thể của động tác yoga “ngồi ghế” (Utkatasana, Awkward pose, Chair pose). Động tác này giúp khoẻ chân và đầu gối, đặc biệt dành cho những người cao tuổi vì chân và đầu gối yếu dần theo thời gian (hình minh hoạ lấy trên web).
Xem chia sẻ về HATHA YOGA trong mục “chia sẻ ngắn”
https://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/p/chia-se-ngan.html
26/10/2025. Giu-se Lê Minh Thông OP.
08/07/2025
Sách: Chú giải Tin Mừng Gio-an, tập 5
14/11/2024
“Điều răn” (調 噒) hay “giới răn” (誡 噒)
Núi Xi-nai và Tu viện Thánh Ca-ta-ri-na
Trong các bài viết và sách báo Ki-tô giáo,
chúng ta thường gặp các từ “giới răn”, “mười giới răn”, “giới răn trọng nhất”, “giới
răn mến Chúa yêu người”, “giới răn mới” (tìm từ “giới răn” trên web). Những
kiểu nói này chỉ về “mười điều răn” trong Cựu Ước (Xh 20,1-17 // Đnl 5,6-21), “điều
răn yêu thương” trong Tin Mừng Nhất Lãm (Mc 12,28-34 // Mt 22,36-40 // Lc
10,25-28) và “điều răn mới” trong Tin Mừng Gio-an (Ga 13,34; 15,12). Bài viết
này quan sát cách dùng hai từ “giới” và “răn” trong chữ Hán và chữ Nôm, cũng
như các bản dịch Kinh Thánh về đề tài này, từ đó đề nghị dùng từ “điều răn”, từ
này phù hợp hơn khi bàn về Kinh Thánh.
Thiều Chửu, Hán–Việt tự điển, 2009, tr.
1048-1049, liệt kệ 18 chữ Hán đọc là “giới”; trong đó có hai từ liên quan đến
bài viết: 戒 và 誡 (phồn thể 誡,giản thể
诫).
Hai từ 戒 và 誡 (đọc
là “giới”) đều có bộ qua 戈 (binh khí) và bộ củng 廾(chắp tay) với ý nghĩa
hai tay nắm vững vũ khí để chiến đấu trên con đường tu luyện bằng việc giữ điều
răn. Từ 誡 (giới) có thêm bộ ngôn 言 (lời nói), diễn tả những lời răn dạy; chẳng
hạn, danh sách mười điều răn trong Cựu Ước chữ Hán là 十誡 (thập giới), viết đầy đủ 十 條 誡 命 (thập điều giới mệnh), chữ Nôm là 辻 調 噒 (Mười điều răn). “Điều răn mới” trong Tin Mừng
Gio-an (Ga 13,34), chữ Hán là 新 命 令 (tân mệnh lệnh)
hay 新 誡 令 (tân giới mệnh); chữ Nôm là 調 噒 貝 (điều răn mới).
Theo Thiều Chửu, Hán–Việt Tự Điển, chữ 戒 (giới)
có năm nghĩa: (1) răn, như “khuyến giới”; (2) phòng
bị, như “dư hữu giới tâm”; (3) trai giới, nghĩa là trước khi cúng giỗ ăn chay
tắm sạch để làm lễ cho kính; (4) lấy làm răn, như “giới tửu”; “ngũ giới” của
Phật giáo là năm điều không nên làm; (5) cõi, như từ 界 (giới hạn, hạ
giới). Chữ 誡 (giới) có ba nghĩa (1)
bài răn bảo, như “giới tử thư” (thơ răn bảo con); (2) trừng giới (dùng hình
phạt nhẹ cho biết sợ); (3) sai, bảo.
Chữ Nôm 調 噒 (điều
răn) tương đương với các chữ Hán là 命 令 (mệnh
lệnh), 誡 令 (giới mệnh). Chữ Hán 戒 (giới) được dùng trong chữ Nôm 戒 (giới)
với hai nghĩa: (1) “Điều cấm kỵ”, “kiêng cữ”; (2) “che
dấu”, “che đỡ” (x. Nguyễn Quang Hồng, Tự Điển Chữ
Nôm Dẫn Giải, 2021).
Trong hai chữ Hán 戒 và 誡 (giới) đã có nghĩa “răn” (khuyên răn, răn
bảo), nếu dùng từ “giới răn” (誡 噒) trong tiếng Việt
thì có nghĩa “răn răn”. Đây là cách cấu tạo từ ghép trong tiếng Việt: dùng một
chữ Hán và một chữ Nôm đồng nghĩa; trong đó chữ Nôm giải thích ý nghĩa của chữ
Hán, chẳng hạn chữ Nôm “hiếu thảo” (孝 討) gồm từ Hán
孝
có nghĩa “hết lòng phụng dưỡng cha mẹ”, đứng trước chữ Nôm
討
có nghĩa “lòng thành”, “hiếu thuận”. Chữ Nôm 討 (thảo) giải thích chữ Hán 孝 (hiếu) làm thành cụm từ tiếng Việt “hiếu thảo”. Cách
dùng tương tự trong tiếng Việt như “băng giá”, “tiễn đưa”, “kỳ lạ”, “kính nể”,
v.v....
Trong Cựu Ước, Xh 24,12 viết: “ĐỨC CHÚA phán
với ông Mô-sê: ‘Hãy lên núi (núi Xi-nai, Xh 19,11) với Ta và ở lại đó; Ta
sẽ ban cho ngươi những bia đá: luật và mệnh lệnh (BHS wǝhammiṣǝwāh, LXX kai tas entolas) Ta đã viết ra để
dạy dỗ chúng (dân Ít-ra-en).” Trong câu này danh từ Híp-ri “miṣǝwāh” (mệnh lệnh, commandment), trong bản Hy-lạp LXX là danh
từ “hê entolê” (mệnh lệnh, điều răn) ở đối cách, số nhiều “tas
entolas”. “Điều răn mới” trong Tin Mừng Gio-an (Ga 13,34) có tiếng
Hy-lạp là “entolê kainê”.
Các bản dịch Kinh Thánh thường dùng từ “điều
răn” ở Ga 13,34; 14,15; 15,12. Bản dịch Kinh Thánh tiếng Việt đầu tiên của Cố
Chính Linh (Albertus Schlicklin) dùng từ “điều răn” trong Quyển IV: Sấm truyền mới (1916). Cố
Chính Linh dịch ba câu Đức Giê-su nói với các môn đệ như sau: Ga 13,34: “Tao
truyền cho bay một điều răn mới, là bay hãy yêu thương nhau; tao đã yêu thương
bay thế nào thì bay cũng hãy thương yêu nhau thế ấy”; Ga 14,15: “Nếu bay kính mến tao, thì bay hãy
vâng giữ các điều răn tao”; và Ga 15,12: “Này là điều răn tao ban để bay thương
yêu nhau như tao đã thương yêu bay vậy.” Năm 1926, cha Chính An (Fr. Marcus Gispert) xuất bản cuốn Bốn
quyển sách Phúc-Âm Đức Chúa Giêsu Kirixitô, cũng dùng từ “điều răn” trong
các câu trên. Bản dịch Kinh Thánh của cha Nguyễn Thế Thuấn
dịch “điều răn mới” (Ga 13,34) và “các lịnh truyền” (Ga 14,15), “lịnh
truyền” (Ga 15,12). Bản dịch của Nhóm CGKPV dùng từ “điều răn” trong ba câu
này.
Từ những quan sát trên có thể đưa ra ba nhận
định về cách dùng từ “điều răn” và “giới răn”:
-1. Cách dùng tiếng Việt bằng cách ghép từ “Hán
+ Nôm”, trong đó chữ Nôm giải thích chữ Hán như từ “giới răn”, chỉ diễn tả ý “khuyên
răn”. Từ “điều răn”, chữ Nôm 調 噒, vừa không dùng chữ
Hán, vừa phù hợp hơn với Kinh Thánh, chữ Nôm 調 (điều) chỉ từng khoảng mục của “lệnh truyền”.
-2. Theo văn phạm tiếng Việt, có thể dùng từ
“giới răn” (Hán + Nôm) theo nghĩa chữ Nôm 噒
(răn) giải thích chữ Hán 戒 hay 誡 (giới). Tuy nhiên, chữ Nôm cũng dùng từ 戒 (giới) và có nghĩa “cấm kỵ”; chẳng hạn 五 戒 (ngũ giới) trong Phật giáo là năm điều cấm: sát sinh, trộp cắp, tà dâm,
nói dối, uống rượu. Vì thế từ “giới răn” có thể hiểu là điều cấm, không nên
làm. Trong Kinh Thánh, từ “điều răn” đồng nghĩa với “lệnh truyền” bao gồm điều phải
làm và không được làm.
-3. Trong Tự Điển Công Giáo của Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam (2016), có các mục từ “Mệnh lệnh”, “Điều răn mới”, “Mười
điều răn”, không có mục từ “Giới răn”. Từ “giới răn” chỉ được nhắc đến trong
mục từ “Mệnh lệnh”: “Mệnh lệnh còn gọi là điều răn hay giới răn, là chỉ thị của
Thiên Chúa hay Hội Thánh truyền cho tín hữu phải tuân giữ” (tr. 583).
Tóm lại, khi bàn về lệnh truyền của ĐỨC CHÚA trong Cựu Ước và giáo huấn của Đức Giê-su trong Tân Ước thì từ “điều răn” vừa dễ hiểu trong tiếng Việt, vừa phù hợp với văn chương Kinh Thánh.
14/11/2024. Giu-se Lê Minh Thông, OP.
https://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2024/11/ieu-ran-hay-gioi-ran.html
Từ viết tắt
BHS: Biblia Hebraica Stuttgartensia, Kinh Thánh tiếng Híp-ri. Elliger, K.; Rudolph, W., (eds), Biblia Hebraica Stuttgartensia, (Hebrew
Bible, Masoretic Text), Fourth Corrected Edition, Stuttgart 1990.
LXX: Kinh Thánh tiếng Hy-lạp, còn gọi là bản 70 (LXX). Rahlfs, A.,
(ed.), Septuaginta, (Old Greek Jewish
Scriptures), Deutsche Bibelgesellschaft, (1935), 1979.
Thư mục:
Gispert, Marcus, (cha Chính An), Bốn quyển sách
Phúc-Âm Đức Chúa Giêsu Kirixitô, (dịch và chú giải, song ngữ
La-tinh–Annam), Phú Nhai Đường, 1926, Toà Giám mục Bùi Chu in lại, Hà Hội, Nxb.
Tôn Giáo, 2014.
Hội
Đồng Giám Mục Việt Nam, Từ điển Công Giáo, Hà Nội, Nxb. Tôn
giáo, 2016, 1278 tr.
Lê Đình Khẩn, Từ vựng gốc Hán trong tiếng Việt, Tp. Hồ Chí Minh, Nxb. Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2002.
Nguyễn
Quang Hồng (biên soạn), Tự Điển Chữ Nôm Dẫn Giải, (tái bản, theo
bản in năm 2014, có sửa chữa và bổ sung), tập 1 (A-M), tập 2 (N-Y), Hà
Nội, Nxb. Khoa Học Xã hội, 2021, 2418 tr.
Schlicklin, Albertus, (cố Chính Linh), Kinh
Thánh, cứ bản Vulgata, Quyển IV, Sấm Truyền Mới,
(dịch ra tiếng Annam và thích nghĩa, song ngữ Annam – La-tinh), Hồng Kông,
Imprimerie de la Société des Missions-Étrangères, 1916.
Thiều Chửu, Hán–Việt Tự Điển, Hà
Nội, Nxb. Văn Hoá, 2009, 1286 tr.
25/07/2024
Sách: Chi è “il discepolo che Gesù amava”?
Xem giới thiệu sách:
https://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2010/10/gioi-thieu-sach-nguoi-mon-e-uc-gie-su_19.html
Tiếng Pháp: Qui est “le disciple que Jésus aimait”?
https://www.editionsducerf.fr/librairie/livre/18602/qui-est-le-disciple-que-jesus-aimait
Tiếng Ý: Chi è “il discepolo che Gesù amava”?
https://www.queriniana.it/libro/chi-e-il-discepolo-che-gesu-amava--4411
Các sách đã xuất bản tại:
https://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/p/sach.html
25/07/2024.
Giu-se Lê Minh Thông.
03/06/2024
Sách: Chú giải Tin Mừng Gio-an, tập 4
ĐT: 38.439.540 / 38.438.607
Email: nsachdcct@gmail.com
Mở cửa: 8:00 - 21:00, thứ ba đến Chúa Nhật. Thứ hai nghỉ.