21/03/2020

Dấu lạ (sêmeion) trong Tin Mừng Gio-an



Bài viết tiếng Pháp và tiếng Anh:

Tác giả: Giuse Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com
Cập nhật, ngày 21 tháng 03 năm 2020.


Nội dung

Dẫn nhập
I. Dấu lạ Đức Giê-su làm
    1. Hoá nước lã thành rượu ngon ở Ca-na (2,1-12)
    2. Cứu sống con trai quan chức nhà vua (4,43-54)
    3. Chữa người đau ốm tại hồ Bết-da-tha (5,1-18)
    4. Hoá bánh và cá ra nhiều (6,1-15)
    5. Đi trên mặt biển hồ Ga-li-lê (6,16-20)
    6. Cho người mù từ thuở mới sinh được thấy (9,1-41)
    7. Gọi La-da-rô ra khỏi mồ (11,1-46)
    8. Mẻ lạ lùng, 153 con (21,1-14)
II. Nói về dấu lạ Đức Giê-su làm
    1. Ni-cô-đê-mô nói về dấu lạ (3,2)
    2. Thượng Hội Đồng nói về dấu lạ (11,47)
    3. Người thuật chuyện nói về dấu lạ
III. Những cách dùng khác của từ “dấu lạ”
    1. Xin Đức Giê-su làm dấu lạ (2,18; 6,30)
    2. Gio-an Tẩy Giả không làm dấu lạ (10,41)
    3. “Các dấu lạ và những điềm thiêng” (4,48)
Kết luận



Dẫn nhập

Thông thường, danh từ Hy-lạp “sêmeion” có nghĩa “dấu chỉ” (signe, sign) cho phép kết luận một điều gì đó mà dấu chỉ nhắm tới. Chẳng hạn, sốt là dấu chỉ bị viêm nhiễm. Từ “dấu chỉ” còn dùng trong các ký hiệu ngôn ngữ hay toán học. Nói chung, “dấu chỉ” chỉ có ý nghĩa khi đặt trong một hệ thống.

Trong Tin Mừng Nhất Lãm (Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca), các trình thuật “phép lạ” chiếm phần quan trọng và làm nên thể văn đặc thù của Tin Mừng Nhất Lãm. Đức Giê-su thực hiện phép lạ chữa lành, phép lạ trên thiên nhiên, phép lạ trừ quỷ, đặc biệt phép lạ làm cho người chết sống lại. Đây là cách Đức Giê-su mặc khải quyền năng của Người trên bệnh tật, trên thiên nhiên và trên sự chết. Tin Mừng Nhất Lãm dùng danh từ Hy-lạp “dunamis” (quyền năng) để chỉ các phép lạ. Các bản dịch dùng từ “phép lạ” để dịch từ “dunamis”. Trong Tin Mừng Mác-cô, Đức Giê-su nói với các môn đệ ở Mc 9,39b: “Không ai làm phép lạ (dunamin) nhờ danh của Thầy và ngay sau đó có thể nói xấu Thầy.” (Xem Tin Mừng Mác-cô Hy Lạp – Việt, 2011). Người thuật chuyện cho biết dân chúng ngạc nhiên về Đức Giê-su ở Mc 6,2: “Đến ngày sa-bát, Người (Đức Giê-su) bắt đầu giảng dạy trong hội đường, nhiều người nghe rất đỗi ngạc nhiên nói rằng: ‘Bởi đâu Ông ta được như thế? Sự  khôn ngoan được ban cho Ông ấy và những phép lạ (hai dunameis) như thế nhờ tay Ông ấy nghĩa là gì?’”

Tin Mừng Gio-an thuật lại một số phép lạ có trong Tin Mừng Nhất Lãm và một số phép lạ không có trong Tin Mừng Nhất Lãm. Điều đáng chú ý là Tin Mừng Gio-an không dùng từ “phép lạ” (dunamis) mà dùng từ “sêmeion” (dấu lạ), nghĩa gốc là “dấu chỉ”. Từ “sêmeion” trong Tin Mừng Gio-an được dịch là “dấu lạ” vì đó là những “phép lạ” Đức Giê-su làm. Từ “dấu lạ” có ý nghĩa quan trọng trong thần học Tin Mừng liên quan đến sứ vụ và căn tính của Đức Giê-su. Người làm các dấu lạ và chính Người cho biết ý nghĩa của dấu lạ như ở Ga 5; 6; 11 (xem phân tích dưới đây).

Từ “dấu lạ” (sêmeion) xuất hiện 17 lần trong Tin Mừng Gio-an ở các nơi: 2,11.18.23; 3,2; 4,48.54; 6,2.14.26.30; 7,31; 9,16; 10,41; 11,47; 12,18.37; 20,30. Trong đó, 11 lần ở số nhiều: “sêmeia” (những dấu lạ) ở 2,11.23; 3,2; 4,48; 6,2.26; 7,31; 9,16; 11,47; 12,37; 20,30; và 6 lần ở số ít: “sêmeion” (dấu lạ) ở 2,18; 4,54; 6,14.30; 10,41; 12,18. Tin Mừng Gio-an thuật lại bao nhiêu dấu lạ? Người thuật chuyện sử dụng từ “dấu lạ” (sêmeion) như thế nào? Các nhân vật trong câu chuyện nhận định ra sao về “các dấu lạ” Đức Giê-su làm? Bài viết trả lời những câu hỏi này qua ba mục: (I) dấu lạ Đức Giê-su làm; (II) nói về dấu lạ Đức Giê-su làm; (III) những cách dùng khác của từ “dấu lạ”.

I. Dấu lạ Đức Giê-su làm

Trong 17 lần từ “sêmeion” (dấu lạ) nêu trên, có 7 lần từ này nói về dấu lạ Đức Giê-su làm (2,11; 4,54; 7,31; 6,14.26; 9,16; 12,18). Có thể nói đến 8 dấu lạ trong Tin Mừng. Trong đó bốn trình thuật được xác định rõ là “dấu lạ”: (1) nước hoá thành rượu ngon (2,11); (2) chữa lành con trai viên quan chức nhà vua (4,54); (3) hoá bánh và cá ra nhiều (6,14); (4) gọi La-da-rô ra khỏi mồ (12,18). Hai dấu lạ được nói đến gián tiếp: (5) chữa lành người 38 năm đau ốm (7,31); (6) cho người mù từ thuở mới sinh được thấy (9,16). Hai trình thuật (7) đi trên mặt biển hồ Ti-bê-ri-a (6,16-20) và (8) mẻ cá lạ lùng (21,1-14) có thể xem là dấu lạ vì sự lạ lùng của sự kiện chứ từ “dấu lạ” không xuất hiện trong hai trình thuật này. Dưới đây là chi tiết 8 dấu lạ theo thứ tự trong bản văn Tin Mừng Gio-an.

    1. Hoá nước lã thành rượu ngon ở Ca-na (2,1-12)

Sau khi Đức Giê-su hoá nước lã thành rượu ngon trong tiệc cưới ở Ca-na (2,1-10), người thuật chuyện cho biết: “Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na, miền Ga-li-lê, Người đã tỏ vinh quang của Người, và các môn đệ của Người đã tin vào Người” (2,11). (Xem Bản văn Gio-an, Tin Mừng và Ba thư, 2011). Câu “Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này” (2,11a) dịch sát tiếng Hy-lạp: “Đây là lần đầu tiên của các dấu lạ (tôn sêmeiôn) Đức Giê-su đã làm” (2,11a). Từ “tôn sêmeiôn” là danh từ “sêmeion” ở thuộc cách (genitive) số nhiều (sêmeiôn) có mạo từ (tôn). Như thế, dấu lạ đầu tiên Đức Giê-su làm tại Ca-na là dấu lạ thứ nhất trong một chuỗi các dấu lạ (số nhiều). Dấu lạ đầu tiên đã gợi đến những dấu lạ khác trong trình thuật Tin Mừng.

    2. Cứu sống con trai quan chức nhà vua (4,43-54)

Dấu lạ thứ hai được nói rõ trong Tin Mừng là câu chuyện Đức Giê-su cứu sống con trai một quan chức nhà vua (4,43-54). Trình thuật này kết như sau: “Đó là dấu lạ (sêmeion) thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ Giu-đê đến Ga-li-lê” (4,54). Dấu lạ thứ hai xảy ra ở Ca-na (4,46), gợi lại dấu lạ thứ nhất ở Ca-na: nước lã hoá thành rượu ngon (2,1-12).

    3. Chữa người đau ốm tại hồ Bết-da-tha (5,1-18)

Đoạn văn 5,1-18 thuật lại việc Đức Giê-su chữa lành người 38 năm đau ốm (5,5). Mặc dù từ “dấu lạ” không xuất hiện trong đoạn văn 5,1-18, nhưng Ga 7 có nhắc đến chữa lành ở ch. 5 (7,14-29) và trong mạch văn, đám đông xem việc chữa lành này là dấu lạ (7,14-36).

Thật vậy, khi tranh luận với  những người Do Thái ở 7,14-29, Đức Giê-su nói với họ 7,23: “Nếu người ta chịu phép cắt bì trong ngày sa-bát để luật Mô-sê không bị vi phạm, sao các ông nổi giận với tôi, vì tôi đã làm cho toàn thân một người được khoẻ mạnh trong ngày sa-bát?” Chi tiết “làm cho toàn thân một người được khoẻ mạnh trong ngày sa-bát?” (7,23b) gợi lại trình thuật chữa lành người 38 năm đau ốm vào ngày sa-bát ở 5,1-18. Sau đó, người thuật chuyện kể lại lời đám đông nói về các dấu lạ Đức Giê-su làm trong câu tóm kết tranh luận ở 7,31: “Trong đám đông, nhiều người đã tin vào Người (Đức Giê-su), họ nói: ‘Khi Đấng Ki-tô đến, Người sẽ làm nhiều dấu lạ (pleiona sêmeia) hơn dấu lạ Ông này đã làm không?’” Mạch văn ch. 7 cho phép hiểu từ cụm từ “nhiều dấu lạ” trong lời của đám đông (7,31b), bao gồm cả dấu lạ Đức Giê-su chữa lành người đau ốm ở 5,1-18.

    4. Hoá bánh và cá ra nhiều (6,1-15)

Dấu lạ thứ tư là hoá bánh và cá ra nhiều (6,1-15). Người thuật chuyện kể ở 6,14: “Khi thấy dấu lạ (sêmeion) Người (Đức Giê-su) làm, người ta nói: ‘Ông này thực sự là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian.’” Sau đó, dân chúng đi tìm và gặp lại Đức Giê-su vào ngày hôm sau (6,22) ở bên kia Biển Hồ (6,25a). Họ nói với Người ở 6,25b: “Thưa Ráp-bi, Thầy đến đây bao giờ?” Đức Giê-su trả lời họ ở 6,26: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Các ông tìm Tôi không phải vì đã thấy những dấu lạ (sêmeia), nhưng vì các ông đã ăn bánh và đã được no nê.” Trong câu này, Đức Giê-su dùng từ “dấu lạ” ở số nhiều, Người nói về dấu lạ bánh hoá nhiều và những dấu lạ khác Người đã làm. Điều trớ trêu là đám đông chỉ thấy sự kiện lạ lùng qua việc bánh và cá hoá nhiều chứ không thấy “dấu lạ”, nghĩa là không hiểu ý nghĩa của dấu lạ. Đức Giê-su sẽ mặc khải ý nghĩa dấu lạ trong diễn từ bánh sự sống (6,25-59).

    5. Đi trên mặt biển hồ Ga-li-lê (6,16-20)

Trình thuật Đức Giê-su đi trên mặt biển hồ Ga-li-lê (6,16-20) tiếp nối dấu lạ bánh và cá hoá nhiều (6,1-15). Chỉ có các môn đệ chứng kiến dấu lạ này. Bản văn không nói rõ biến cố này là dấu lạ. Tuy nhiên trình thuật có hai chi tiết lạ lùng: (1) Đức Giê-su đi trên Biển Hồ và đến với các môn đệ. Người thuật chuyện kể ở 6,19-20: “19 Khi đã chèo được khoảng 25 đến 30 dặm, các ông (các môn đệ) thấy Đức Giê-su đi trên Biển Hồ và đang tới gần thuyền, các ông sợ hãi. 20 Nhưng Người nói với các ông: ‘Chính là Thầy, đừng sợ!’” (2) Chi tiết lạ lùng thứ hai là cách thức thuyền được đưa vào bờ. Người thuật chuyện kể ở 6,21: “Các ông (các môn đệ) muốn đưa Người (Đức Giê-su) lên thuyền, và ngay lúc đó thuyền đã tới đất liền nơi các ông đi đến.” Qua hai chi tiết lạ lùng này, có thể xem trình thuật Đức Giê-su đi trên mặt biển hồ Ti-bê-ri-a (6,16-20) là dấu lạ.

    6. Cho người mù từ thuở mới sinh được thấy (9,1-41)

Dấu lạ thứ năm là Đức Giê-su chữa người mù từ thuở mới sinh (9,1-41). Trình thuật chữa lành (9,6-7) không dùng từ “dấu lạ”, nhưng trong phần tranh luận (9,8-34), những người Pha-ri-sêu xem việc “người mù từ thuở mới sinh được thấy” là dấu lạ. Người thuật chuyện kể ở 9,16: “Vậy một số người trong nhóm Pha-ri-sêu nói: ‘Ông ta (Đức Giê-su) không phải là người đến từ Thiên Chúa, vì Ông ta không giữ ngày sa-bát.’ Những người khác nói: ‘Làm sao một người tội lỗi có thể làm được những dấu lạ (sêmeia) như thế?’ Và đã có sự chia rẽ giữa họ.” Danh từ “dấu lạ” ở số nhiều: “những dấu lạ” (9,16), vừa nói về dấu lạ ngay trước đó (người mù được thấy), vừa gợi về các dấu lạ khác Đức Giê-su đã làm.

    7. Gọi La-da-rô ra khỏi mồ (11,1-46)

Dấu lạ thứ sáu là gọi La-da-rô ra khỏi mồ (11,1-46). Bản văn xác định việc Đức Giê-su làm là “dấu lạ” trong trình thuật Đức Giê-su vào thành Giê-ru-sa-lem (12,12-19). Đám đông cầm nhành lá thiên tuế đón Đức Giê-su vào Giê-ru-sa-lem và làm chứng về dấu lạ La-da-rô sống lại. Người thuật chuyện kể ở 12,17-18: “17 Vậy đám đông làm chứng, họ là những người đã có mặt với Người (Đức Giê-su), khi Người gọi La-da-rô ra khỏi mồ và làm cho anh ấy trỗi dậy từ giữa những kẻ chết. 18 Vì lẽ đó, đám đông đến đón Người, bởi họ nghe biết Người làm dấu lạ (sêmeion) đó.” Dấu lạ này đặc biệt quan trọng, vì là dấu lạ cuối cùng trong sứ vụ của Đức Giê-su. Người thực hiện dấu lạ này để mặc khải về ý nghĩa “sự chết” và “sự sống lại” của Người cũng như “sự chết” và “sự sống” của người tin qua mọi thời đại. Đức Giê-su gọi La-da-rô ra khỏi mồ để minh hoạ cho điều Người đã mặc khải cho Mác-ta trước đó, ở 11,25-26a: “25 Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống, 26a và tất cả những ai sống và tin vào Thầy, muôn đời sẽ không chết.”

    8. Mẻ lạ lùng, 153 con (21,1-14)

Tương tự như trình thuật Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ (6,16-20), trình thuật mẻ cá lạ lùng ở cuối sách Tin Mừng (21,1-14), cũng ở biển hồ Ti-bê-ri-a, không được bản văn nói rõ là dấu lạ. Tuy nhiên câu chuyện xảy ra cách lạ lùng như sau: Các môn đệ đánh cá suốt đêm mà không bắt được gì (21,3d). Khi trời sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển và nói với họ: “Hãy thả lưới bên phải mạn thuyền, và anh em sẽ tìm thấy” (21,6a). Sự lạ lùng đã xảy ra qua lời kể của người thuật chuyện ở 21,6b: “Vậy các ông thả lưới, và rồi không sao kéo lên nổi vì đầy cá.” Nên có thể xem câu chuyện này là dấu lạ thứ 8 trong Tin Mừng.

II. Nói về dấu lạ Đức Giê-su làm

Từ “sêmeion” (dấu lạ) xuất hiện 6 lần trong Tin Mừng để nói về các dấu lạ Đức Giê-su làm (3,2; 11,47; 2,23; 6,2; 12,37; 20,30) và được xếp vào ba trường hợp: (1) Ni-cô-đê-mô nói về dấu lạ của Đức Giê-su (1 lần, 3,2); (2) Thượng Hội Đồng Do Thái nói về dấu lạ (1 lần, 11,47); (3) người thuật chuyện nói về dấu lạ (4 lần, 2,23; 6,2; 12,37; 20,30).

    1. Ni-cô-đê-mô nói về dấu lạ (3,2)

Trong trình thuật 3,1-12, Ni-cô-đê-mô đến gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông ấy nói với Đức Giê-su về các dấu lạ ở 3,2: “Thưa Ráp-bi, chúng tôi biết rằng:  Ngài là một vị Thầy đến từ Thiên Chúa, vì không ai có thể làm được những dấu lạ (sêmeia) Ngài làm, nếu Thiên Chúa không ở với người ấy.” Ngay từ đầu sách Tin Mừng (ch. 3), Ni-cô-đê-mô là một trong những người Pha-ri-sêu và là một thủ lãnh những người Do Thái, đã biết đến Đức Giê-su như là “người làm các dấu lạ.” Sau dấu lạ nước lã hoá thành rượu ngon ở Ca-na (2,1-12) và trước khi bắt đầu câu chuyện Ni-cô-đê-mô đầu ch. 3, người thuật chuyện tóm kết ở 2,23: “Trong lúc Người ở Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt Qua, nhiều kẻ đã tin vào danh của Người khi thấy các dấu lạ mà Người đã làm.” Vậy Đức Giê-su đã làm những dấu lạ khác không được thuật lại trong Tin Mừng, nên Ni-cô-đê-mô đã dùng từ “dấu lạ” ở số nhiều khi nói với Đức Giê-su ở 3,2b: “không ai có thể làm được những dấu lạ (sêmeia) Ngài làm.” Dấu lạ là đề tài quan trọng trong Tin Mừng, Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ, và cũng vì dấu lạ mà Người bị Thượng Hội Đồng Do Thái kết án chết (11,47-53).

    2. Thượng Hội Đồng nói về dấu lạ (11,47)

Nhóm nhân vật “các thượng tế và những người Pha-ri-sêu” xác nhận Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ. Sau dấu lạ gọi La-da-rô ra khỏi mồ (11,1-46), nhóm này đã triệu tập Thượng Hội Đồng và nói với nhau về Đức Giê-su ở 11,47b-48: “47b Chúng ta làm gì đây vì người này (Đức Giê-su) làm nhiều dấu lạ (polla sêmeia)? 48 Nếu chúng ta cứ để Ông ấy như thế tất cả sẽ tin vào Ông ấy, và người Rô-ma sẽ đến, họ sẽ huỷ diệt nơi thánh và dân tộc chúng ta.” Sau đó họ làm theo đề nghị của Cai-pha ở 11,49b-50: “49b Các ông không biết gì cả, 50 các ông cũng chẳng nghĩ rằng: Điều lợi cho các ông là một người chết cho dân và toàn thể dân tộc không bị tiêu diệt.” Người thuật chuyện cho biết lựa chọn cuối cùng của Thượng Hội Đồng Do Thái ở 11,53: “Vậy từ ngày đó, họ quyết định giết Người (Đức Giê-su).” Như thế, Đức Giê-su bị kết án chết vì những dấu lạ Người đã làm. Dấu lạ dẫn Người đến cái chết là dấu lạ gọi La-da-rô ra khỏi mồ (11,1-46). Điều nghịch lý và nét châm biếm là Người làm cho người khác sống lại thì sắp phải chết. Nghịch lý này cho độc giả thấy hai mặc khải quan trọng: (1) Về phía Đức Giê-su, khi gọi La-da-rô ra khỏi mồ Người bày tỏ quyền năng của Người trên sự chết. Nghĩa là Người bị giết chết nhưng Người sẽ sống lại. (2) Về phía người tin, Đức Giê-su không đề cao sự sống thể lý khi gọi La-da-rô ra khỏi mồ nhưng để khẳng định lời Người nói với Mác-ta ở 11,25-26a là có cơ sở để tin (xem trích dẫn trên đây).

    3. Người thuật chuyện nói về dấu lạ

Người thuật chuyện dùng từ “sêmeion” (dấu lạ) bốn lần (2,23; 6,2; 12,37; 20,30) để nói về các dấu lạ Đức Giê-su làm. Lần thứ nhất trong phần tóm kết cuối ch. 2 ở 2,23-25: “23 Trong lúc Người (Đức Giê-su) ở Giê-ru-sa-lem vào dịp lễ Vượt Qua, nhiều kẻ đã tin vào danh của Người khi thấy các dấu lạ mà Người đã làm. 24 Nhưng Đức Giê-su, chính Người không tin họ, vì Người biết tất cả, 25 và Người không cần có ai làm chứng về con người, vì chính Người biết có gì nơi con người.” Nhiều người đã tin vào Đức Giê-su khi thấy những dấu lạ (sêmeia) Người làm, nhưng Đức Giê-su đã không tin vào niềm tin của họ. Đây là trường hợp tin nhờ dấu lạ nhưng chưa phải là lòng tin đích thực. Lòng tin này cần được củng cố thêm qua việc lắng nghe và đón nhận giáo huấn Đức Giê-su. (Xem bài viết: “Tin (pisteuô) trong Tin Mừng Gio-an”).

Lần thứ hai ở đầu ch. 6. Trong chương này từ “dấu lạ” xuất hiện nhiều nhất (4 lần: 6,2.14.26.30) trong Tin Mừng. Dấu lạ bánh và cá hoá nhiều (6,4-15) mở đầu bằng việc nhắc lại “những dấu lạ Đức Giê-su đã làm” (6,2). Người thuật chuyện kể ở 6,1-3: “1 Sau những điều đó, Đức Giê-su đi qua bên kia biển hồ Ga-li-lê, gọi là Ti-bê-ri-a. 2 Một đám đông lớn đi theo Người, vì họ đã thấy những dấu lạ (sêmeia) Người làm cho những kẻ đau ốm. 3 Đức Giê-su lên núi và ngồi ở đó với các môn đệ của Người.” Như thế, dấu lạ hoá bánh và cá ra nhiều được nối kết với các dấu lạ khác, đặc biệt là hai dấu lạ chữa lành trước đó: chữa người đau ốm tại hồ Bết-da-tha (5,1-18) và cứu sống con trai quan chức nhà vua (4,43-54).

Lần thứ ba người thuật chuyện dùng từ “dấu lạ” ở 12,37. Những dấu lạ Đức Giê-su làm không nhất thiết làm cho người chứng kiến tin vào Người. Người thuật chuyện tóm kết sứ vụ rao giảng của Đức Giê-su ở 12,37: “Người (Đức Giê-su) đã làm quá nhiều dấu lạ (sêmeia) trước mặt họ, mà họ không tin vào Người.” Nhận xét này vừa gợi lại xung đột trong Tin Mừng, vì bản văn được trình bày như một vụ kiện giữa ánh sáng và bóng tối; vừa hướng về biến cố Giờ của Đức Giê-su: Thương Khó – Phục Sinh, vì biến cố này giúp độc giả nhận ra Đức Giê-su thực sự là ai. Như thế câu 12,37 vừa tóm kết sứ vụ, vừa dẫn vào các diễn từ từ biệt (Ga 13–17). Vì không đón nhận, không tin vào Đức Giê-su mà những kẻ chống đối đã tìm cách giết Người. Tuy nhiên theo thần học Tin Mừng, giờ Thương Khó của Đức Giê-su là giờ Người được tôn vinh (12,23; 13,31-32; 17,1).

Lần thứ tư, người thuật chuyện kết luận sách Tin Mừng bằng cách đề cao “những dấu lạ Đức Giê-su đã làm” ở 20,30-31: “30 Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ (sêmeia) khác trước mặt các môn đệ [của Người]; chúng không được ghi chép trong sách này. 31 Còn những điều đã được ghi chép là để anh em tin rằng: Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa; và nhờ tin, anh em có sự sống trong danh của Người.”

Tóm lại, sách Tin Mừng Gio-an mở đầu bằng dấu lạ (2,11), phần lớn nội dung Tin Mừng thuật lại các dấu lạ (ch 4–9), sứ vụ rao giảng của Đức Giê-su kết thúc bằng dấu lạ (ch. 11) và cuối cùng, kết luận sách Tin Mừng nói đến dấu lạ (20,30). Vậy “dấu lạ” là một trong những đề tài chính của Tin Mừng Gio-an. Ngoài ra còn có một số cách dùng khác của từ “sêmeion”.

III. Những cách dùng khác của từ “dấu lạ”

Từ “sêmeion” (dấu lạ) trong Tin Mừng còn được nói đến theo quan điểm của người khác và theo nghĩa khác. Phần sau sẽ tìm hiểu ba trường hợp: (1) người ta xin Đức Giê-su làm dấu lạ (2 lần, 2,18; 6,30); (2) Tin Mừng cho biết Gio-an Tẩy Giả không làm dấu lạ (1 lần, 10,41); (3) Đức Giê-su dùng kiểu nói “các dấu lạ và những điềm thiêng (sêmeia kai terata)” (1 lần, 4,48).

    1. Xin Đức Giê-su làm dấu lạ (2,18; 6,30)

Hai lần (2,18; 6,30) từ “dấu lạ” (ở số ít) ở cho biết các khán thính giả đòi Đức Giê-su làm dấu lạ. Sau khi Đức Giê-su đuổi những kẻ buôn bán khỏi Đền Thờ (2,13-17), những người Do Thái chất vấn Người ở 2,18: “Bằng dấu lạ (sêmeion) nào Ông chứng tỏ cho chúng tôi là Ông có quyền làm những điều đó?” Lần thứ hai ở trong diễn từ bánh sự sống (6,25-59). Sau khi đám đông chứng kiến dấu lạ hoá bánh và cá ra nhiều (6,1-15), họ gặp lại Đức Giê-su ngày hôm sau (6,25). Trình thuật tiếp theo là diễn từ bánh sự sống (6,25-59). Trong phần này đám đông hỏi Đức Giê-su ở 6,30: “Vậy chính Ông, Ông làm dấu lạ (sêmeion) nào để chúng tôi thấy và chúng tôi tin Ông? Ông sẽ làm việc gì?” Cả hai trường hợp xin Đức Giê-su làm dấu lạ trên đây (2,18; 6,30) đều đặt trong bối cảnh thách thức và xung đột, vì thế Đức Giê-su đã không thực hiện dấu lạ nào cho họ.

    2. Gio-an Tẩy Giả không làm dấu lạ (10,41)

Trong lần tranh luận cuối cùng giữa Đức Giê-su và những người Do Thái ở 10,22-38, họ tìm cách bắt Đức Giê-su, nhưng người thuật chuyện cho biết ở 10,39b-40: “39b Người (Đức Giê-su) đã thoát khỏi tay họ. 40 Người lại ra đi, sang bên kia Gio-đan, đến chỗ trước kia Gio-an đã làm phép rửa, và Người ở lại đó.” Người thuật chuyện kể tiếp về thái độ dân chúng ở 10,41-42: “41 Nhiều người đến với Người (Đức Giê-su) và họ nói rằng: ‘Gio-an đã không làm một dấu lạ (sêmeion) nào cả, nhưng mọi điều Gio-an nói về người này là thật.’ 42 Ở đó, nhiều người đã tin vào Người.” Nhận định này gợi đến những dấu lạ Đức Giê-su đã làm theo nghĩa Gio-an Tẩy Giả không làm dấu lạ, nhưng Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ. Điều này được minh chứng qua sáu dấu lạ Đức Giê-su đã thực hiện trước đó (từ ch. 2 đến ch. 9). Hơn nữa, bản văn còn nói tới nhiều dấu lạ khác không được kể lại trong Tin Mừng (2,23; 20,30).

    3. “Các dấu lạ và những điềm thiêng” (4,48)

Trong Tin Mừng Gio-an, từ “dấu lạ” (sêmeion) xuất hiện 1 lần trong cụm từ “các dấu lạ và những điềm thiêng” (sêmeia kai terata) ở 4,48. Khi viên quan chức nhà vua xin chữa bệnh cho đứa con trai ở Ca-phác-na-um (4,46-47), Đức Giê-su nói với ông ấy ở 4,48: “Nếu các ông không thấy các dấu lạ và những điềm thiêng (sêmeia kai terata), chắc chắn các ông không tin.” Tuy nhiên, sau đó Đức Giê-su đã chữa lành con trai của viên quan chức nhà vua bằng một lời nói. Người thuật chuyện kể ở 4,50: “Đức Giê-su nói với ông ấy: ‘Ông hãy đi về, con ông sống.’ Người này tin vào lời Đức Giê-su nói với mình và đi về.”

Trong Tin Mừng Nhất Lãm, cụm từ “các dấu lạ và những điềm thiêng” xuất hiện trong diễn từ cánh chung (Mc 13,22; Mt 24,24). Đức Giê-su nói với các môn đệ ở Mc 13,22: “Vì sẽ có những Ki-tô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, làm các dấu lạ và những điềm thiêng (sêmeia kai terata) để lừa gạt những người được tuyển chọn, nếu có thể.” Từ “dấu lạ” trong cụm từ trên có nghĩa khác với từ “dấu lạ” (sêmeion) trong thần học Tin Mừng Gio-an như đã trình bày.

Kết luận

Trong Tin Mừng Gio-an, 17 lần từ “sêmeion” xuất hiện trong ba trường hợp:

(1) Các dấu lạ Đức Giê-su làm (7 lần) liên quan đến 6 dấu lạ:
- Dấu lạ nước hoá thành rượu ngon, 1 lần 2,11.
- Dấu lạ cứu sống con trai một viên quan chức, 1 lần: 4,54.
- Dấu lạ chữa người 38 năm đau ốm, 1 lần: 7,31.
- Dấu lạ bánh và cá hoá nhiều, 2 lần: 6,14.26.
- Dấu lạ chữa người mù từ thuở mới sinh, 1 lần: 9,16.
- Dấu lạ gọi La-da-rô ra khỏi mồ, 1 lần: 12,18.

(2) Người khác nói về dấu lạ Đức Giê-su làm (6 lần)
- Ni-cô-đê-mô nói, 1 lần: 3,2.
- Thượng Hội Đồng Do Thái, 1 lần: 11,47.
- Người thuật chuyện, 4 lần: 2,23; 6,2; 12,37; 20,30.

(3) Cách dùng khác của từ “sêmeion” (4 lần)
- Xin Đức Giê-su làm dấu lạ, 2 lần: 2,18; 6,30. 
- Gio-an Tẩy giả không làm dấu lạ, 1 lần: 10,41.
- Kiểu nói: “các dấu lạ và những điềm thiêng”, 1 lần: 4,48.

Những cách dùng từ “dấu lạ” (sêmeion) như trên cho thấy đề tài “dấu lạ” phong phú và khá phức tạp. Cần đặt từ này trong bối cảnh từng đoạn văn để hiểu ý nghĩa của chúng. Các nhân vật trong Tin Mừng nói đến “dấu lạ” với cách hiểu khác nhau. Các thượng tế và những người Pha-ri-sêu nói về dấu lạ (11,47), nhưng họ không hiểu dấu lạ theo nghĩa như Đức Giê-su muốn. Vì nếu họ thực sự hiểu ý nghĩa dấu lạ Đức Giê-su làm thì họ đã tin vào Người.

Người thuật chuyện lựa chọn thuật lại một số dấu lạ và kèm theo diễn từ của Đức Giê-su, giúp độc giả hiểu ý nghĩa dấu lạ. Chẳng hạn, diễn từ sau dấu lạ chữa lành người 38 năm đau ốm (ch. 5), diễn từ sau dấu lạ bánh và cá hoá nhiều (ch. 6), tranh luận sau dấu lạ chữa lành người mù từ thuở mới sinh (ch. 9). Ở ch. 11, Đức Giê-su mặc khải ý nghĩa dấu lạ (11,25-26) trước khi gọi La-da-rô ra khỏi mồ (11,43). Với lối trình bày độc đáo: “dấu lạ – diễn  từ” như trên làm cho thần học về “dấu lạ” trong Tin Mừng Gio-an khác với nghĩa của từ “sêmeion” (signe) trong Tin Mừng Nhất lãm hay trong các bản văn khác của Tân Ước.

Tin Mừng thuật lại bảy dấu lạ trong 12 chương đầu (Ga 1–12) và một dấu lạ trong chương cuối (ch. 21). Dựa vào đặc điểm này, người ta thường gọi 12 chương đầu sách Tin Mừng (Ga 1–12) là “Sách Các Dấu Lạ”, phần Ga 13–21 là “Sách Giờ Tôn Vinh”. Một số tác giả xem hai trình thuật: thanh tẩy đền thờ (2,13-22) và rửa chân cho các môn đệ (13,1-19) là dấu chỉ (sêmeion). Tuy nhiên, hai đoạn văn này không có yếu tố lạ lùng của phép lạ nên không phải là “dấu lạ” theo thần học Tin Mừng.

Mỗi dấu lạ mặc khải một số khía cạnh liên quan đến ba câu hỏi về Đức Giê-su: Người từ đâu tới? Người là ai? Sứ vụ là gì? Đặc biệt các dấu lạ Đức Giê-su làm có liên hệ mật thiết với biến cố thập giá. Ngay từ dấu lạ đầu tiên (hoá nước lã thành rượu ngon) Đức Giê-su đã nói về “Giờ” của Người (2,4) và người thuật chuyện nói về việc bày tỏ “vinh quang” (2,11). Hai đề tài “Giờ” và “vinh quang” gợi đến biến cố Thương Khó – Phục Sinh. Dấu lạ cuối trong sứ vụ rao giảng (gọi La-da-rô ra khỏi mồ) đã dẫn tới quyết định của Thượng Hội Đồng Do Thái: Đức Giê-su phải chết (11,47-53). Nói cách khác, các dấu lạ dẫn Đức Giê-su đến biến cố Giờ của Người và ngược lại biến cố Giờ tôn vinh trên thập giá giúp độc giả hiểu ý nghĩa đích thực của các dấu lạ. Thương Khó – Phục Sinh là biến cố nền tảng bày tỏ căn tính của Đức Giê-su. Vì thế, sau khi thuật lại các dấu lạ và biến cố Giờ của Đức Giê-su, tác giả kết luận sách ở 20,31: “Còn những điều đã được ghi chép là để anh em tin rằng: Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa; và nhờ tin, anh em có sự sống trong danh của Người.” Qua trình thuật các dấu lạ, độc giả được mời gọi tin vào Đức Giê-su để có sự sống đích thực, vì mục đích của dấu lạ là “để anh em tin” (20,21a).

Về thần học, có thể nói trong Tin Mừng Gio-an chỉ có “dấu lạ” chứ không có “phép lạ”, bởi vì người thuật chuyện cố ý dùng từ “dấu lạ” (sêmeion), không dùng từ “phép lạ” (dunamis). Vì thế, nếu độc giả dùng từ “phép lạ” để nói về “dấu lạ” trong Tin Mừng Gio-an thì chưa cảm nhận được nét thần học độc đáo về “dấu lạ” của Tin Mừng này./.


2 nhận xét:

  1. Mây trắng15:58, 08/08/2014

    Thưa cha giáo, cám ơn cha qua bài viết này con mới hiểu được Tin mừng Thánh Gioan chỉ nói về dấu lạ, mà mỗi dấu lạ lại được mặc khải một số khía cạnh liên quan đến ba câu hỏi quan trọng: Đức Giê-su từ đâu tới? Người là ai? Sứ vụ của Người là gì? vậy đây có phải là điểm chính trong Tin mừng Gioan không ??? con xin Chúa ban cho cha giáo nhiều sức khỏe.

    Trả lờiXóa
    Trả lời
    1. Cảm ơn độc giả đã nhận xét.
      Đúng như vậy, dấu lạ là một trong những đề tài độc đáo riêng của Tin Mừng Gio-an. Còn nhiều đề tài khác riêng của Tin Mừng này chẳng hạn kiểu nói “Ta là”, xem bài viết: “Ta là (egô eimi) trong Tin Mừng Gio-an” tại địa chỉ:
      http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2014/03/ta-la-ego-eimi-trong-tin-mung-gio-an.html

      Xóa