2 juin 2011

Ga 20,19-23: (Không thấy) – THẤY – (Không thấy)



Email: josleminhthong@gmail.com
Ngày 03 tháng 06 năm 2011.
Cập nhật ngày 18 tháng 04 năm 2014.

Nội dung

Dẫn nhập
1. Bản văn Ga 20,19-23
2. THẤY và KHÔNG THẤY Đức Giê-su Phục Sinh (Ga 20)
3. “Bình an cho anh em” (20,19.21a) 
     a) “Bình an” và “sợ hãi” (20,19)
     b) “Bình an” và “sứ vụ” (20,21a)  
4. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (20,21b)
5. “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (20,22)
6. Đức Giê-su ban quyền “tha tội và cầm giữ” (20,23)    
Kết luận


Dẫn nhập

Bài viết sẽ giải thích tại sao chọn tựa đề trên, sau đó sẽ trình bày sơ lược nội dung chính của bài Tin Mừng Ga 20,19-23. Đây là cuộc gặp gỡ quan trọng giữa Đức Giê-su Phục Sinh và các môn đệ vì hai lý do: 1) Việc các môn đệ THẤY Đức Giê-su Phục Sinh đã trở thành nền tảng của lời chúc phúc: “Phúc cho những người KHÔNG THẤY mà tin.” 2) Những lời Đấng Phục Sinh nói trong cuộc gặp gỡ này là nền tảng của cộng đoàn các môn đệ qua mọi thế hệ: Quà tặng BÌNH AN và THÁNH THẦN; trao ban SỨ VỤ và ban QUYỀN HÀNH để thực thi sứ vụ. Bài viết sẽ được trình bày qua các mục: (1) Bản văn Ga 20,19-23, (2) THẤY và KHÔNG THẤY Đức Giê-su Phục Sinh (Ga 20), (3) “Bình an cho anh em” (20,19.21a), (4) “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (19,21b), (5) “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (20,22), (6) Đức Giê-su ban quyền “Tha tội và cầm giữ” (20,23).

1. Bản văn Ga 20,19-23

Bản văn và các trích dẫn Tin Mừng Gio-an lấy trong Bản văn Gio-an, Tin Mừng và ba thư, Hy Lạp – Việt.

20,19 Chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín vì các ông sợ những người Do Thái. Đức Giê-su đến, Người đứng giữa các ông và nói với các ông: “Bình an cho anh em.” 20 Nói xong điều đó, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn của Người. Các môn đệ vui mừng thấy Chúa. 21 [Đức Giê-su] lại nói với các ông: “Bình an cho anh em. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” 22 Nói xong điều đó, Người thổi hơi và nói với các ông: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội của ai thì tội của họ được tha, anh em cầm giữ tội ai, thì tội của họ bị cầm giữ.”

2. THẤY và KHÔNG THẤY Đức Giê-su Phục Sinh (Ga 20)

Tại sao lấy tựa đề: “(Không thấy) – THẤY – (Không thấy)” khi tìm hiểu Ga 20,19-23? Đoạn văn Ga 20,19-23 là một phần trình thuật Đức Giê-su Phục Sinh của Tin Mừng Gio-an. Có thể cấu trúc các trình thuật Phục Sinh trong Ga 20 xoay quanh đề tài “KHÔNG THẤY” và “THẤY” Đức Giê-su Phục Sinh, theo dạng đồng tâm A, B, A’ như sau:

A. Không thấy Đức Giê-su Phục Sinh
20,1-10: Ngôi mộ trống, không thấy Đức Giê-su Phục Sinh.
Kết luận: “Ông ấy đã thấy và đã tin” (20,8),
nghĩa là không thấy Đức Giê-su mà vẫn tin.

      B. Thấy Đức Giê-su Phục Sinh
            20,11-18: Ma-ri-a Mác-đa-la thấy Đấng Phục Sinh
            Kết luận: “Tôi đã thấy Chúa” (20,18)
            20,19-23: Các môn đệ thấy Đấng Phục Sinh
            Kết luận: “Các môn đệ vui mừng thấy Chúa” (20,20b)

A’. Không thấy Đức Giê-su Phục Sinh
20,26-29: Đấng Phục sinh hiện ra đề cao cái phúc “không thấy”.
            Kết luận: “Phúc cho người không thấy mà tin” (20,29). 

Như thế, theo Tin Mừng Gio-an, trình thuật Phục Sinh đi từ A. “Không thấy Đức Giê-su Phục Sinh mà tin” (20,8) đến B. “Vui mừng được thấy Chúa” (20,18.20) và kết thúc bằng A’. “Phúc cho những người không thấy mà tin” (20,29). Đỉnh cao của trình thuật Phục Sinh là “KHÔNG THẤY MÀ TIN”. Đây là lời chính Đức Giê-su Phục Sinh nói với cộng đoàn và nói với độc giả qua mọi thời đại. Sau thế hệ các môn đệ đầu tiên được thấy Đức Giê-su Phục Sinh, tất cả các môn đệ thế hệ sau đều là “Những người không thấy mà là những người tin” (20,29). Tựa đề bài viết: “(Không thấy) – THẤY – (Không thấy)” muốn làm nổi bật tầm quan trọng thông điệp của bản văn dành cho độc giả: “Phúc cho những người không thấy mà tin”.

Tuy nhiên, phải chăng “không thấy mà tin” là nhẹ dạ và thiếu cơ sở. Câu hỏi đặt ra: Dựa vào đâu? Dựa trên cơ sở nào để có thể “không thấy mà vẫn tin”? Có thể trả lời: Lựa chọn “KHÔNG THẤY MÀ TIN” của các môn đệ qua mọi thời đại là dựa trên cái “THẤY” của các môn đệ thế hệ đầu tiên. Nghĩa là dựa trên lời chứng của những người đã khẳng định: “Chúng tôi đã thấy Chúa” (20,25).

Trong cấu trúc Ga 20 trên đây, phần B: “THẤY” ở trung tâm cấu trúc A, B, A’. Điều này nói lên tầm quan trọng lời chứng của các môn đệ. Phần song song A // A’ lại đề cao niềm tin đích thực. Phần A đề cao lòng tin của người môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Ông chỉ thấy ngôi mộ trống (không thấy Đức Giê-su Phục Sinh) mà đã tin (20,8) song song với lời chúc phúc của Đấng Phục Sinh dành cho người tin qua mọi thế hệ: “Phúc cho những người không thấy mà là những người tin” (20,29).

Bài tìm hiểu Ga 20,19-23 thuộc phần “THẤY” (B), nên hai phần “không thấy” (A // A’) được để trong ngoặc đơn làm thành tựa đề cho đoạn văn 20,19-23: “(Không thấy) – THẤY – (Không thấy).” Có thể trình bày trình thuật Phục Sinh Ga 20 qua bảng sau:


Cấu trúc Ga 20 đề cao niềm tin của những người dám tin vào Đức Giê-su Phục Sinh, dù không thấy Người. Nhưng niềm tin ấy dựa trên lời chứng của những người đã thấy Đấng Phục Sinh. Nên cả hai đề tài “Thấy” và “không thấy” Đấng Phục Sinh đều quan trọng.

Phần phân tích đoạn văn Ga 20,19-23, thuộc phần “Thấy Đức Giê-su Phục Sinh” sau đây sẽ cho thấy ý nghĩa thần học quan trọng của trình thuật này. Các môn đệ không chỉ thấy Đấng Phục Sinh để làm chứng Người đã Sống Lại, mà các môn đệ còn được Đấng Phục Sinh trao ban các yếu tố nền tảng để xây dựng cộng đoàn. Phần sau sẽ phân tích các đề tài: “Bình an”, “sứ vụ”, “Thánh Thần” và “quyền tha tội và cầm giữ”.

3. “Bình an cho anh em” (20,19.21a) 

Trong lần gặp gỡ đầu tiên giữa Đức Giê-su Phục Sinh và các môn đệ, Người nói hai lần lời chúc bình an: “Bình an cho anh em” (20,19.21). Hai lần chúc bình an này có hai ý nghĩa khác nhau sẽ được phân tích sau đây.

     a) “Bình an” và “sợ hãi” (20,19)

Đức Giê-su ban bình an lần thứ nhất (20,19) ngay sau khi hiện ra với các môn đệ, lúc ấy các môn đệ đang ở trong tâm trạng sợ hãi và kép kín. Người thuật chuyện cho biết: “Nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín vì các ông sợ những người Do Thái” (20,19a). Đây không phải là lần đầu tiên Đức Giê-su ban bình an cho các môn đệ, trong lúc các ông ở trong tình trạng xao xuyến sợ hãi.

Trong lời từ biệt trước khi bước vào cuộc Thương Khó, Đức Giê-su đã động viên các môn đệ đầu ch. 14: “Lòng anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin vào Thầy” (14,1); đến cuối ch. 14, Đức Giê-su ban bình an của Người cho các môn đệ. Người nói: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Không như thế gian ban mà chính Thầy ban cho anh em. Lòng anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi” (14,27).

“Bình an” (eirênê) là đề tài quan trọng trong thần học Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su ban bình an của Người trước khi rời bỏ các môn đệ để đi về với Cha của Người. Sau đó, Đức Giê-su ban bình an khi Người Phục Sinh. Như thế “ban bình an” là một dấu chỉ để các môn đệ nhận ra Đức Giê-su Phục Sinh. Bình an của Đức Giê-su là thứ bình an có khả năng đem lại niềm vui cho các môn đệ. Sau lời chúc bình an, các môn đệ đã nhận ra Đức Giê-su, nên “Các môn đệ vui mừng thấy Chúa” (20,20b).

Đây không phải là thứ bình an của thế gian. Cũng không phải là thứ bình an khi không gặp khó khăn thử thách. Ngược lại, bình an của Đức Giê-su ban tặng là bình an giúp các môn đệ vượt qua thử thách. Nghĩa là ngay trong lúc gian nan, khốn khó, người môn đệ vẫn có sự bình an sâu xa trong tâm hồn, đó là bình an của Đức Giê-su hiện diện ở nơi mình. “Bình an của Đức Giê-su” sẽ làm cho các môn đệ xác tín, vững tin và vui sống.

Đức Giê-su tiếp tục ban bình an của Người cho các môn đệ qua mọi thời đại. Chính Đấng Phục Sinh đang nói với độc giả câu Ga 16,33: “Những điều này, Thầy nói với anh em để trong Thầy, anh em có sự bình an. Trong thế gian, anh em có sự khốn khó, nhưng anh em hãy can đảm, chính Thầy đã thắng thế gian.” Cụm từ “những điều này” (16,33a) bao hàm tất cả mặc khải của Đức Giê-su trong Tin Mừng Gio-an. Tất cả những gì Đức Giê-su mặc khải nhằm mục đích đem lại bình an cho các môn đệ, cho dù họ đang gặp thử thách.

     b) “Bình an” và “sứ vụ” (20,21a)  

Lời chúc bình an thứ hai của Đức Giê-su mở đầu sứ vụ của các môn đệ. Đức Giê-su nói với họ: “Bình an cho anh em. Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (20,21). Đây cũng là lời mà các môn đệ đã nghe ở Ga 17,18. Nhưng điều mới mẻ là “bình an” gắn liền với lời “sai đi”. Như thế, có thể nói, một phần quan trọng trong sứ vụ của các môn đệ chính là đón nhận bình an của Đức Giê-su và trao ban bình an đó cho mọi người. Các môn đệ là những người được Đức Giê-su sai đi để trao ban bình an của Người cho thế giới. Đó không phải là thứ bình an giả tạo, che lấp những đau khổ và mong manh của cuộc đời. Nhưng bình an Đức Giê-su ban tặng là thứ bình làm cho người môn đệ dám đón nhận tất cả những đen tối của thân phận làm người, và từ đó dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, người môn đệ vẫn vững tin, bình an và có nghị lực để vượt qua thử thách.

Như thế, bình an của Đức Giê-su ban tặng gồm hai khía cạnh. 1) Bình an của Đức Giê-su là ơn ban từ trên, làm cho người môn đệ vượt qua mọi sợ hãi để can đảm làm chứng cho Đức Giê-su trong niềm vui. 2) Bình an của Đức Giê-su gắn liền với sứ vụ của các môn đệ, các môn đệ được sai đi trong tư thế của người có bình an của Đấng Phục Sinh và họ được giao nhiệm vụ trao tặng món quà bình an đó cho mọi người. Xem phân tích đề tài “Bình an và niềm vui” trong tập sách: KHỦNG HOẢNG VÀ GIẢI PHÁP cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư, tr. 266-253.

4. “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (20,21b)

Sau khi ban bình an, Đức Giê-su sai các môn đệ ra đi. Lời sai đi này đã được Đức Giê-su nói với Cha của Người trước khi bước vào cuộc Thương Khó. Người nói với Cha: “Như Cha đã sai Con đến thế gian, Con cũng sai họ đến thế gian” (17,18). Lời này (17,18) các môn đệ đã nghe, vì Đức Giê-su ngỏ lời với Cha của Người trước sự hiện diện của các môn đệ. Bây giờ, sau khi Phục Sinh, Người nói trực tiếp với các môn đệ: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em”. Người chính thức trao ban sứ vụ cho các môn đệ.

Ở 17,18 cũng như ở 20,21, Đức Giê-su không nói đến nội dung sứ vụ. Đức Giê-su không cho biết các môn đệ phải làm việc gì. Bởi vì sứ vụ của các môn đệ là tiếp nối sứ vụ của Đức Giê-su, mà nội dung sứ vụ của Đức Giê-su đã được mô tả trong sách Tin Mừng. Hãy đọc Tin Mừng sẽ biết các môn đệ phải làm gì để thực thi sứ vụ. Điều quan trọng ở đây là các môn đệ được chính Đức Giê-su sai đi tiếp nối sứ vụ của Người.

Đức Giê-su được Chúa Cha sai đến trần gian để mặc khải ý định yêu thương của Thiên Chúa và để trao ban sự sống đích thực cho những ai tin vào Người. Các môn đệ cũng làm như thế, họ được sai đi để làm cho mọi người biết Thiên Chúa đã yêu thương thế gian như thế nào (3,16) và làm cho mọi người “biết” và “tin” Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa; và nhờ tin sẽ có sự sống trong danh của Người (20,31). Lời Đức Giê-su ban quyền “tha tội và cầm giữ” cần được hiểu trong ý hướng sứ vụ như trên. Trước khi Đức Giê-su trao quyền “tha tội và cầm giữ” cho các môn đệ, Người nói: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (20,22).
        
5. “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (20,22)

Khi Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” là Người thực hiện lời hứa với các môn đệ. Trước khi bước vào cuộc Thương Khó, Đức Giê-su đã hứa ban Đấng Pa-rác-lê (Paraklêtos) –  Đấng Bảo Trợ – đến với các môn đệ. Trong Tin Mừng Gio-an “Đấng Pa-rác-lê” (ho paraklêtos) chính là “Thánh Thần” (to pneuma to hagion) và là “Thần Khí sự thật” (to pneuma tês alêtheias), xem Ga 14,15-17.25-26; 15,26-27; 16,7-15.

Đấng Pa-rác-lê – Thánh Thần – trong Tin Mừng Gio-an giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Sau khi Đức Giê-su về với Cha của Người, Đấng Pa-rác-lê – Thánh Thần – Thần Khí sự thật – sẽ “ở với”, “ở giữa” và “ở trong” các môn đệ mãi mãi (14,16-17); sẽ dạy các môn đệ tất cả và làm cho họ nhớ lại tất cả những gì Đức Giê-su đã nói (14,26); sẽ cùng với các môn đệ làm chứng cho Đức Giê-su (15,26); sẽ làm cho các môn đệ biết sự thật về thế gian (16,8-11); sẽ dẫn các môn đệ đi trong chân lý toàn vẹn (16,13a); sẽ loan báo cho các môn đệ những điều sẽ xảy đến (16,13b). Xem phân tích chi tiết vai trong của Đấng Pa-rác-lê trong tập sách: Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật – trong Tin Mừng thứ tư, 376 tr.

Đức Giê-su đã hứa ban “Đấng Pa-rác-lê – Thánh Thần” cho các môn đệ và sau khi Phục Sinh, Người thực hiện lời Người đã hứa khi nói với họ: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”, các môn đệ lãnh nhận “Đấng Pa-rác-lê – Thánh Thần”, Đấng làm cho các môn đệ vững mạnh trong sự hiểu biết và trong niềm tin vì được “Đấng Pa-rác-lê – Thánh Thần” đồng hành, soi sáng, dạy dỗ và hướng dẫn.

Đức Giê-su ban Thánh Thần cho các môn đệ vào chiều ngày thứ nhất trong tuần (20,19), ngày người Sống Lại, nhưng vẫn còn ở trong khung cảnh kín đáo và riêng tư, mọi chuyện xảy ra trong một căn phòng mà “các cửa đều đóng kín”. Thánh Thần sẽ đến công khai trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2,1-11), khởi đầu sứ vụ rao giảng công khai của các môn đệ. Các môn đệ ra đi rao giảng, tiếp nối sứ vụ của Đức Giê-su trong thế gian. Lời trao quyền “tha tội và cầm giữ” cần được hiểu trong bối cảnh quà tặng “bình an”, “Thánh Thần” và trao ban sứ vụ.      

6. Đức Giê-su ban quyền “tha tội và cầm giữ” (20,23)    

Sau khi ban bình an, Đức Giê-su cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn để các môn đệ nhận ra Đấng Phục Sinh chính là Đức Giê-su (20,19-20), rồi Người lại ban bình an kèm theo sứ vụ được sai đi (20,21). Cuối đoạn văn 20,19-23 Đức Giê-su long trọng ban Thánh Thần kèm theo lời ban quyền tha tội và cầm giữ như sau: “22 Nói xong điều đó, Người thổi hơi và nói với các ông: ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. 23 Anh em tha tội của ai thì tội của họ được tha, anh em cầm giữ tội ai, thì tội của họ bị cầm giữ’” (20,22-23).

Quyền “tha tội và cầm giữ” được trao cho các môn đệ vì từ nay Đức Giê-su không còn hiện diện thể lý ở trần gian nữa. Quyền “tha tội và cầm giữ” của các môn đệ không thể tách rời khỏi quà tặng bình an của Đức Giê-su, không thể tách rời khỏi sứ sụ sai đi để làm cho thế gian nhận biết tình yêu của Thiên Chúa và không thể tách rời khỏi hoạt động của Thánh Thần nơi các môn đệ.

Các môn đệ được trao quyền “tha tội và cầm giữ” là được tham dự vào quyền xét xử của Đức Giê-su, quyền mà Người đã thực hiện trong sứ vụ công khai. Đây là quyền mà  Đức Giê-su đã nhận từ Chúa Cha. Đức Giê-su nói với những người Do Thái: “26 Vì như Cha có sự sống nơi mình thế nào thì cũng ban cho Con có sự sống nơi mình như vậy, 27 và ban cho Người quyền để thi hành việc xét xử, vì Người là Con Người” (5,26-27). Chúa Cha đã ban cho Đức Giê-su quyền xét xử, thì khi hoàn tất sứ vụ Chúa Cha giao phó trên trần thế, Đức Giê-su trao quyền xét xử cho các môn đệ. Có thể nói, với quyền “tha tội và cầm giữ”, các môn đệ tiếp nối Đức Giê-su thi hành sứ vụ cứu độ mang lại sự sống đích thực cho con người.

Như thế các môn đệ không thể thi hành quyền “tha tội và cầm giữ” theo ý riêng mà phải dựa trên giáo huấn của Đức Giê-su và sự hướng dẫn của Thánh Thần. Đồng thời, mục đích của quyền “tha tội và cầm giữ” là để thực thi lòng thương xót của Thiên Chúa, bênh vực con người và đem lại sự sống cho con người.

Theo thần học Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su không đến để xét xử thế gian những để cứu thế gian và ban sự sống cho thế gian. Toàn bộ sứ vụ của Đức Giê-su là thực hiện ý định yêu thương của Thiên Chúa nói đến ở Ga 3,16-17: “16 Vì Thiên Chúa đã quá yêu mến thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để bất cứ ai tin vào Người thì không hư mất, nhưng có sự sống đời đời. 17 Vì Thiên Chúa không sai Con đến thế gian để lên án thế gian, nhưng để nhờ Người, thế gian được cứu.” Trong viễn cảnh này, ai không tin vào Đức Giê-su, không đón nhận sự sống đời đời, thì đã tự kết án mình (3,18). Quyền “tha tội và cầm giữ” mà Đức Giê-su trao cho các môn đệ cũng là quyền “ban sự sống đích thực” cho những người tin vào Đức Giê-su. Các môn đệ được Đức Giê-su ban tặng bình an và Thánh Thần, được Người trao quyền và sai đi để thi hành sứ vụ đem lại “sự sống” và “sức sống” cho thế gian.

Kết luận

Đoạn Tin Mừng Ga 20,19-23 thuật lại việc các môn đệ THẤY Đức Giê-su Phục Sinh, được chèn vào giữa những trình thuật đề cao việc KHÔNG THẤY Đức Giê-su mà vẫn tin vào Người. Theo thần học Tin Mừng Gio-an, THẤY hay KHÔNG THẤY Đấng Phục Sinh đều quan trọng.

Việc các môn đệ THẤY Đức Giê-su Phục Sinh là nền tảng của lời chứng để các môn đệ thuộc những thế hệ tiếp theo tin vào Đức Giê-su Phục Sinh. Bản văn đề cao ý tưởng “KHÔNG THẤY mà tin” những điều này lại dựa trên việc Đức Giê-su Phục Sinh tỏ mình ra cho các môn đệ THẤY.

Điểm quan trọng thứ hai trong đoạn văn Ga 20,19-23 là quà tặng của Đức Giê-su. Trong lúc các môn đệ đang sợ hãi, khép kín, cửa đóng then cài, Đức Giê-su Phục Sinh đã đến trao tặng các môn đệ những yếu tố nền tảng, giúp cộng đoàn các môn đệ tồn tại, phát triển và thi hành sứ vụ. Đây là bốn yếu tố nền tảng của cộng đoàn các môn đệ:

-   Sống BÌNH AN của Đức Giê-su.
-   Thi hành SỨ VỤ Đức Giê-su giao phó.
-   Đón nhận sự hướng dẫn và dạy dỗ của THÁNH THẦN.
-   Thi hành quyền “THA TỘI và CẦM GIỮ” để đem sự sống của Đức Giê-su đến cho mọi người.

Các yếu tố trên vẫn luôn là nền tảng của cộng đoàn các môn đệ qua mọi thế hệ. Đoạn văn Ga 20,19-23 mời gọi độc giả xây dựng cộng đoàn dựa trên bình an của Đức Giê-su ban tặng; dựa trên sự hiện diện và hướng dẫn của Thánh Thần; để cùng nhau thi hành sứ vụ Đức Giê-su giao phó và thực thi quyền đem lại sự sống đích thực cho con người./.
   



5 commentaires:

  1. Cám ơn cha về bài Tìm hiểu Tin Mừng Ga 20,19-23. Cha không chỉ giới hạn trong đoạn văn này, nhưng đã đặt trong đoạn văn lớn và liên hệ với cái nhìn thần học của Ga về vấn đề đó, để bài tìm hiểu có một cái nhìn xuyên suốt và phong phú. Thật ý nghĩa khi quyền "tha tội và xét xử" phải được hiểu đúng tinh thần của Đức Kitô: yêu thương, cứu độ và ban sự sống cho con người. Tiếc rằng, ngày nay nhiều người cảm thấy "quyền bính của giáo hội cơ sở" nặng nề và gò bó, nên khó nghiệm ra được "bình an"! Người ta cũng thấy khó cảm nhận được "bình an" khi cuộc đời gặp toàn "thử thách gian nan" (thường: bình an là an và lành). Cám ơn cha đã làm nổi bật giá trị của bình an đích thực: bình an ngay trong "khó khăn và sợ hãi". Đây là bình an "lớn" mà thế gian không thể ban tặng! Điều này quan trọng cho niềm tin và lý giả phần nào mầu nhiệm sự dữ trong cuộc sống.

    RépondreSupprimer
  2. Cám ơn cha thật nhiều về bài: „Không thấy- Thấy- Không thấy“
    Con người được sinh ra có đôi mắt để nhìn thấy, đó là hạnh phúc tuyệt vời! Tuy nhiên, mắt chỉ nhìn được những cái xung quanh nó; mắt tự nhìn thấy được mắt?
    Thông thường, trong thực tế cuộc sống, người ta thấy được cái gì đó vì đã nhìn; đôi khi, cố nhìn mãi mà chẳng thấy được gì cả!
    Sống là nhìn, nhìn trời cao, đất thấp. Nhìn mà không thấy rõ hướng sẽ đi vào ngõ cụt... Bao nhiêu người đã nhìn Đức Giê su, nhưng vẫn không thấy đó là Đấng giàu lòng Thương Xót. Đã có người nhìn Đức Giê su rồi bảo đó là tên quỷ ám, tên mê ăn uống, tên tội lỗi, không phải là người của Thiên Chúa(GA. 9:24; 9:16. MT. 9:11; 9:34. LC. 19:7)
    Cuộc sống được phong phú, dồi dào, có ý nghĩa là khi cuộc sống đó có tình yêu thương thật sự. Nhưng con người không phải là tình yêu, mà chỉ có tình yêu. Do đó, Thái độ sống của con người thường là muốn chiếm đoạt và tích lũy nên khiến cho tình yêu con người bị nghèo nàn và trống rổng. Cuộc sống trở nên khô cằn, vô nghĩa, con người sẽ sống gian dối, lừa gạt, tranh giành nhau; người này sẽ đè người khác xuống để họ được nâng lên cao, và đến một lúc nào đó, bất chấp tất cả, họ sẵn sàng giết chết người khác để họ được sống một mình thoải mái, sung sướng. Khi cuộc sống mà con người luôn luôn biết múc lấy Tình yêu của suối nguồn vĩnh cữu là Thiên Chúa rồi nghĩ đến người khác mà biết phân phát, biết cho đi những gì theo khả năng mình có thì cuộc sống đó mới triển nở, dạt dào hạnh phúc, con người mới sống thật được bình an. Phải như vậy, thưa cha?

    RépondreSupprimer
  3. Con người có thể rơi vào tình trạng “nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu”. Khả năng “nghe” và “thấy” là đề tài lớn trong thần học Tin Mừng Gio-an. Những người Do Thái trong Tin Mừng Gio-an đã thấy những dấu lạ Đức Giê-su làm, đã nghe những lời Đức Giê-su giảng dạy, nhưng họ vẫn không tin, nghĩa là họ “không thấy” và “không biết” thực sự Đức Giê-su là ai. Hình như khả năng “nghe và thấy Đức Giê-su” không thể tách rời khỏi “lòng” và “trí”. Nếu không “mở lòng”, “mở trí” để đón nhận, nếu không hoán cải và bước vào tương quan lòng mến, thì không thể “nghe” và “thấy” Đức Giê-su được.

    Trong thực tế cuộc sống, con người chỉ có thể “thấy” và “nghe” thực sự, khi có sự đồng cảm từ cả hai phía: “Người nói” và “người nghe”. Nếu cả hai “cùng tần số” mới chuyển tải được lời muốn nói cho nhau. Khi chưa mở lòng ra để đón nhận, chưa sẵn sàng để nghe, thì lời nói chỉ là “đàn gảy tai trâu” mà thôi. Lời nói chỉ có hiệu quả khi người nghe muốn nghe, sẵn sàng để nghe, và người nói muốn nói với lòng yêu thương và tôn trọng nhau.

    Về tình yêu, có lẽ ai cũng biết rằng con người chỉ thực sự có tình yêu khi được yêu thương, yêu thương, tôn trọng và mong muốn làm người khác hạnh phúc. Tuy nhiên, cuộc đời con người vẫn luôn có sự giằng co và đấu tranh giữa “ánh sáng” và “bóng tối”, giữa “làm việc tốt” và “làm việc xấu”, giữa “chiếm hữu” và “trao ban”…

    Trong cuộc chiến này, Đức Giê-su chỉ ra cho các môn đệ một con đường nghịch lý, Người nói: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, nó vẫn ở lại một mình; nhưng nếu chết đi, nó sinh nhiều hoa trái. Ai yêu mạng sống mình thì mất nó; ai ghét mạng sống mình trong thế gian này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời” (Ga 12,24-25). Đó là con đường “chết để sống”, “ghét để yêu” mà Đức Giê-su đã đi. Người mời gọi các môn đệ cùng bước đi trên con đường ấy để bày tỏ tình yêu. Đó là con đường có khả năng mang lại niềm vui, bình an và sự sống đích thực cho mình và cho người khác./.

    RépondreSupprimer
  4. Mừng lễ Hiện Xuống, Kính chúc cha được nhiều Ơn Chúa Thánh Thần, nhiều niềm vui và hy vọng, tam hồn tràn ngập sự bình an.
    Mục đích cuộc đời con người là kiếm tìm hạnh phúc, ai cũng mong muốn có cuộc sống đầm ấm, an vui. Tuy vậy, con người đang sống trong hiện tại, họ không lo nghĩ cho cuộc sống hiện tại, mà cứ hướng về tương lai, quá bận tâm băng khoăng, lo lắng cho tương lai đời mình. Tương lai là gì vậy? Không ai nắm vững, chỉ biết mò mẫm, phỏng đoán, kiếm tìm!
    Cuộc sống luôn là một cuộc kiếm tìm, có nhiều vất vả tính toán và đầy lo toan. Phải chăng khi con người lặn lội kiếm tìm, tích lũy có được nhiều của cải, có nhiều tiền bạc, có địa vị danh vọng... thì cuộc sống đó mới được vững chải, bền lâu, họ mới có được sự bình an, hạnh phúc?
    Nhưng sự bình an và hạnh phúc mà con người đang mãi mê kiếm tìm trong „cái có“ hàng ngày, nó luôn là một sự nghịch lý, vẫn lo âu, bất an.
    Nhìn vào thực tế, người ta muốn xây một ngôi nhà rộng lớn để sống thoải mái, tận hưởng những tiện nghi; nhưng suốt ngày họ phải bận rộn, tất bật bù đầu lo tính toán với những công việc làm ăn, không một chút nghỉ ngơi.
    Con người hôm nay đã biết biến chế ra nhiều loại đồ uống, thức ăn để dùng và thưởng thức; vậy mà họ phải kiêng cử, ăn khem tránh khỏi hại sức khỏe, gây nên nhiều bệnh tật nguy hiểm.
    Người ta cùng hùn vốn, đầu tư kinh doanh hầu để kiếm được nhiều tiền của, nhưng khi đã có được nhiều tiền, người ta lại tranh giành, rồi giết nhau. Và còn biết bao chuyện khác đang diễn ra hàng ngày...
    Vậy phải tìm ở đâu để con người có được bình an, hạnh phúc thật?
    Trong Tin mừng Thánh Gioan, Đức Giêsu đã trả lời cho chúng ta biết: Nếu ta cho các ngươi tự do thì các ngươi mới đích thực tự do. (GA 8:36) Như vậy, Bình an, hạnh phúc của con người là sống trong tự do mà Chúa ban.
    Tự do và Bình an của Chúa là gì? Thực sự Thiên Chúa không có Tự do, không có Bình an; Nhưng chính Ngài là Tự do, chính Ngài là Bình an. Thiên Chúa không Có, mà Thiên Chúa Là. Thiên Chúa là tất cả. Mà trong đời sống, con người có nhiều thứ, con người có nhà cửa, có tiền bạc, con người có địa vị danh vọng, có bằng cấp..., nhưng con người không có Chúa. Như vậy con người vẫn mãi mãi thiếu, vẫn luôn luôn kiếm tìm. Con người vẫn mãi sống trong cô đơn tuyệt vọng, trong lo âu và bất an. Vì trong cuộc sống này, không có gì hiện hữu độc lập ngoài Ân Sủng của Thiên Chúa. Thưa cha, cha nghĩ thế nào?

    RépondreSupprimer
  5. Có lẽ cần phân biệt “những giá trị trần thế” với “những giá trị đức tin”. Người ta có thể có mọi giá trị trần thế như: tình yêu, bình an, niềm vui, tự do và hạnh phúc, nhưng không đương nhiên là có sự sống, niềm vui và bình an của Đức Giê-su ban tặng.

    Giá trị trần thế và giá trị của người tin vào Đức Giê-su vừa giống nhau, vừa khác nhau từ nền tảng. Trong trường hợp có sự xung đột thì giá trị đức tin cần được ưu tiên. Bằng chứng là có người sống ở trần gian khốn khổ suốt cả đời, nhưng lại được hưởng hạnh phúc đời sau, và ngược lại (xem dụ ngôn người giàu có và anh La-da-rô nghèo trong Tin Mừng Lc 19,16-31). Biết bao vị thánh tử đạo đã bị bách hại, tù tội và bị giết chết. Các vị không có bình an, niềm vui, tự do và hạnh phúc trần thế, nhưng thực sự các vị là người có bình an, niềm vui, tự do và hạnh phúc của Đức Giê-su ban tặng, ngay ở đời này và suốt cả đời sau.

    Đức Giê-su mời gọi con người lo tìm kiếm nước Thiên Chúa trước tiên (Mt 6,33), nghĩa là tìm kiếm và sống những giá trị mà Đức Giê-su ban tặng cho những ai tin và sống theo giáo huấn của Người./.

    RépondreSupprimer