22/03/2020

Khủng hoảng và giải pháp (TM Gio-an)



Bài viết tiếng Pháp và tiếng Anh:

Tác giả: Giuse Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com
Cập nhật, ngày 22 tháng 03 năm 2020.


Nội dung

Dẫn nhập
I. Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng
    1. Lời Đức Giê-su
    2. Thuộc về “bóng tối”
    3. Không hiểu biết
    4. Nghĩ rằng Đức Giê-su vắng mặt
    5. Bị thù ghét và bách hại
II. Giải pháp để giữ vững niềm tin
    1. Hiểu và sống lời Đức Giê-su
    2. Ở lại trong nhau với Đức Giê-su
    3. Có Đức Giê-su, Cha, Đấng Pa-rác-lê ở lại với mình
    4. Sống bình an và niềm vui Đức Giê-su ban tặng
    5. Để Đấng Pa-rác-lê hoạt động nơi mình
Kết luận



Dẫn nhập

“Tin” (pisteuô) là đề tài quan trọng trong Tin Mừng Gio-an vì mục đích sách Tin Mừng là “để anh em tin” (20,31), xem bài viết: “Tin (pisteuô) trong Tin Mừng Gio-an.” Tuy nhiên tin vẫn chưa đủ, vấn đề là làm thế nào để giữ vững niềm tin trong hoàn cảnh khó khăn, thử thách. Bài viết trình bày đóng góp của Tin Mừng Gio-an về đề tài “khủng hoảng và giải pháp” qua hai mục: (I) nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng; (II) giải pháp để giữ vững niềm tin.

I. Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng

Có nhiều yếu tố trong Tin Mừng cho thấy tình trạng khủng hoảng nơi các môn đệ. Có thể liệt kê đến năm nguyên nhân gây khủng hoảng: (1) lời Đức Giê-su; (2) thuộc về “bóng tối”; (3) không hiểu biết; (4) nghĩ rằng Đức Giê-su vắng mặt; (5) bị thù ghét và bách hại.

    1. Lời Đức Giê-su

Khủng hoảng vì giáo huấn của Đức Giê-su được trình bày cách mạnh mẽ trong ch. 6. Cấu trúc chương này gồm bốn phần: (1) Trước hết, Đức Giê-su làm dấu lạ hoá bánh và cá ra nhiều cho hơn năm ngàn người ăn no (6,1-15). (2) Sau đó, Người bày tỏ quyền năng bằng dấu lạ đi trên mặt biển hồ Ti-bê-ri-a để đến với các môn đệ trong đêm tối (6,16-21) vào lúc “biển đầy gió lớn đang thổi và giật mạnh” (6,18). (3) Tiếp theo là diễn từ bánh sự sống (6,25-59). (4) Phần cuối ch. 6 trình bày phản ứng của các môn đệ sau khi nghe diễn từ (6,60-71).

Qua trao đổi và thắc mắc của đám đông và những người Do Thái, Đức Giê-su mặc khải về nguồn gốc và sứ vụ của Người trong diễn từ. Theo mạch văn, các môn đệ hiện diện với Đức Giê-su trong ch. 6. Theo định nghĩa “môn đệ” (mathêtês) là người đi theo và tin vào Đức Giê-su. Trong ch. 6 từ “môn đệ” xuất hiện 4 lần (6,16.60.61.66), họ đã chứng kiến hai dấu lạ (6,1-15; 6,16-21) và nghe diễn từ bánh sự sống (6,25-59). Từ những gì đã thấy và đã nghe, nhiều người trong số các môn đệ đã thốt lên ở 6,60: “Lời này chướng tai quá! Ai có thể nghe nổi?” (Xem Bản văn Gio-an, Tin Mừng và Ba thư Hy Lạp – Việt). Điều đáng tiếc đã xảy ra khi người thuật chuyện cho biết ở 6,66: “Từ lúc đó, nhiều môn đệ của Người bỏ đi và không còn đi với Người nữa.” Quyết định thôi không làm môn đệ nữa là khủng hoảng lớn về niềm tin. Tại sao lại quyết định bỏ đi?

Trong diễn từ (6,25-59), các môn đệ và độc giả biết nhiều điều về nguồn gốc và căn tính Đức Giê-su: Người là ai, từ đâu tới và làm gì cho con người... Tuy nhiên lời Đức Giê-su đầy nghịch lý. Nguồn gốc của Người là nghịch lý, vì Người vừa là con ông Giu-se (6,42) vừa là Đấng từ trời xuống (6,38). Sứ vụ của Đức Giê-su nghịch lý, vì kiểu nói “ăn thịt và uống máu” (6,54) gợi về biến cố thập giá. Người khẳng định ở 6,54: “Ai ăn thịt Tôi và uống máu Tôi, thì có sự sống đời đời, và Tôi sẽ làm cho người ấy sống lại vào ngày sau hết”. Như thế, chỉ người tin vào Đức Giê-su và hiệp thông với Người trong biến cố Thương Khó – Phục Sinh, mới có sự sống đời đời. Điều nghịch lý là tại sao lại phải chết để ban sự sống? Người chết mà ban sự sống được sao?

Nhiều môn đệ đã  không chịu nổi những nghịch lý trên nên đã xầm xì: “Lời này chướng tai quá! Ai có thể nghe nổi?” (6,60). Trong mạch văn cụm từ “lời này” (ho logos houtos) chỉ về toàn bộ diễn từ bánh sự sống (6,25-59). Sau lời xầm xì, người thuật chuyện cho biết ở 6,61: “Đức Giê-su tự mình biết là các môn đệ của Người đang xầm xì về điều ấy, Người nói với các ông: ‘Điều đó làm anh em vấp ngã sao?’” Nhiều môn đệ đã vấp ngã vì lời Đức Giê-su. Nói cách khác, chính lời Đức Giê-su dẫn đến khủng hoảng niềm tin. Nhiều môn đệ không vượt qua được thử thách này, nên đã quyết định thôi, không làm môn đệ Đức Giê-su nữa. Họ vấp ngã vì đã hiểu lời Đức Giê-su theo nghĩa “xác thịt” mà “xác thịt thì chẳng có ích gì” như Người nói ở 6,63: “Thần khí thì làm cho sống, xác thịt chẳng có ích gì. Những lời chính Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống.” Nhiều môn đệ vấp ngã vì không đón nhận giáo huấn của Thiên Chúa như là điều kiện để đến với Đức Giê-su và tin vào Người. Đức Giê-su nói về điều này ở 6,44a: “Không ai có thể đến với Tôi, nếu Cha là Đấng đã sai Tôi, không lôi kéo người ấy”; và ở 6,45b: “Mọi người nghe Cha và đón nhận giáo huấn của Người thì đến với Tôi.” (Xem phân tích đề tài “Ga 6,22-71: ‘Thánh Thể’, lý trí và đức tin” trong Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, tr. 110-146).

Đoạn văn 6,60-71 gồm hai tiểu đoạn: Đức Giê-su (1) nói với “nhiều môn đệ” (1,60-66); và (2) nói với Nhóm Mười Hai (6,67-71). Vậy bên cạnh Nhóm Mười Hai còn có nhiều môn đệ khác. Nhiều môn đệ không thuộc Nhóm Mười Hai đã vấp ngã, còn Nhóm Mười Hai thì sao? Đức Giê-su hỏi họ ở 6,67: “Phần anh em, anh em không muốn bỏ đi sao?” Si-môn Phê-rô đại diện Nhóm tuyên xưng niềm tin ở 6,68-69: “68 Thưa Thầy, chúng con sẽ bỏ đi với ai? Thầy có những lời đem lại sự sống đời đời. 69 Phần chúng con, chúng con đã tin và đã nhận biết rằng: Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa.”

Nhiều môn đệ bỏ đi ở 6,66 và lời tuyên xưng niềm tin ở 6,68-69 cho thấy hai cách hiểu đối lập nhau về lời Đức Giê-su. Theo nhiều môn đệ, lời Đức Giê-su là “lời chướng tai”, ngược lại Nhóm Mười Hai lại xác nhận đó là “lời đem lại sự sống đời đời.” Vậy cách thức và thái độ nghe đã dẫn đến tin hay không tin. Nói cách khác, nếu không biết cách nghe lời Đức Giê-su, thì chính lời của Người trở thành nguyên nhân vấp ngã. Ở 6,70, Đức Giê-su báo trước khủng hoảng khác: để mình thuộc về “bóng tối”.

    2. Thuộc về “bóng tối”

Sau khi Si-môn Phê-rô tuyên xưng niềm tin (6,68-69), Đức Giê-su không khen mà lại báo trước khủng hoảng về lòng trung tín của Nhóm Mười Hai. Người nói với họ ở 6,70: “Chẳng phải chính Thầy đã chọn anh em là Nhóm Mười Hai sao? Thế mà một người trong anh em là quỷ.” Cuộc trao đổi kết thúc đột ngột ở đây. Lời này là yếu tố gây khủng hoảng giữa Nhóm Mười Hai, bởi vì tuyên xưng niềm tin vừa nói ra (6,68-69) không thể dung hoà với ý tưởng “một người trong anh em là quỷ” (6,70b), nghĩa là một thành viên trong Nhóm Mười Hai thuộc về bóng tối, thuộc về quỷ và làm công việc của quỷ (8,44a). Với những người Do Thái đang tìm cách giết Đức Giê-su (8,37.40), Người nói với họ ở 8,44a: “Các ông thuộc về quỷ là cha các ông, và các ông muốn làm những ước muốn của cha các ông.” Hành động tìm giết Đức Giê-su làm cho họ thuộc về quỷ, có cha là quỷ và đang làm công việc của quỷ (8,44a). Trong viễn cảnh này, khi nói “một người trong anh em là quỷ” (6,70b), Đức Giê-su báo trước một thành viên của Nhóm sẽ nộp Thầy.

Ai là quỷ ở 6,70? Nhóm Mười Hai là nhân vật trong câu chuyện, nên chưa biết ai là quỷ trong số họ. Đức Giê-su không giải thích gì thêm cho họ sau câu 6,70. Điều này gây khủng hoảng trong nội bộ Nhóm Mười Hai. Không ai biết, nhưng có “quỷ” ở giữa Nhóm. Đức Giê-su sẽ cho các môn đệ biết người đó là ai trong bữa tiệc ly ở 13,26, nhưng ở 6,70, các ông chưa biết ai là quỷ. Người thuật chuyện ưu đãi độc giả khi ngưng kể chuyện và giải thích ở 6,71: “Người (Đức Giê-su) nói về Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt; vì ông ấy sẽ nộp Người, một người trong Nhóm Mười Hai.” Độc giả biết ai là quỷ vì câu 6,71 dành cho độc giả chứ không cho nhân vật trong câu chuyện.

Trong Tin Mừng, nhân vật Giu-đa là yếu tố gây khủng hoảng với chính ông và với nhóm các môn đệ. Đoạn văn 13,1-32, cung cấp đôi nét về nhân vật này. Giu-đa được trình bày qua bốn tương quan: (1) với gia đình, ông được gọi là “Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt” (6,71a); (2) với Đức Giê-su, ông được gọi là “kẻ nộp (paradidômi) Thầy” (6,64; 13,2.11.21); (3) với Nhóm Mười Hai, ông được gọi là “một người trong Nhóm Mười Hai” (6,71b); (4) với thế lực bóng tối, ông là “quỷ” (6,70b). Tương quan thứ tư này được nhấn mạnh trong bản văn 13,1-32.

Thật vậy, trình thuật rửa chân mở đầu ở 13,2: “Trong bữa ăn, quỷ đã gieo vào lòng Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt, ý định nộp Người (Đức Giê-su).” Sau đó, khi Đức Giê-su chấm miếng bánh và trao cho Giu-đa như là dấu hiệu để các môn đệ biết ai là kẻ sẽ nộp Thầy (13,26), người thuật chuyện kể ở 13,27a: “Và khi nhận miếng bánh, Xa-tan liền nhập vào ông ấy (Giu-đa).” Trong Tin Mừng, chuyện Giu-đa tiến triển qua bốn giai đoạn: (1) Đức Giê-su cho biết Giu-đa là quỷ ở 6,70. (2) Đến 13,2 thì quỷ đã gieo vào lòng ông ý định nộp Đức Giê-su. (3) Sau khi đã nhận miếng bánh Đức Giê-su trao, thì Xa-tan đã nhập vào ông ở 13,27. (4) Cuối cùng, ông ra đi thực hiện công việc của quỷ; chuyện Giu-đa kết thúc ở 13,30: “Sau khi nhận lấy miếng bánh, ông ấy đi ra ngay lập tức. Lúc đó, trời đã tối.” Giu-đa xuất hiện trở lại ở 18,1-3, ông dẫn một cơ đội đến bắt Đức Giê-su (18,3). Ông đã để mình thuộc về quỷ, thuộc về Xa-tan. Đây là hai cách gọi thế lực chống lại Thiên Chúa. Bản Kinh Thánh LXX (la Septante) dịch tiếng Híp-ri “Satan” (Xa-tan) sang Hy-lạp: “diabolos” (quỷ). Xem bài viết “Xa-tan (Satanas), quỷ (diabolos, daimonion), Ác thần (ponêros) trong Kinh Thánh.”

Giu-đa đã để mình thuộc về thế lực đen tối và ông đi vào đêm tối để làm công việc của quỷ (x. 8,44). Trong đoạn văn  13,1-32, Giu-đa không bày tỏ cảm xúc, ông không nói lời nào. Sự im lặng và vô cảm này làm cho nhân vật này trở thành công cụ của Xa-tan. Ông lựa chọn làm công việc của quỷ, có lẽ vì chưa thực sự biết Đức Giê-su là ai. Đối với Nhóm Mười Hai, sự hiện diện cũng như sự vắng mặt của ông là yếu tố khủng hoảng cho Nhóm, vì ông là thành viên. Ông để lại dấu ấn trong Nhóm Mười Hai về sự hiệp nhất giữa các môn đệ và về lòng trung tín của từng môn đệ với Thầy. Nhóm Mười Hai đã tuyên xưng niềm tin đích thực vào Đức Giê-su (6,68-69), Giu-đa là một người trong Nhóm mà vẫn đứng về phía bóng tối và bị chi phối bởi thế lực đen tối. Ông là hình ảnh người môn đệ trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng về niềm tin và về lòng trung tín với Thầy.

    3. Không hiểu biết

Không hiểu Đức Giê-su và sứ vụ của Người là yếu tố gây khủng hoảng. Không hiểu lời Đức Giê-su, không biết ý nghĩa của những biến cố đang xảy ra đã làm họ rơi vào trình trạng xao xuyến và sợ hãi. Đề tài “khủng hoảng vì không biết” được trình bày trong Ga 13–16.

Trong bữa ăn tiệc ly (Ga 13), Si-môn Phê-rô đã không hiểu ý nghĩa việc rửa chân khi ông quả quyết với Đức Giê-su ở 13,8a: “Không đời nào Thầy lại rửa chân cho con.” Trên bình diện trần thế, phản ứng trên bày tỏ lòng tôn trọng Thầy, vì Đức Giê-su là Thầy, là Chúa sao lại rửa chân cho môn đệ được. Tuy nhiên khi Đức Giê-su nói với ông: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng có phần với Thầy” (13,8b) thì Phê-rô lại muốn điều ngược lại. Từ chỗ không chịu rửa chân đến chỗ đòi rửa cả chân, tay và đầu. Ông xin Đức Giê-su ở 13,9: “Thưa Thầy, không chỉ rửa chân con, nhưng cả tay và đầu.” Hình như ông muốn bằng mọi giá “có phần với Thầy”, có càng nhiều càng tốt. Bản văn có nét châm biếm và hài hước vì Phê-rô tưởng là biết, nhưng thực ra ông không biết điều mình xin gì. Bằng chứng là Đức Giê-su không đáp ứng cả hai yêu cầu của ông. Vậy Phê-rô đang ở trong tình trạng khủng hoảng, xin gì cũng không được. Lý do khủng hoảng là vì không hiểu việc làm “rửa chân” (13,8a) và lời nói “có phần” (13,8b) của Thầy.

Trong Ga 13–16, các môn đệ còn không biết nhiều thứ khác. Chẳng hạn, ở 13,21-22, các ông không biết ai là kẻ sẽ nộp Thầy. Khi Đức Giê-su nói với họ ở 13,21b: “Một người trong anh em sẽ nộp Thầy”, người thuật chuyện kể ở 13,22: “Các môn đệ nhìn nhau, phân vân không biết Người nói về ai.” Ở 13,29, Đức Giê-su chấm miếng bánh và trao cho Giu-đa, nghĩa là các môn đệ đã biết ai là kẻ nộp Thầy. Nhưng điều lạ trong bản văn là không ai phản ứng gì về điều này, mà họ lại rơi vào tình trạng không biết về chuyện khác. Đó là không biết ý nghĩa lời Đức Giê-su nói với Giu-đa ở 13,27b: “Anh làm gì thì làm mau đi”. Người thuật chuyện kể ở 13,28-29: “28 Không ai trong những người đang dùng bữa biết tại sao Người (Đức Giê-su) nói với ông ấy (Giu-đa) như thế. 29 Vì Giu-đa giữ túi tiền, có vài người nghĩ là Đức Giê-su nói với ông ấy: ‘Anh hãy mua những món cần dùng trong dịp lễ’, hoặc bố thí cho người nghèo.” Giu-đa đi nộp Thầy mà không ai trong nhóm biết ông đi đâu và làm gì! Khủng hoảng vì không biết sẽ bùng nổ khi biến cố xảy ra như Đức Giê-su báo trước ở 16,32: “Này đến giờ  – và đã đến rồi – anh em sẽ bị phân tán mỗi người về nhà mình và bỏ lại Thầy một mình. Nhưng Thầy không ở một mình vì Cha ở với Thầy.”

Đề tài không biết, không hiểu về Đức Giê-su và về lời của Người còn bộc lộ qua những câu hỏi. Chẳng hạn, Phê-rô hỏi Đức Giê-su ở 13,36a: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu vậy?” Và ở 13,37a: “Thưa Thầy, sao con lại không thể đi theo Thầy bây giờ được?” Tô-ma hỏi Đức Giê-su ở 14,5: “Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con có thể biết đường?” Ngay trước biến cố Thương Khó mà các môn đệ không biết Thầy đi đâu và không biết mình đi con đường nào! Đồng thời, các câu hỏi trên đây cũng là kỹ thuật hành văn. Qua lối hành văn “hỏi –trả lời”, Đức Giê-su được trình bày như là Đấng mặc khải, Đấng biết mọi sự. Người trả lời thắc mắc của các môn đệ, cũng là thắc mắc của cộng đoàn Gio-an vào cuối thế kỷ I và của độc giả qua mọi thời. Đức Giê-su mặc khải ý định của Cha và căn tính của Người qua lối hành văn “hỏi – đáp”. Vậy học hỏi lời Đức Giê-su giúp độc giả giữ vững niềm tin.

    4. Nghĩ rằng Đức Giê-su vắng mặt

Các môn đệ đang bị khủng hoảng vì Đức Giê-su sắp đi về với Cha qua biến cố Thương Khó – Phục Sinh. Các ông buồn rầu, xao xuyến và sợ hãi. Đức Giê-su khích lệ họ ở 14,1: “Lòng anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin vào Thầy.” Đến cuối ch. 14, Người  ban bình an cho họ ở 14,27c: “Lòng anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi.” Biến cố Đức Giê-su ra đi làm cho “ưu phiền tràn ngập lòng” các môn đệ như Người nói ở 16,6: “Nhưng vì Thầy nói ra các điều ấy, nỗi ưu phiền tràn ngập lòng anh em” (16,6). Tuy nhiên Đức Giê-su hứa sẽ gặp lại và các môn đệ sẽ vui mừng: “Bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ lại thấy anh em, và lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy khỏi anh em được” (16,22).

Tình cảnh lo buồn, xao xuyến và sợ hãi của các môn đệ gợi đến khủng hoảng của cộng đoàn Gio-an vào cuối thế kỷ thứ I Khi cộng đoàn gặp khó khăn thử thách thì dường như Đức Giê-su không hiện diện với cộng đoàn, Người không lên tiếng. Cộng đoàn cảm thấy bị bỏ rơi và đang sống trong tình trạng mồ côi. Trong hoàn cảnh này, lời Đức Giê-su nói với các môn đệ cũng là lời Người nhắn gửi cộng đoàn: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến với anh em” (14,18). Ngày nay, nhiều người vẫn nghĩ Đức Giê-su vắng mặt. Điều này làm sa sút lòng trông cậy và làm lung lay lòng tin. Nhiều người tự hỏi, nếu có Chúa hiện diện thì sao lại xảy ra những chuyện đau thương, bi đát và bất công đến thế. Nhận ra sự hiện diện sống động của Đức Giê-su trong mọi hoàn cảnh là thách đố lớn cho người tin. Làm thế nào để nhận ra Đức Giê-su đang ở với, đang đồng hành với mình? Phần giải pháp sẽ đưa ra câu trả lời.

    5. Bị thù ghét và bách hại

Trong đoạn văn Ga 15,18–16,4a, Đức Giê-su báo cho các môn đệ biết họ sẽ bị thế gian thù ghét và bách hại ở 15,18-19: “18 Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. 19 Nếu anh em thuộc về thế gian, thế gian đã yêu thích cái gì là của riêng nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và chính Thầy đã chọn anh em từ giữa thế gian, vì điều này, thế gian ghét anh em.” Thế gian (kosmos) ghét các môn đệ gọi là “thế gian thù ghét”, thế gian này là ai? Bài viết: “Thế gian (kosmos) trong Tin Mừng Gio-an” đã trình bày năm nghĩa từ Hy-lạp “kosmos” (thế gian) trong Tin Mừng: (1) “thế gian vũ trụ”, (2) “thế gian trái đất”, (3) “thế gian nhân loại”, (4) “thế gian chưa tin” và (5) “thế gian thù ghét”. Các nghĩa này diễn tả thần học về tương quan giữa thế gian và sứ vụ Đức Giê-su. “Thế gian thù ghét” được định nghĩa trong tương quan với Đức Giê-su và với các môn đệ. Vì ghét và bách hại Đức Giê-su và các môn đệ nên được gọi là “thế gian thù ghét.” Thế gian này gồm những người đã nghe những lời Đức Giê-su, đã thấy những dấu lạ Người làm nhưng vẫn không tin (15,22-24).

“Thế gian thù ghét” trong Tin Mừng gợi đến những kẻ chống đối trong sứ vụ của Đức Giê-su, họ là những người Do Thái, những người Pha-ri-sêu và các thượng tế với đặc điểm không tin, chống đối, thù ghét và tìm giết Đức Giê-su. “Thế gian thù ghét” cũng gợi đến những kẻ bách hại cộng đoàn Gio-an vào cuối thế kỷ I và bách hại người tin qua mọi thời đại. Trong Tin Mừng thế gian này có sáu đặc điểm: (1) ghét Đức Giê-su, Chúa Cha và các môn đệ; (2) thuộc về thủ lãnh thế gian và quỷ; (3) không biết Đức Giê-su và Cha của Người; (4) không tin vào Đức Giê-su; (5) có tội; (6) được mời gọi tin và nhận biết Đức Giê-su. Xem bài viết: “Sáu đặc điểm của thế gian thù ghét và những kẻ chống đối (TM Gio-an).”

Lý do bị thù ghét là các môn đệ không thuộc về thế gian và vì họ được Đức Giê-su tuyển chọn. Đức Giê-su nêu giả thiết ở 15,19a: “Nếu anh em thuộc về thế gian, thế gian đã yêu thích cái gì là của riêng nó”, nghĩa là nếu các môn đệ thuộc về thế gian thì được thế gian yêu mến và đương nhiên sẽ không bị thù ghét. Nhưng nếu thuộc về thế gian thì không thuộc về Đức Giê-su, nghĩa là cành nho không còn trên thân nho Đức Giê-su nữa. Trong trường hợp này, hậu quả sẽ như lời Đức Giê-su ở 15,6: “Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và bị khô héo. Người ta thu lượm chúng, bỏ vào lửa và chúng bị đốt cháy.” Vậy các môn đệ ở trong hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan. Tin và thuộc về Người thì có sự sống đời đời, nhưng lại có nguy cơ bị bách hại. Thuộc về thế gian thì được thế gian yêu mến, nhưng lại bị hư mất, không có sự sống của Thiên Chúa.

Hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan như trên kéo dài suốt dòng lịch sử. Cộng đoàn Gio-an vào cuối thế kỷ I đang gặp thử thách, thậm chí mạng sống các thành viên bị đe dọa. Đức Giê-su cho các môn đệ biết điều đó ở 16,2: “Họ sẽ làm cho anh em thành những người bị khai trừ khỏi hội đường. Sẽ đến giờ, kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa.” Lời báo trước này giúp giữ vững niềm tin và tránh vấp ngã như Đức Giê-su nói ở 16,1: “Những điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em không bị vấp ngã.” Lời này gợi ý rằng trong hoàn cảnh bách hại đã xảy ra trường hợp vấp ngã và chối bỏ niềm tin. Một số ki-tô hữu có thể đã để quỷ gieo vào lòng mình những ý định đen tối, đã thuộc về quỷ và làm công việc của quỷ như Giu-đa (6,71; 13,2.27.30). Việc Phê-rô chối đã được Đức Giê-su báo trước (13,38) mà vẫn chối (18,17.25.26-27) gợi đến tình trạng khủng hoảng trong cộng đoàn, có thể một số thành viên đã thầm kín hay công khai chối Thầy như Phê-rô.

Tin Mừng gợi lên những yếu tố khủng hoảng niềm tin, đồng thời cho độc giả biết phải làm gì để tránh vấp ngã. Trong các diễn từ từ biệt (Ga 13–16), Đức Giê-su đã động viên các môn đệ và độc giả, đặc biệt câu cuối ch. 16 ở 16,33: “Những điều này, Thầy nói với anh em để trong Thầy, anh em có sự bình an. Trong thế gian, anh em có sự khốn khó, nhưng anh em hãy can đảm, chính Thầy đã thắng thế gian.” Cùng với  sự động viên, Đức Giê-su mặc khải những giải pháp cụ thể.

II. Giải pháp để giữ vững niềm tin

Tin Mừng đề nghị năm giải pháp giúp độc giả vượt qua khủng hoảng: (1) hiểu và sống lời Đức Giê-su;  (2) “ở lại trong nhau” với Đức Giê-su; (3) có Đức Giê-su, Chúa Cha, Đấng Pa-rác-lê ở lại với mình; (4) sống niềm vui và bình an Đức Giê-su ban tặng; (5) để Đấng Pa-rác-lê hoạt động nơi mình.

    1. Hiểu và sống lời Đức Giê-su

Trước những thử thách xảy đến vì niềm tin như trên, chính Đức Giê-su là giải pháp. Cách tốt nhất để xây dựng tương quan mật thiết và bền vững với Đức Giê-su là hiểu và sống giáo huấn của Người. Theo Tin Mừng, Đức Giê-su đã trao ban toàn bộ mặc khải cho các môn đệ khi nói ở 15,15: “Thầy không gọi anh em là tôi tớ, vì tôi tớ không biết điều chủ mình làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe nơi Cha của Thầy, Thầy đã làm cho anh em biết.” Tất cả những gì Đức Giê-su đã nghe nơi Cha, Người đã làm cho các môn đệ biết. Nghĩa là toàn bộ mặc khải đã được trao ban, các môn đệ không cần đi tìm ở nơi nào khác. Tuy nhiên đã hiểu mặc khải hay chưa lại là chuyện khác. Bối cảnh Ga 13–16 cho thấy các môn đệ chưa hiểu hết. Họ sống trong tâm trạng xao xuyến và sợ hãi, nên không mang nổi lời Đức Giê-su như Người nói ở 16,12: “Thầy vẫn có nhiều điều để nói với anh em, nhưng bây giờ anh em không thể mang nổi.” Chỉ sau khi Đức Giê-su về với Cha và Đấng Pa-rác-lê được gửi tới, Người sẽ dẫn các môn đệ đi trong sự thật toàn vẹn (16,13) và dạy các môn đệ tất cả những gì Đức Giê-su đã nói (14,26). Xem bài viết: “Đấng Pa-rác-lê là ai?

Như thế, học hỏi lời Đức Giê-su dưới sự hướng dẫn của Đấng Pa-rác-lê là việc làm cần thiết và làm suốt đời người tin. Nhờ Đấng Pa-rác-lê dạy và hướng dẫn mà người tin hiểu ý nghĩa lời Đức Giê-su trong hoàn cảnh cụ thể. Vậy lời Đức Giê-su trở thành lương thực không hư nát, bánh sự sống, nước sự sống, ánh sáng soi dẫn người tin. Nhờ lời Đức Giê-su, người tin tìm được ý nghĩa cao quý của lựa chọn tin và thuộc về Người.

    2. Ở lại trong nhau với Đức Giê-su

Lời mời gọi “ở lại trong nhau” giữa Đức Giê-su và người tin được nói đến nhiều lần trong Tin Mừng. Về thần học “ở lại trong nhau” là bước vào tương quan với nhau cách chủ động và từ hai phía: Đức Giê-su ở trong các môn đệ và các môn đệ ở trong Người như Người nói ở 14,20: “Trong ngày đó, anh em sẽ biết rằng: Thầy trong Cha Thầy, anh em trong Thầy và Thầy trong anh em.” Ở lại trong nhau là điều kiện để tồn tại và sinh nhiều hoa trái như Đức Giê-su mời gọi ở 15,4: “Anh em hãy ở lại trong Thầy, như Thầy trong anh em. Như cành nho không thể sinh hoa trái tự nó nếu không ở lại trong cây nho, anh em cũng không, nếu anh em không ở lại trong Thầy.” Xem phân tích câu 14,20b trong bài viết: “Ga 14,15-24: Đặc ân dành cho ai yêu mến Đức Giê-su và giữ các điều răn của Người.”

“Ở lại trong nhau” là mặc khải quan trọng về tương quan giữa Đức Giê-su và Cha của Người. Khi Phi-líp-phê nói với Đức Giê-su ở 14,8: “Thưa Thầy, hãy tỏ cho chúng con Cha đủ cho chúng con”, Đức Giê-su nói với Phi-líp-phê ở 14,10a: “Anh (số ít) không tin rằng: Thầy trong Cha và Cha ở trong Thầy sao?” Rồi Người mời gọi tất cả môn đệ ở 14,11a: “Anh em (số nhiều) hãy tin Thầy: Thầy trong Cha và Cha trong Thầy.” Vậy, đối với người tin, ở lại trong Đức Giê-su và Người ở lại trong mình là bước vào tương quan hiệp thông sâu xa với Người, đồng thời được tham dự vào tương quan thần linh giữa Đức Giê-su và Cha của Người (14,10.11).

“Ở lại trong Đức Giê-su” là lựa chọn sống còn của người tin: “Ở lại” là sống, “không ở lại” là chết, là hư mất, là “bị quăng ra ngoài như cành nho và bị khô héo” (15,6a). Vậy “ở lại trong nhau” với Đức Giê-su là thuộc về Người. Điều này bao hàm nguy cơ bị thù ghét và bách hại. Lựa chọn ở lại trong Đức Giê-su đem lại sự sống đích thực, nhưng cũng hàm ẩn can đảm đón nhận thử thách gian nan. Tóm lại, thực hiện việc “ở lại trong nhau” là một trong những giải pháp giúp vượt qua khủng hoảng.

    3. Có Đức Giê-su, Cha, Đấng Pa-rác-lê ở lại với mình

Trong đoạn văn 14,15-24, Đức Giê-su cho các môn đệ biết cần làm gì để được Người, Chúa Cha và Đấng Pa-rác-lê ở lại và đồng hành với mình. Đức Giê-su nói với các môn đệ ở 14,15-16: “15 Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy; 16 và chính Thầy sẽ can thiệp với Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Pa-rác-lê khác để Người ở với anh em mãi mãi.” Điều kiện để đón nhận quà tặng Ðấng Pa-rác-lê là yêu mến Đức Giê-su và giữ các điều răn của Người. Ở 14,21 Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Ai có các điều răn của Thầy và giữ chúng, người ấy là người yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến. Chính Thầy sẽ yêu mến người ấy và Thầy sẽ tỏ mình ra cho người ấy.” Đến 14,23, Đức Giê-su mặc khải cho các môn đệ: “Ai yêu mến Thầy sẽ giữ lời của Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Tôi sẽ đến với người ấy và sẽ làm chỗ ở (monên) nơi người ấy” (14,23).

Những lời trên cho thấy cả Ba Đấng (Đức Giê-su, Chúa Cha, Đấng Pa-rác-lê) sẽ đến và ở lại với người “yêu mến Đức Giê-su” (14,15.23), “giữ lời Người” (14,23); “có các điều răn” (14,21) và “giữ các điều răn của Người” (14,15). Hai động từ “yêu mến” và “tuân giữ” liên kết chặt chẽ đến mức có thể hoán chuyển cho nhau: “yêu mến thì tuân giữ” (14,15), “tuân giữ thì yêu mến” (14,21), nghĩa là trong “yêu mến” có “tuân giữ” và trong hành động “tuân giữ” luôn bao hàm “yêu mến”.

“Các điều răn của Đức Giê-su” ở 14,15.21 song song với “lời của Người” ở 14,23, nên có thể hiểu “các điều răn” (số nhiều) là tất cả giáo huấn của Người trình bày trong Tin Mừng. Muốn biết làm gì để “yêu mến Đức Giê-su” và “các điều răn của Người” là gì, chỉ cần đọc Tin Mừng. Vậy, học hỏi Tin Mừng giúp đón nhận điều Đức Giê-su hứa. Nghĩa là trong người tin có sự “hiện diện” và “ở lại” của Đức Giê-su, Chúa Cha và Đấng Pa-rác-lê. Sự ở lại huyền nhiệm này nơi người tin là nguồn khích lệ và an ủi lớn lao, nhất là lúc gặp khó khăn thử thách. Xem bài viết: “Ga 14,15-24: Đặc ân dành cho ai yêu mến Đức Giê-su.”

    4. Sống bình an và niềm vui Đức Giê-su ban tặng

Ngay lúc các môn đệ đang xao xuyến và sợ hãi (14,27), Đức Giê-su hứa ban bình an và niềm vui. Đề tài niềm vui và bình an trong Ga 14–17 mang đậm nét Ki-tô học, vì đó là bình an của Đức Giê-su và niềm vui của Người chứ không phải của thế gian, cũng không phải của Thiên Chúa. Đức Giê-su nói với các môn đệ ở 14,27: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Không như thế gian ban chính Thầy ban cho anh em. Lòng anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi.”

Đức Giê-su muốn niềm vui của Người trở thành niềm vui của các môn đệ khi nói với họ ở 15,11: “Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em và niềm vui của anh em được trọn vẹn.” Cụm từ “các điều ấy” ở đây chỉ về những điều Đức Giê-su vừa nói trước đó. Trong mạch văn gần “các điều ấy” là 15,1-10, trong bối cảnh rộng hơn đó là mặc khải của Đức Giê-su từ 13,1 đến 15,10. Đối với độc giả “các điều ấy” lời Đức Giê-su nói chung. Vậy cần hiểu lời Đức Giê-su mới đón nhận được niềm vui Đức Giê-su ban tặng và có khả năng làm cho niềm vui ấy trở thành niềm vui của mình. Đây là niềm vui trọn vẹn (15,11, 17,13) và bền bỉ (16,22) như lời Đức Giê-su nói với các môn đệ ở 16,22: “Bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ lại thấy anh em, và lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy khỏi anh em được.”

Lời cuối cùng Đức Giê-su nói với các môn đệ trong ch. 13–16 là lời chúc ban bình an và khích lệ: “Những điều này, Thầy nói với anh em để trong Thầy, anh em có sự bình an. Trong thế gian, anh em có sự khốn khó, nhưng anh em hãy can đảm, chính Thầy đã thắng thế gian” (16,33). Động từ “ekhô” (có) trong cụm từ “có sự bình an” chia ở thì hiện tại, lối tiếp thuộc “ekhête”. Cách chia động từ này đề cao giá trị hiện tại. Người tin cần làm ba điều để có bình an: (1) lắng nghe lời Đức Giê-su nói (16,33a); (2) can đảm khi đối diện với gian nan thử thách (16,33b); (3) xác tín Đức Giê-su đã thắng thế gian (16,33c).

Đề tài niềm vui và bình an trên đây có thể hiểu theo “chiều ngang” và “chiều dọc”. Chiều ngang là hiểu theo giòng thời gian (trước – sau). Cách hiểu này phù hợp với bối cảnh lịch sử thời Đức Giê-su. Các môn đệ buồn rầu, sợ hãi, xao xuyến khi Đức Giê-su bước vào cuộc Thương Khó. Nhưng họ sẽ vui mừng trong tương lai, khi Thầy trò gặp lại nhau sau biến cố Phục Sinh. Hiểu niềm vui và bình an theo chiều ngang đề cao biến cố nền tảng: Thương Khó – Phục Sinh. Biến cố này có khả năng đem lại bình an và niềm vui đích thực cho người tin. Tuy nhiên, sau biến cố Phục Sinh cộng đoàn người tin vẫn gặp thử thách và bị bách hại. Cách hiểu niềm vui và bình an theo “chiều dọc”  giúp giữ vững niềm tin ngay trong lúc đang gặp thử thách.

Thật vậy, “chiều dọc” (trên – dưới) của niềm vui và bình an được áp dụng cho cộng đoàn Gio-an cuối thế kỷ I và cho độc giả qua mọi thời đại. Đức Giê-su không chỉ hứa ban niềm vui và bình an trong tương lai (sau biến cố Phục Sinh) mà còn ban niềm vui (15,11) và bình an (14,27a) trong hiện tại, ngay lúc các môn đệ đang xao xuyến và sợ hãi (14,27b). Điều này có ý nghĩa đối với cộng đoàn cuối thế kỷ I, vì lúc ấy cộng đoàn đang bị thù ghét và bách hại. Chiều dọc diễn tả tương quan giữa hai thế giới như Đức Giê-su nói với những người Do Thái ở 8:23: “Các ông, các ông thuộc về hạ giới; còn Tôi, Tôi thuộc về thượng giới. Các ông, các ông thuộc về thế gian này; còn Tôi, Tôi không thuộc về thế gian này.” Giữa thế giới của Thiên Chúa (thượng giới) và thế giới của con người (hạ giới), bình an và niềm vui của Đức Giê-su là quà tặng từ trời cao. Nghĩa là nhờ bình an và niềm vui từ thượng giới ban xuống mà người tin vượt qua thử thách ở hạ giới. Cách hiểu theo chiều dọc giúp sống trọn vẹn hai thực tại đối lập: “niềm vui và nỗi buồn”, “khủng hoảng và bình an”. Nhưng các thực tại này ở trên hai bình diện khác nhau: nỗi buồn và khủng hoảng là thực tại thuộc hạ giới (thế gian này); niềm vui và bình an của Đức Giê-su là quà tặng đến từ thượng giới. Đón nhận và sống hai thực tại này là giải pháp cho mọi thử thách.

Đề tài niềm vui và bình an hiểu theo “chiều ngang” và “chiều dọc” như trên là một trong những nét độc đáo của thần học Tin Mừng. Hai cách đọc này có ý nghĩa thiết thực vì vừa đề cao biến cố Thương Khó – Phục Sinh (hiểu theo chiều ngang), vừa cho phép hiện tại hóa không ngừng niềm vui và bình an Đức Giê-su ban tặng trong thực tế cuộc sống (hiểu theo chiều dọc). Tóm lại, có niềm vui và bình an Đức Giê-su ban tặng sẽ giữ vững niềm tin, vượt qua xao xuyến và sợ hãi (14,1.27), để can đảm làm chứng trong hoàn cảnh bị thù ghét và bách hại (15,18-21).

    5. Để Đấng Pa-rác-lê hoạt động nơi mình

Sau khi Đức Giê-su về với Cha, Đấng Pa-rác-lê được gửi đến với các môn đệ (16,7). Như thế, từ sau biến cố Thương Khó – Phục Sinh, người tin sống trong thời kỳ Đấng Pa-rác-lê, Người hiện diện và hoạt động nơi người tin và nơi cộng đoàn. Hoạt động phong phú của Đấng Pa-rác-lê quy về ba lãnh vực: (1) ở với và hướng dẫn; (2) giảng dạy và làm cho biết mặc khải của Đức Giê-su; (3) làm chứng “trước” và “trong” người tin.

(1) Đấng Pa-rác-lê “ở với” các môn đệ, “ở giữa” cộng đoàn và “ở trong” từng người tin “mãi mãi” (14,16-17). Người sẽ dẫn người tin “đi trong sự thật toàn vẹn” (16,13a). Theo thần học Tin Mừng, người tin không phải xin Đấng Pa-rác-lê là Thánh Thần đến với mình nữa. Điều cần là xin thực hiện được điều kiện để có Ðấng Pa-rác-lê: yêu mến Đức Giê-su và giữ các điều răn của Người (14,15).

(2) Đấng Pa-rác-lê “dạy” tất cả những gì Đức Giê-su đã nói, và “làm nhớ lại” giáo huấn của Người (14,26). Ðấng Pa-rác-lê lấy những gì của Đức Giê-su mà loan báo cho các môn đệ (16,13-15). Đối với thế gian thù ghét, Đấng Pa-rác-lê cho biết sự thật là thế gian có tội vì đã không tin vào Đức Giê-su (16,9) và thủ lãnh của thế gian đã bị xét xử rồi (16,11). Đấng Pa-rác-lê cho người tin biết sự thật về biến cố Thương Khó. Trên bình diện lịch sử, Đức Giê-su bị giết chết trên thập giá, nhưng trên bình diện mặc khải, đó là lúc Người về với Cha (16,10), là Giờ Người được tôn vinh (13,31-32; 17,1).

(3) Đấng Pa-rác-lê làm chứng “trước” và “trong” người tin. Làm chứng trước người tin để giúp họ biết Đức Giê-su và xác tín về căn tính thần linh của Người. Làm chứng trong người tin khi họ làm chứng trước thế gian. Đấng Pa-rác-lê soi sáng từ bên trong để người tin can đảm làm chứng về Đức Giê-su. Để Ðấng Pa-rác-lê hiện diện và hoạt động nơi mình là giải pháp quan trọng để sống niềm tin cách sống động và vững vàng. Xem tài liệu “Đấng Pa-rác-lê là ai?”; “Ga 16,4b-11: Đấng Pa-rác-lê và thế gian”; ĐẤNG PA-RÁC-LÊ – Thần Khí sự thật, tr. 153-330.

Kết luận

Tin Mừng Gio-an trình bày năm yếu tố gây khủng hoảng nơi các môn đệ, đồng thời gợi về khủng hoảng đức tin ngày nay: khủng hoảng vì (1) lời Đức Giê-su; (2) để mình thuộc về “bóng tối”; (3) không hiểu lời Đức Giê-su; (4) tưởng là Đức Giê-su vắng mặt; (5) bị thế gian thù ghét và bách hại. Những yếu tố này làm lung lay niềm tin và có nguy cơ vấp ngã. Tin vào Đức Giê-su thì có sự sống đời đời, nhưng để sống niềm tin, người tin có thể gặp thử thách, ngay cả phải hy sinh mạng sống để bảo toàn sự sống đích thực Đức Giê-su ban tặng. Vậy phải làm gì khi gặp khủng hoảng? Tin Mừng đưa ra năm giải pháp:

(1) Cách hiệu quả nhất để vượt qua khủng hoảng là có Đức Giê-su ở với mình. Sự hiện diện sinh động của Đức Giê-su được vun đắp qua việc tìm hiểu, học hỏi và sống lời Người. Nhờ tương quan mật thiết với Đức Giê-su, người tin có sức mạnh tâm linh để đứng vững trước sóng gió.

(2) “Ở lại trong Đức Giê-su” và để “Người ở lại trong mình” theo như lời Người nói ở 14,20b: “Anh em trong Thầy và Thầy trong anh em.” Lời này song song với 14,11a: “Thầy trong Cha và Cha trong Thầy.”. “Ở lại trong” là hiệp thông sâu xa giữa người tin, Đức Giê-su, Chúa Cha. Điều này giúp đứng vững  trong thử thách và sinh nhiều hoa trái (15,5).

(3) “Yêu mến Đức Giê-su” và “giữ các điều răn của Người” là điều kiện để có Đức Giê-su, Chúa Cha, Đấng Pa-rác-lê sẽ ở với mình. Sự hiện diện của ba Đấng là khích lệ lớn lao khi người tin cảm thấy như bị bỏ rơi, bị mồ côi (14,18a).

(4) Theo “chiều ngang”, niềm vui và bình an Đức Giê-su ban tặng đề cao biến cố Phục Sinh đã gần 2000 năm. Liệu người tin còn có niềm vui “không ai lấy mất được” (16,22) hay không? Theo “chiều dọc”, quà tặng niềm vui và bình an không làm biến mất thử thách, nhưng giúp vui sống thực tại trần thế. Bởi vì niềm vui và bình an được ban từ thượng giới đã trở thành niềm vui và bình an của người tin ở hạ giới.

(5) Hoạt động của Đấng Pa-rác-lê quy về ba lãnh vực: (1) ở lại (14,16-17) và hướng dẫn (16,13); (2) giảng dạy và làm cho biết lời Đức Giê-su (14,26; 16,8-11); (3) làm chứng “trước” và “trong” người tin (15,26-27). Những hoạt động này là nguồn sức mạnh tâm linh giúp can đảm làm chứng về Đức Giê-su.

Tin Mừng Gio-an giúp ai đang khủng hoảng niềm tin, lạnh nhạt với niềm tin, thậm chí đã mất niềm tin, có cơ may tìm lại được sức sống, lòng can đảm, niềm vui và bình an nhờ tin vào Đức Giê-su. Dù thử thách xảy ra ở đâu, vào lúc nào đi nữa, người tin luôn được mời gọi đọc Tin Mừng để đứng vững và sống niềm vui và bình an Đức Giê-su ban tặng. Xem KHỦNG HOẢNG VÀ GIẢI PHÁP cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư./.


2 nhận xét:

  1. Xin chân thành cám ơn tác giả đã giúp tôi có lại một chút nào đó lòng tin vào Chúa khi tôi đang phải cố vượt qua sự xấu thắng sự tốt.

    Trả lờiXóa
  2. CON CHÂN THÀNH CÁM ƠN CHA.
    ĐỌC QUA BÀI VIẾT CỦA CHA PHẦN NÀO CON CŨNG CỐ HƠN NIỀM TIN CỦA MÌNH-LÀ MỘT KITO HỮU-. VÀ TIẾP TỤC DẤN THÂN

    Trả lờiXóa