11/04/2020

Ga 20,1-2. Ma-ri-a Mác-đa-la ra mộ lúc sáng sớm, khi trời còn tối, để làm gì?



Tác giả: Giuse Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com
Cập nhật, ngày 11 tháng 04 năm 2020.


Nội dung

Dẫn nhập
I. Trình thuật bốn Tin Mừng
    1. Mc 16,1-8
    2. Mt 28,1-10
    3. Lc 24,1-12
    4. Ga 20,1-2.11-18
II. Bốn câu hỏi về bản văn Ga 20,1-2
    1. Tại sao có chi tiết “khi trời còn tối”? 
    2. Tại sao không cho biết lý do ra mộ?
    3. Tại sao đi đến mộ một mình?
    4. Tại sao thấy một đàng kể lại một nẻo? 
Kết luận




Dẫn nhập

Đức Giê-su đã chết trên thập giá, sau khi được mai táng, Người rời khỏi sân khấu lịch sử, không ai thấy Người nữa. Ít lâu sau, các môn đệ xuất hiện loan báo Người đã Phục Sinh, ai tin vào Người thì được cứu. Đó là tin vui lớn lao cho nhân loại. Nhưng giữa hai biến cố: Đức Giê- đã chết và khẳng định Người đã Phục Sinh, điều gì đã xảy ra? Trình thuật Tin Mừng Gio-an (Ga 20,1-2) đặt ra câu hỏi: Lúc sáng sớm, khi trời còn tối, Ma-ri-a Mác-đa-la ra mộ để làm gì? Câu hỏi tưởng chừng đơn giản nhưng không dễ trả lời, vì bản văn không cho biết chị ra mộ để viếng xác hay để ướp xác. Tại sao lại đi một mình? Tại sao không vào mộ? v.v… Bài viết đề nghị câu trả lời qua hai mục: (I) trình thuật bốn Tin Mừng; (II) bốn câu hỏi liên quan đến Ga 20,1-2.

I. Trình thuật bốn Tin Mừng

Bốn Tin Mừng trình bày biến cố Phục Sinh xoay quanh ngôi mộ trống và những cuộc hiện ra. Trích dẫn bốn Tin Mừng về những gì xảy ra sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần cho thấy những nét độc đáo riêng của mỗi Tin Mừng. Trích dẫn Mt và Lc lấy trong NPD/CGKPV, 2011, về Mc và Ga, xem Tin Mừng Mác-cô, và Bản văn Gio-an, Tin Mừng và ba thư:

    1. Mc 16,1-8

Mc 16,1-8: “1 Ngày sa-bát vừa hết, Ma-ri-a Mác-đa-la, Ma-ri-a mẹ ông Gia-cô-bê, và Sa-lô-mê mua dầu thơm (arôma) để đến ướp xác (aleiphô) Người (Đức Giê-su). 2 Sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, các bà ra mộ lúc mặt trời mọc. 3 Các bà nói với nhau: ‘Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ (tou mnêmeiou) cho chúng ta đây?’ 4 Và  ngước mắt lên, các bà thấy tảng đá đã lăn ra, vì tảng đá ấy rất lớn. 5 Đi vào trong mộ, các bà thấy một người thanh niên (neaniskon) đang ngồi bên phải, mặc áo chùng trắng, và các bà hoảng sợ. 6 Nhưng người ấy nói với họ: ‘Đừng hoảng sợ. Các bà tìm Đức Giê-su Na-da-rét đã bị đóng đinh, Người đã được trỗi dậy, Người không ở đây nữa. Hãy xem chỗ người ta đã đặt Người. 7 Các bà hãy đi nói với các môn đệ của Người và với Phê-rô rằng: ‘Người sẽ đến Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người như Người đã nói với các ông’.’ 8 Vừa ra khỏi mộ, các bà liền chạy trốn, các bà run lẩy bẩy và hết hồn hết vía. Họ chẳng nói gì với ai, vì họ sợ hãi.”

Theo Mác-cô, có ba bà đi ra mộ với mục đích rõ ràng: “đến ướp xác Đức Giê-su” (Mc 16,1). Các bà vào trong mộ và thấy một người thanh niên (neaniskos), khác với Lc là “hai người đàn ông” (Lc 24,4), Mt là “một thiên sứ” (Mt 28,2) và Ga là hai thiên sứ (Ga 20,12). Sứ điệp dành cho các bà trong Tin Mừng Nhất lãm gồm hai ý: Đức Giê-su đã trỗi dậy và Người hẹn gặp các môn đệ ở Ga-li-lê. Tin Mừng Mác-cô kết cách lạ lùng ở 16,8b: “Họ chẳng nói gì với ai, vì họ sợ hãi.” Xem bài viết: “‘Khởi đầu’ và ‘kết thúc mở’ Tin Mừng Mác-cô.”

    2. Mt 28,1-10

Mt 28,1-10: “1 Sau ngày sa-bát, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa ló rạng, bà Ma-ri-a Mác-đa-la và một bà khác cũng tên là Ma-ri-a, đi viếng (theôrêsai) mộ (ton taphon). 2 Thình lình, đất rung chuyển dữ dội: thiên sứ (aggelos) của Chúa từ trời xuống, đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên; 3 diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết. 4 Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi. 5 Thiên thần (ho aggelos) lên tiếng bảo các phụ nữ: ‘Này các bà, các bà đừng sợ! Tôi biết các bà tìm Đức Giê-su, Đấng bị đóng đinh. 6 Người không có ở đây, vì Người đã trỗi dậy như Người đã nói. Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm, 7 rồi mau về nói với môn đệ Người như thế này: Người đã trỗi dậy từ cõi chết, và Người đi Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người. Đấy, tôi xin nói cho các bà hay.” 8 Các bà vội vã rời khỏi mộ (tou mnêmeiou), tuy sợ hãi nhưng cũng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho môn đệ Đức Giê-su hay. 9 Bỗng Đức Giê-su đón gặp các bà và nói: ‘Chào chị em!’ Các bà tiến lại gần Người, ôm lấy chân, và bái lạy Người. 10 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với các bà: ‘Chị em đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó.”

Theo Mát-thêu, có hai bà cùng tên là “Maria” ra mộ và có mục đích rõ ràng: “để viếng (theôrêsai) mộ (ton taphon)” (Mt 28,1). Động từ “theoreô” ở lối vô định, dịch sát: “để quan sát”, “để xem” mộ. Xảy ra là đất rung chuyển, thiên sứ từ trời xuống lăn tảng đá ra. Thiên thần nói với các bà một câu dài (Mt 24,5-7) với hai ý: Đức Giê-su đã sống lại và sẽ gặp các môn đệ ở Ga-li-lê. Câu chuyện ở mộ kết thúc với chi tiết: các bà vừa sợ, vừa vui chạy về báo tin cho các môn đệ. Mt dùng hai từ có nghĩa “mộ”: “taphos” (28,1) và “mnêmeion” (28,8). Các Tin Mừng khác chỉ dùng từ “mnêmeion”. Mt nói tới một thiên sứ (aggelos), diện mạo người như ánh chớp, và y phục trắng như tuyết, xuất hiện (28,2-5), trong khi Lc nói đến “hai người đàn ông (andres duo) y phục sáng chói” (Lc 24,4). Đoạn văn tiếp theo (Mt 28,9-10) cho biết các bà đang trên đường về báo tin cho các môn đệ thì Đức Giê-su Phục Sinh gặp các bà và nhắc lại sứ điệp của thiên sứ: báo cho các môn đệ đến Ga-li-lê gặp Người (Mt 28,10).

    3. Lc 24,1-12

Lc 24,1-12: “1 Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mộ, mang theo dầu thơm (arôma) đã chuẩn bị sẵn. 2 Họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mộ (tou mnêmeiou). 3 Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài Chúa Giê-su đâu cả. 4 Họ còn đang phân vân, thì bỗng có hai người đàn ông (andres duo) y phục sáng chói, đứng bên họ. 5 Đang lúc các bà sợ hãi, cúi gầm xuống đất, thì hai người kia nói: ‘Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết? 6 Người không còn đây nữa, nhưng đã trỗi dậy rồi. Hãy nhớ lại điều Người đã nói với các bà hồi còn ở Ga-li-lê, 7 là Con Người phải bị nộp vào tay phường tội lỗi, và bị đóng đinh vào thập giá, rồi ngày thứ ba sống lại.” 8 Bấy giờ các bà nhớ lại những điều Đức Giê-su đã nói. 9 Khi từ mộ trở về, các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. 10 Mấy bà nói đây là bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Gio-an-na, và bà Ma-ri-a, mẹ ông Gia-cô-bê. Các bà khác cùng đi với mấy bà này cũng nói với các Tông Đồ như vậy. 11 Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin. 12 Dầu vậy, ông Phê-rô cũng đứng lên chạy ra mộ. Nhưng khi cúi nhìn, ông thấy chỉ còn có những khăn liệm thôi. Ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự việc đã xảy ra.”

Theo Lu-ca, bản văn cho biết là “các bà” nhưng đến cuối đoạn văn mới cho biết tên ba bà cùng với các bà khác nữa (Lc 24,10). Các bà “mang theo dầu thơm (arôma) đã chuẩn bị sẵn” (Lc 24,1), hiểu ngầm là để ướp xác Đức Giê-su. Nhưng Lc không nói ra điều này nhằm nhấn mạnh chi tiết “mang theo dầu thơm đã chuẩn bị sẵn”. Dầu thơm này đã được các bà chuẩn bị ngay sau khi táng xác Đức Giê-su, như người thuật chuyện cho biết ở Lc 23,56: “Các bà về nhà, chuẩn bị dầu và thuốc thơm. Nhưng ngày sa-bát, các bà nghỉ lễ như Luật truyền”. Các Tin Mừng khác (Mc, Mt, Ga) không có chi tiết chuẩn bị dầu thơm này.

    4. Ga 20,1-2.11-18

Ga 20,1-2: “1 Vào ngày thứ nhất trong tuần, Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ (to mnêmeion) lúc sáng sớm, khi trời còn tối, bà thấy tảng đá đã bị lấy ra khỏi mộ (ek tou mnêmeiou). 2 Bà liền chạy đến với Si-môn Phê-rô và người môn đệ khác – người Đức Giê-su thương mến –, bà nói với các ông: ‘Người ta đã lấy Chúa khỏi mộ và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu.’”
[Ga 20,3-10. Phê-rô và môn đệ Đức Giê-su thương mến đi ra mộ]

Ga 20,11-18: “11 Còn Ma-ri-a đứng gần bên mộ, ở phía ngoài, mà khóc. Bà ấy vừa khóc vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, 12 bà thấy hai thiên thần (duo aggelous) mặc áo trắng ngồi đó, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân, ở nơi đã đặt thi hài Đức Giê-su. 13 Các vị này nói với bà: ‘Này bà, tại sao bà khóc?’ Bà ấy nói với các vị: ‘Người ta đã lấy Chúa của tôi, và tôi không biết họ đặt Người ở đâu.’ 14 Nói xong điều đó, bà ấy quay lại phía sau và thấy Đức Giê-su đứng đó, nhưng bà ấy không biết là Đức Giê-su. 15 Đức Giê-su nói với bà: ‘Này bà, tại sao bà khóc? Bà tìm ai?’ Tưởng đó là người làm vườn, bà ấy nói với Người: ‘Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, xin nói cho tôi biết ông đặt Người ở đâu, tôi sẽ mang Người về.’ 16 Đức Giê-su nói với bà: ‘Ma-ri-a.’ Bà ấy quay lại và nói với Người bằng tiếng Híp-ri: ‘Ráp-bu-ni’ (nghĩa là ‘Thưa Thầy’). 17 Đức Giê-su nói với bà ấy: ‘Đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Cha. Nhưng hãy đi đến với anh em của Thầy và nói với họ: ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy cũng là Cha của anh em, Thiên Chúa của Thầy cũng là Thiên Chúa của anh em’.’ 18 Ma-ri-a Mác-đa-la đến báo cho các môn đệ rằng: ‘Tôi đã thấy Chúa.’ Và Người đã nói với bà ấy những điều đó.”

So với các Tin Mừng khác, phần mở đầu trình thuật Phục Sinh trong Tin Mừng Gio-an trình bày ngắn gọn trong 2 câu (20,1-2) với bốn chi tiết mới so với các Tin Mừng Nhất Lãm: (1) thời gian được làm rõ và nhấn mạnh: “lúc sáng sớm, khi trời còn tối”. Cụm từ “khi trời còn tối” chỉ có trong Tin Mừng Gio-an. (2) Chỉ một mình Ma-ri-a Mác-đa-la đi ra mộ. (3) Bản văn không cho biết chị ra mộ để làm gì. (4) Khi thấy tảng đá đã lăn ra, chị không vào mộ mà lại chạy đi nói với Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến ở 20,2b: “Người ta đã lấy Chúa khỏi mộ và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu.” Điều lạ là chị không nói “điều chị thấy” mà nói “điều chị nghĩ” (giả thiết là thế). Tại sao ra mộ một mình (số ít) mà khi kể cho hai môn đệ lại xưng là “chúng tôi” (số nhiều)?

Hai trình thuật về (1) thiên sứ (thanh niên, đàn ông) xuất hiện ở mộ trong Tin Mừng Nhất Lãm và (2) Đức Giê-su Phục Sinh gặp các phụ nữ đang trên đường từ mộ về báo tin cho các môn đệ ở Mt 28,9-10, song song với trình thuật trong Tin Mừng Gio-an ở (1) Ga 20,11-13 cho biết Ma-ri-a Mác-đa-la khóc ở mộ và đối thoại với “hai thiên thần (duo aggelous) mặc áo trắng ngồi đó” (Ga 20,12) ; và ở (2) Ga 20,14-18 nói về  Đức Giê-su Phục Sinh tỏ mình ra cho chị kèm theo lời Đức Giê-su nhắn gửi các môn đệ (20,17). Nội dung lời này  là riêng của Ga, khác với lời Đức Giê-su trong Tin Mừng Nhất Lãm. Chi tiết Phê-rô chạy ra mộ ở Lc 24,12a, song song với Ga 20,3-10: trình thuật Phê-rô và môn đệ Đức Giê-su thương mến đi ra mộ. Sau khi quan sát tổng quát tình trạng bản văn trong bốn Tin Mừng phần tiếp theo tìm hiểu Ga 20,1-2.

II. Bốn câu hỏi về bản văn Ga 20,1-2

Cách kể chuyện lạ lùng trong Ga 20,1-2 đặt ra cho độc giả nhiều câu hỏi, phần sau gợi ý trả lời bốn câu: (1) Tại sao có chi tiết “trời còn tối”? (2) Tại sao không cho biết ra mộ để làm gì? (3) Tại sao Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ một mình? (4) Tại sao thấy một đàng kể lại một nẻo?

    1. Tại sao có chi tiết “khi trời còn tối”? 

Lúc Ma-ri-a Mác-đa-la đi ra mộ là “sáng sớm, khi trời còn tối”. Đã “sáng” nhưng vẫn còn “tối”. Chi tiết này cho biết là vào thời điểm rất sớm. Hình như Ma-ri-a thao thức, chờ trời sáng để đi ra mộ sớm bao nhiêu có thể được. Đồng thời, bối cảnh trình thuật cho phép hiểu “trời còn tối” theo nghĩa biểu tượng. “Trời còn tối” gợi đến “bóng tối trong lòng” chị. Bóng đêm của sự chết vẫn còn đè nặng tâm hồn Ma-ri-a Mác-đa-la, lòng trí của chị vẫn còn ở trong bóng tối của biến cố Thương Khó. Đó là lý do khiến Ma-ri-a không nhận ra Đức Giê-su Phục Sinh trong trình thuật tiếp theo (Ga 20,11-18). Chị đã khóc và chỉ mong tìm lại xác Đức Giê-su vì nghĩ người ta lấy mất xác Chúa (Ga 20,11). Ở Ga 20,1, chi tiết “tối trời” gợi đến “tối lòng” cho thấy Ma-ri-a hoàn toàn ở về phía con người, biến cố Đức Giê-su chết đang ám ảnh lòng trí của chị. Có thể hiểu, sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, lòng Ma-ri-a cũng tối tăm, ảm đạm, đau buồn vì Thầy đã chết.

Tóm lại, chi tiết “trời còn tối” gợi lên hai điều độc đáo: (1) Lòng gắn bó của Ma-ri-a với Đức Giê-su, chị đi ra mộ rất sớm. Tất cả những gì chị làm đã bộc lộ lòng mến của chị dành cho Thầy. (2) Gợi ý đến bóng tối về cái chết của Thầy trong lòng chị, chị không nghĩ gì khác ngoài cái chết, và xác chết của Thầy.

    2. Tại sao không cho biết lý do ra mộ?

Bản văn không cho biết Ma-ri-a Mác-đa-la ra mộ để làm gì. Chị không mang dầu thơm ra mộ để ướp xác Đức Giê-su như trong Tin Mừng Mác-cô hay Lu-ca. Theo thần học Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su đã được an táng đúng theo tục lệ chôn cất của người Do Thái. Thi hài Đức Giê-su đã được “quấn bằng băng vải tẩm thuốc thơm” (19,39) với một trăm cân mộc dược trộn với trầm hương mà Ni-cô-đê-mô mang tới (19,40). Như thế, không cần “mang dầu thơm ra ướp xác Đức Giê-su” nữa vì đã làm ở Ga 19,39-40 rồi. 

Bản văn cũng không nói Ma-ri-a “đi viếng mộ” như trong Tin Mừng Mát-thêu. Sự kiện Tin Mừng Gio-an thuật lại việc Ma-ri-a đến mộ mà không nói rõ lý do, giúp người đọc nhận ra một lý do sâu xa hơn. Mạch văn cho phép hiểu, Ma-ri-a ra mộ chỉ đơn giản là ước mong gặp lại Thầy, được ở bên cạnh Thầy, dù Thầy đã chết.

    3. Tại sao đi đến mộ một mình?

Khác với Tin Mừng Nhất Lãm, theo Tin Mừng Gio-an chỉ có một mình Ma-ri-a Mác-đa-la đến mộ. Điều này ăn khớp với những điểm thần học mà Tin Mừng Gio-an muốn trình bày. Việc Ma-ri-a Mác-đa-la đến mộ một mình chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ và trao đổi riêng giữa Đức Giê-su Phục Sinh với chị trong đoạn văn tiếp theo (Ga 20,11-18). Đoạn văn này quan trọng vì mô tả cách thức và điều kiện để con người có thể nhận ra Đấng Phục Sinh và cách thức Đấng Phục Sinh bày tỏ Người ra cho con người.

Vậy Ma-ri-a Mác-đa-la trở thành nhân vật biểu tượng. Hành trình chị nhận ra Đấng Phục Sinh cũng là hành trình của độc giả qua mọi thời đại. Hai câu mở đầu Tin Mừng Phục Sinh ở Ga 20,1-2 mời gọi độc giả cùng sống với tâm trạng của chị, gắn bó với Đức Giê-su và bày tỏ lòng mến đối với Thầy cho dù lòng mình vẫn tối tăm mù mịt. Lòng mến dành cho Thầy là bước khởi đầu nền tảng để nhận ra người mình thương mến đã Phục Sinh.

    4. Tại sao thấy một đàng kể lại một nẻo? 

Điều lạ lùng trong bản văn là Ma-ri-a Mác-đa-la “thấy tảng đá đã bị lấy ra khỏi mộ” (Ga 20,1b), nhưng chị lại không kể “điều mình thấy” mà kể về “điều mình nghĩ”. Chị nói với Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su yêu mến ở 20,2: “Người ta đã lấy Chúa khỏi mộ và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu.” Lời này gợi lại trình thuật Mt 28,12-13: “Các thượng tế liền họp với các kỳ mục; sau khi bàn bạc, họ cho lính một số tiền lớn và bảo: ‘Các anh hãy nói như thế này: Ban đêm đang lúc chúng tôi ngủ, các môn đệ của hắn đã đến lấy trộm xác’.”

Có thể nói cách hài hước rằng trong Tin Mừng Gio-an ý tưởng “lấy trộm xác Đức Giê-su” là của Ma-ri-a Mác-đa-la. Còn trong Tin Mừng Mát-thêu là các thượng tế mua chuộc quân lính để họ tung tin không đúng sự thật (đang “ngủ” mà “thấy” các môn đệ lấy xác!) và “câu chuyện này được phổ biến giữa người Do-thái cho đến ngày nay” (Mt 28,15b). Điểm khác là Ma-ri-a Mác-đa-la giả thiết là “người ta” (Ga 20,2) hay là “người làm vườn” (Ga 20,15) đã lấy Chúa khỏi mộ. Còn điều bịa đặt của các thượng tế và kỳ mục là “các môn đệ của Đức Giê-su” đã lấy trộm xác (Mt 28,13).

Độc giả ngạc nhiên là chính Ma-ri-a Mác-đa-la, người đã bày tỏ lòng mến và lòng gắn bó với Đức Giê-su, lại đưa ra giả thuyết “bị lấy trộm xác”, trong khi điều chị thấy chỉ là “tảng đá đã bị lấy ra khỏi mộ”. Điều này mang ý nghĩa thần học quan trọng về biến cố Phục Sinh. Thật vậy, không chỉ các thượng tế và kỳ mục là những người không tin, mà kể cả Ma-ri-a Mác-đa-la và các môn đệ, không ai nghĩ đến việc Đức Giê-su đã Sống Lại. Điều mọi người nghĩ tới khi đứng trước ngôi mộ trống là “người ta đã lấy Chúa khỏi mộ.” Ma-ri-a Mác-đa-la xác quyết về giả thuyết của mình đến nỗi chị đã hỏi chính Đức Giê-su Phục Sinh về xác chết của Người, vì chị tưởng Đấng Phục Sinh là người làm vườn (Ga 20,15).

Vậy nhận ra Đức Giê-su đã Phục Sinh là một ơn ban từ trên. Chính Đức Giê-su đã tỏ ra cho Ma-ri-a Mác-đa-la và các môn đệ biết Người đã sống lại, còn chính họ không thể tự mình nhận biết được. Nhưng làm thế nào để nhận ra Đức Giê-su Phục Sinh? Bản văn cho biết là hãy sống những gì rất “người”, “rất nhân bản” như Ma-ri-a Mác-đa-la đã sống, đã làm, đã thấy, đã nghĩ và đã nói ở Ga 20,1-2, đặc biệt là lòng mến, sự gắn bó mà chị đã dành cho Thầy.

Kết luận

Phân tích trên cho thấy nhiều điểm độc đáo trong bản văn Gio-an cũng như những hàm ẩn thần học phong phú. Độc giả không đi tìm thực tế lịch sử về biến cố đã xảy ra. Điều này vượt khỏi khả năng chủ quan (độc giả không nhắm nghiên cứu lịch sử) và khách quan (độc giả không có tài liệu lịch sử đúng nghĩa về biến cố), điều độc giả có trong tay là “ý nghĩa của biến cố” hay “cách hiểu biến cố” qua bản văn Tin Mừng. Mỗi Tin Mừng thuật lại một cách khác nhau để chuyển tải ý nghĩa phong phú của mặc khải qua biến cố đã xảy ra. Mục đích của độc giả là tìm ra ý nghĩa câu chuyện dành cho mình qua các tình tiết và cách thức kể chuyện. Chẳng hạn, Ga 20,1-2 gợi ra bốn ý tưởng:

1) Tin Mừng Gio-an đưa vào chi tiết “trời còn tối” vừa để độc giả thấy sự gắn bó và lòng mến của Ma-ri-a Mác-đa-la dành cho Đức Giê-su, vừa thoáng cho thấy chị đang bị bóng tối của sự chết đè nặng trong lòng.

2) Bản văn không cho biết lý do Ma-ri-a đi ra mộ để độc giả nhận ra lý do sâu xa hơn: tình yêu dành cho Thầy và ước mong được hiện diện với Thầy. Qua nhân vật Ma-ri-a, độc giả được mời gọi sống như thế để có cơ may gặp Đức Giê-su Phục Sinh.

3) Ma-ri-a đến mộ một mình chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ riêng với Đức Giê-su trong đoạn văn 20,11-18. Chị trở thành biểu tượng cho gặp gỡ riêng tư giữa độc giả và Đức Giê-su Phục Sinh. Có thể độc giả đã nghĩ như chị: người ta đã lấy xác Đức Giê-su chứ làm gì có chuyện Sống Lại. Chỉ khi dám nghĩ, dám sống bằng lòng mến như chị, thì khi Đấng Phục Sinh tỏ cho biết, độc giả sẽ nhận ra Người.

4) Ma-ri-a Mác-đa-la thấy “tảng đá đã bị lấy ra khỏi mộ” nhưng lại nói “người ta đã lấy Chúa khỏi mộ” cho thấy biến cố Đức Giê-su Phục Sinh vượt ra ngoài, vượt lên trên lịch sử. Không ai dám nghĩ tới, cho dù trong Tin Mừng Nhất Lãm, Đức Giê-su đã báo trước ba lần là Người sẽ Sống Lại. Lối hành văn này đề cao tính xác thực của biến cố Phục Sinh. Bởi vì ngay cả những người thân cận với Đức Giê-su cũng bất ngờ trước biến cố này. Phê-rô thì “rất đỗi ngạc nhiên” trước ngôi mộ trống (Lc 24,12c), một số môn đệ khác thì “hoài nghi” ngay cả khi đang đối diện với Đức Giê-su Phục Sinh (Mt 24,17)!

Tóm lại, biến cố Phục Sinh không để lại dấu vết trong lịch sử. Không ai có bằng chứng hiển nhiên về biến cố này. Người Ki-tô hữu tin Đức Giê-su đã Sống Lại là nhờ lời chứng của các Tông Đồ thuật lại trong các Tin Mừng. Đến lượt người tin, họ được mời gọi sống và làm chứng, để người khác tin Đức Giê-su đang sống, đang ở với và đang hoạt động nơi người tin và trong thế giới. Nội dung bài viết chỉ là những gợi ý để độc giả tiếp tục đọc bản văn, suy tư và tìm được từ bản văn những điều thú vị, có ý nghĩa, nghĩa là đọc chuyện xưa để thưởng thức và thêm sức sống cho hôm nay./.


7 nhận xét:

  1. Con rất thích ý tưởng "Độc giả được mời gọi đến với Đức Giê-su đã chết với tấm lòng của một con người, muốn hiện diện với Người dù trên bình diện lịch sử, Nguời đã thất bại và đã chết..." Thay vì nhìn Maria ở góc độ "kỳ thị phụ nữ", chẳng hạn: phụ nữ thường không có cái nhìn khách quan mà hay nhìn theo chủ quan... nên khi thuật lại điều gì cũng ! (chấm than). Nhưng một khi Maria là mỗi người trong chúng ta, thì rõ ràng Maria lại là một hình mẫu rất dễ thương. Ân sủng làm việc trên cái tự nhiên của con người, phải không ạ? Cám ơn cha vì những gợi ý chia sẻ vắn gọn nhưng súc tich. Xin Chúa Phục sinh ban muôn ơn lành trên cha.

    Trả lờiXóa
  2. Vậy là đến với Chúa Giê su Phục Sinh thì nên đến một mình với tất cả lòng mến của mình ?
    Một lời gợi ý độc đáo.
    Con sẽ làm theo.
    Cám ơn cha

    Trả lờiXóa
  3. Cám ơn cha thật nhiều về bài tìm hiểu Ga 20,1-2: “Lúc sáng sớm, khi trời còn tối”, Ma-ri-a Mác-đa-la ra mộ để làm gì?". Kính chúc cha Mùa Phục Sinh nhiều Hồng Ân Chúa, nhiều niềm vui và sức khỏe.
    Có nhiều người nói rằng, trước những khám phá của khoa học hiện đại, tín điều Giêsu Kitô sống lại ngày nay bị hoài nghi. Nhưng thiết nghĩ, tín điều này bị hoài nghi từ buổi Giáo hội sơ khai. Xét từ quan điểm thuần lý trí, vấn đề không phải Đức Giêsu có sống lại hay không sống lại. Điều chắc chắn là Ngài đã chết. Và tin Ngài sống lại là tin rằng, Ngài đã thắng sự chết. Khi không tin, còn lại gì! Xét thật kỹ, tin và hoài nghi không mâu thuẩn nhau, phải như vậy không, thưa cha?

    Trả lờiXóa
  4. Đúng vậy, trong mạch văn các sách Tin Mừng “tin” và “hoài nghi” không mâu thuẫn nhau, bởi vì hai điều ấy xảy ra nơi các môn đệ của Đức Giê-su. Hơn nữa, đề tài “tin” và “hoài nghi” liên quan đến biến cố Phục Sinh là nét độc đáo của các Tin Mừng.
    Trước hết nên phân biệt “tin vào Đức Giê-su” và “tin vào việc Đức Giê-su Phục Sinh”. Các môn đệ là những người tin vào Đức Giê-su vì đó là bản chất của người môn đệ, không tin thì không phải là môn đệ. Như thế, các môn đệ chỉ hoài nghi về biến cố Đức Giê-su Sống Lại.

    Xét về kỹ thuật hành văn, sự “hoài nghi của các môn đệ” có ý hai ý nghĩa tích cực:
    1) Việc các môn đệ hoài nghi đã loại bỏ hẳn tin đồn: Các môn đệ đã lấy cắp xác Đức Giê-su rồi phao tin Đức Giê-su đã Sống Lại. Điều này không thể xảy ra vì chính các môn đệ là những người hoài nghi về việc Đức Giê-su Sống Lại.
    2) Ý tưởng “các môn đệ hoài nghi” làm cho biến cố Phục Sinh trở thành một biến cố vượt ra ngoài sức tưởng tượng của con người, của loài người. Đây là biến cố không ai dám nghĩ tới, người không tin cũng như người tin (các môn đệ). Nói cách khác sự hoài nghi của các môn đệ đề cao mầu nhiệm Phục Sinh.

    Theo thần học Lu-ca, sự hoài nghi ấy chỉ thực sự kết thúc với biến cố Thánh Thần Hiện Xuống. Kể từ đó các môn đệ hoàn toàn xác tín và đi rao giảng Tin Mừng Phục Sinh, họ dám trả giá cho lời chứng ấy bằng chính mạng sống của mình.

    Trả lờiXóa
  5. Cám ơn Chúa vì biến cố Phục sinh là biến cố của lòng tin, vượt hẳn mọi hiểu biết của phàm nhân, để mầu nhiệm này luôn luôn và tiếp tục được khám phá và gây cảm hứng cho chúng ta - bởi sự kiện nào được giải thích tỏ tường rồi thì đâu còn gây hứng thú nữa.
    Cám ơn bài tìm hiểu Ga 20 của cha rất nhiều. Cha đã luôn tặng cho độc giả những cái nhìn mới mẻ khi tiếp cận với Lời Chúa. Hình ảnh và lối sống của chị Maria thật dễ thương.
    Nghĩ về “bóng tối trong lòng” Chị Maria, bỗng con nhớ một lời nguyện đẹp để sống niềm vui phục sinh, xin gửi đến cha:
    “Xin dạy chúng con vững bước
    trong đêm trăng mờ ảo hay ngày sáng rạng ngời.
    Xin dạy chúng con nhìn phía trước,
    đừng lầm lẫn những gì của ngày mai với hôm qua.
    Xin dạy chúng con cùng Ngài làm nên ngày mới,
    đừng tích tụ hoa tàn nhụy rữa bên lối cũ đường xưa.
    Xin dạy chúng con trước những vách ngăn,
    biết mở toàng thành cánh cửa của một lộ trình mới”

    Trả lờiXóa
  6. Sáng nay Chúa Nhật con được đọc bài chia sẻ của cha và thấy vui quá. Tâm tình dâng lên Chúa như được hòa nhập với chị Maria. Tạ ơn Chúa đã cho con được đọc bài viết này. Những câu hỏi cha gợi ý rất hay mà 4 câu trả lời của cha thật chả biết nói sao..ngoài việc cúi đầu Tạ ơn Chúa. Xin Chúa luôn chúc lành cho mọi việc cha đang xây dựng để phục vụ Ngài.

    Trả lờiXóa
  7. Con cảm ơn Cha. Ý tưởng hay quá ạ

    Trả lờiXóa