4 septembre 2011

Ai là tác giả sách Tin Mừng Gio-an?


Một góc trang đầu tiên của  sách Tin Mừng Gio-an (Ga 1) 
trong Codex Sinaiticus (thế kỷ IV). Hai cột trong hình, tiếng Hy Lạp viết chữ hoa, 
là nửa trang theo chiều dọc, vì mỗi trang có bốn cột (xem hình cuối bài viết).

Email: josleminhthong@gmail.com
Ngày 04 tháng 09 năm 2011.

Nội dung

Dẫn nhập
I. Tác giả sách Tin Mừng thứ tư vào thế kỷ II-III
     1. Irénée (130–202)
     2. Papias (100–150) và Eusèbe de Césarée (270–338)
     3. Polycrate (125–200)
     4. Clément d’Alexandrie (150–200)
     5. Tertullien (160–240)
II. Tác giả theo bản văn Tin Mừng thứ tư
Kết luận


Dẫn nhập

Truyền thống cho rằng tác giả sách Tin Mừng Gio-an (Tin Mừng thứ tư) là Tông Đồ Gio-an. Vị Tông Đồ này xuất hiện nhiều lần trong Tin Mừng Nhất Lãm. Truyền thống cũng đồng hoá Tông Đồ Gio-an với người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư. Tại sao truyền thống đồng hoá tác giả sách Tin Mừng thứ tư với Tông Đồ Gio-an? Phần phân tích sau đây sẽ thử trả lời câu hỏi này.

Từ hơn một thế kỷ nay, các nhà nghiên cứu Tin Mừng thứ tư đã đặt lại vấn đề tác giả sách Tin Mừng này. Năm 1984, tác giả Édouard Cothenet viết: “Kể từ nửa cuối thế kỷ thứ II, một truyền thống chắc chắn gán Tin Mừng thứ tư cho Tông Đồ Gio-an, con ông Dê-bê-đê. Sự quy kết này đã bị nghi ngờ lần đầu tiên vào năm 1820; kể từ đó, vấn đề này trở thành đối tượng của những cuộc tranh luận sôi nổi.” (é. COTHENET, “L’évangile selon saint Jean” dans é. COTHENET, P. LE FORT, (et al.), Les écrits de saint Jean et l’épître aux Hébreux, (Petite Bibliothèque des Sciences Bibliques, NT 5), Paris, Desclée, 1984, p. 141).

Năm 1998, Raymond E. Brown (đã từng là thành viên của Uỷ Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng) đã viết về lập trường của Uỷ Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng liên quan đến vấn đề này như sau: “Vào năm 1907, trước sự khước từ ngày càng tăng về việc đồng hóa giữa người môn đệ Đức Giê-su yêu mến và tác giả Tin Mừng [thứ tư] với Gio-an, con ông Dê-bê-đê, Uỷ Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng tại Rô-ma đã tuyên bố rằng Tông Đồ Gio-an là tác giả sách Tin Mừng. Nhưng đến năm 1955 thư ký của Uỷ Ban này đã viết rằng: Những nhà giải thích Kinh Thánh được ‘hoàn toàn tự do’ trước lời tuyên bố trên vì nó không liên quan đến đức tin và phong hóa. Vì thế, không có lập trường Công Giáo khép kín về việc xác định tác giả Tin Mừng Gio-an (hoặc các Tin Mừng khác)” (R. E. Brown, “Note sur l’identification de l’auteur du quatrième évangile” dans Id., Une retraite avec saint Jean ‘pour que vous ayez la vie’, Paris, Le Cerf, 2004, p. 126; original: A Retreat With John the Evangelist, That You May Have Life, 1998).

Lời trích trên đây cho phép độc giả “hoàn toàn tự do” để tìm hiểu vấn đề tác giả sách Tin Mừng thứ tư. Uỷ Ban Kinh Thánh Giáo Hoàng đã sáng suốt khi khẳng định: Những nhà giải thích Kinh Thánh được hoàn toàn tự do nghiên cứu về vấn đề tác giả Tin Mừng thứ tư, vì điều này không liên quan đến đức tin và phong tục. Hiện nay, thực ra vấn đề ai là “tác giả thực sự” không còn quan trọng nữa trong việc tìm hiểu Tin Mừng. Dù ai là tác giả thực sự của Tin Mừng thứ tư đi nữa thì vẫn không làm thay đổi nội dung sách Tin Mừng. Điều thuộc thẩm quyền của Hội Thánh chính là nội dung mặc khải trong sách Tin Mừng thứ tư.

Vấn đề tác giả sách Tin Mừng thứ tư thuộc lãnh vực nghiên cứu lịch sử. Bài viết này không nhằm nghiên cứu lịch sử, mà chỉ trình bày sơ lược hai mục: (I) Tìm hiểu xem các tác giả thế kỷ II-III nói gì về tác giả sách Tin Mừng thứ tư. (II) Sau đó sẽ quan sát sách Tin Mừng thư tư trong tình trạng hiện nay xem có thể nói gì về tác giả sách Tin Mừng này.

I. Tác giả sách Tin Mừng thứ tư vào thế kỷ II-III

Một số trích dẫn tài liệu các tác giả thế kỷ II-III như Irénée (khoảng năm 130–202), Papias (khoảng năm 100–150), Eusèbe de Césarée (khoảng năm 270–338), Polycrate (khoảng năm 125–200), Clément d’Alexandrie (khoảng năm 150–200) và Tertullien (khoảng năm 160–240) cho thấy sự phức tạp của vấn đề tác giả sách Tin Mừng thứ tư.

     1. Irénée (130–202)

Chứng cứ quan trọng của Irénée về tác giả sách Tin Mừng thứ tư được trình bày trong chuyên luận Chống lạc giáo (traité Contre les Hérésies), cuốn III, 1,1: “Gio-an, người môn đệ của Chúa, chính người này đã tựa vào ngực của Người, người môn đệ này cũng đã xuất bản sách Tin Mừng trong khi lưu trú tại Ê-phê-xô, ở A-xi-a” (Irénée de Lyon, Contre les Hérésies, III, 1,1, (Sources Chrétiennes [SC] 211), 1974, p. 25).

Rõ ràng là tác giả Irénée muốn đồng hóa “Gio-an” với “người môn đệ Đức Giê-su yêu mến” trong Tin Mừng thứ tư, nhưng đó là Gio-an nào? Vì như sẽ thấy trong phần sau: Có nhiều môn đệ mang tên Gio-an: Gio-an tư tế, Gio-an kỳ mục.

Nếu Irénée hiểu “Gio-an môn đệ của Chúa” nói trên là “Gio-an Tông Đồ” thì cũng không chắc đây là “Tông Đồ Gio-an con ông Dê-bê-đê”, vì thời đó, tước hiệu Tông Đồ được hiểu theo nghĩa rộng. Jean Colson cho biết: “Tên gọi Tông Đồ vào thế kỷ II không nhất thiết có nghĩa là một Tông Đồ trong Nhóm Mười Hai. Chính Irénée cũng gọi bảy mươi hai môn đệ trong Tin Mừng Lu-ca với tên gọi Tông Đồ” (J. COLSON, L’énigme du disciple que Jésus aimait, (Théologie historique 10), Paris, Beauchesne, 1969, p. 32).

Có lẽ mối bận tâm của Irénée về tác giả Tin Mừng thứ tư không mang tính khoa học như độc giả ngày nay. Mạch văn cho thấy lập luận của Irénée mang tính hộ giáo, các lý chứng nhằm chống lại các lạc giáo và biện hộ cho sự chính thống của Hội Thánh. Khi khẳng định “Gio-an, môn đệ của Chúa” là tác giả sách Tin Mừng thứ tư, có lẽ Irénée quan tâm đến việc tạo uy thế cho sách Tin Mừng thứ tư để sách Tin Mừng này được Hội Thánh đón nhận vào Quy Điển các sách Tân Ước.

     2. Papias (100–150) và Eusèbe de Césarée (270–338)

Trong sách Lịch sử Giáo Hội (Histoire ecclésiastique), Eusèbe kể lại những gì Papias đã nói: “Nếu như có ai đó thuộc nhóm các kỳ mục đến, tôi sẽ hỏi thăm về những lời nói của các kỳ mục: Những điều mà An-rê, hay Phê-rô, hay Phi-líp-phê, hay Tô-ma, hay Gia-cô-bê, hay Gio-an, hay Mát-thêu, hay người nào đó trong các môn đệ của Chúa, đã nói; và những điều Ariston và Gio-an kỳ mục, môn đệ của Chúa, đã nói” (Eusèbe de Césarée, Histoire ecclésiastique, III, 39,4, (SC 31), 1952, p. 154).

Trong danh sách trên, Papias phân biệt “Gio-an Tông Đồ” và “Gio-an kỳ mục, môn đệ của Chúa” (le presbytre Jean, disciple du Seigneur), kiểu xưng hô này gần với Irénée đã trích dẫn trên đây: “Gio-an, người môn đệ của Chúa” (Jean, le disciple du Seigneur).” Người ta không rõ, “Gio-an” theo Irénée và “Gio-an kỳ mục” theo Papias là một hay hai nhân vật khác nhau.

Theo Eusèbe: “Tông Đồ Gio-an bị kết án phải ở trên đảo Pát-mô” (Eusèbe de Césarée, Histoire ecclésiastique, III, 13,1, 1952, p. 121), gợi đến tác giả sách Khải Huyền. Nhưng sách Khải Huyền cho biết người bị kết án phải ở trên đảo Pát-mô chính là Gio-an tác giả sách Khải Huyền chứ không phải tác giả Tin Mừng thứ tư.

     3. Polycrate (125–200)

Polycrate viết cho Giám mục Rô-ma là Victor về vấn đề lễ Phục Sinh, được Eusèbe thuật lại trong Lịch sử Giáo Hội (V 24,2-3) như sau: “Chúng tôi cử hành cách chu đáo ngày đó, không cắt xén cũng không thêm thắt điều gì. Quả thật, chính ở Tiểu Á đã an nghỉ những vị nổi tiếng, những vị này sẽ sống lại trong ngày quang lâm của Chúa, khi Người sẽ đến trong vinh quang từ các tầng trời và sẽ tìm kiếm tất cả các thánh: Phi-líp-phê, một trong mười hai Tông Đồ, đã an nghỉ ở Hiérapolis cùng với hai người con gái già nua trong sự trinh tiết, và một người con gái khác đã sống trong Thần Khí và an nghỉ ở Ê-phê-xô. Còn Gio-an, người đã tựa vào ngực Chúa, là tư tế (hiéreus) và đã mang cây đèn vàng (pétalon), tử đạo và thầy dạy; vị này đã an nghỉ tại Ê-phê-xô” (Eusèbe de Césarée, Histoire ecclésiastique, V, 24,2-3, livre V-VII, (SC 41), Paris, Le Cerf, 1955, p. 67-68).

Polycrate nói rõ Gio-an tư tế là người đã tựa vào ngực Chúa; đây là môn đệ Đức Giê-su yêu mến hiện diện ở Ga 13,23. Điều lạ là theo Polycrate, người môn đệ này là một tư tế (prêtre, hiéreus). Trong mạch văn, Polycrate phân biệt: Tông Đồ Phi-líp-phê và tư tế Gio-an. Polycrate đồng hóa “Gio-an tư tế” với “môn đệ Đức Giê-su yêu mến”, nên Gio-an mà Irénée nói tới: “Gio-an, người môn đệ của Chúa, chính người này đã tựa vào ngực của Người” (Contre les Hérésies, III, 1,1) là Gio-an tư tế, chứ không phải Gio-an Tông Đồ.

Dựa vào từ “tư tế” (prêtre, hiéreus) trong lời của Polycrate, được Eusèbe thuật lại như trên, một số tác giả cho rằng, người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư không phải là “Tông Đồ Gio-an con ông Dê-bê-đê” nhưng là một “tư tế” ở Giê-ru-sa-lem có tên là Gio-an. Chẳng hạn, năm 1969, J. Colson phủ nhận việc đồng hóa “người môn đệ Đức Giê-su yêu mến” với “ Tông Đồ Gio-an” và cho rằng người môn đệ này là một tư tế ở Giê-ru-sa-lem, tên là Gio-an, người môn đệ này quen biết vị thượng tế (Ga 18,13-15) và có một ngôi nhà ở Giê-ru-sa-lem (xem J. COLSON, L’énigme du disciple que Jésus aimait, 1969, tr. 42 và tr. 112).

     4. Clément d’Alexandrie (150–200)

Eusèbe kể lại lời Clément d’Alexandrie như sau: “Còn Gio-an, sách cuối cùng [của bốn Tin Mừng], khi đã xem xét những điều cụ thể được trình bày trong các Tin Mừng, được các môn đệ thúc đẩy và được Thánh Thần linh hứng, Gio-an đã viết Tin Mừng tâm linh. Đó là những gì Clément đã nói” (Eusèbe de Césarée, Histoire ecclésiastique, VI, 14,7, (SC 41), 1955, p. 107).

Lời của Clément d’Alexandrie trích dẫn trên có thể thuộc về một truyền thống khác, dịch giả tác phẩm Histoire ecclésiastique chú thích: “Rất có thể Clément kể lại một truyền thống nữa của các vị kỳ mục. Irénée nhắc lại là Tin Mừng thánh Gio-an được viết sau cùng, và quy điển Muratori cho biết Tin Mừng được viết ra do yêu cầu của các môn đệ hay của những người thân cận với Tông Đồ. Đặc tính tâm linh của Tin Mừng chỉ được Clément nhấn mạnh” (Eusèbe de Césarée, Histoire ecclésiastique, chú thích câu VI, 14,7, p. 107-108).

     5. Tertullien (160–240)

Theo Tertullien, Tông Đồ Gio-an đã phải ra trước toà án ở Rô-ma và bị nhấn chìm trong vạc dầu sôi. Tertullien viết: “Nếu anh em ở miền biên giới nước Ý, anh em có Rô-ma, mà uy thế của nó cũng mang đến chỗ dựa cho chúng ta. Phúc thay Hội Thánh! Các Tông Đồ đã truyền đạt hết đạo lý và đã đổ máu đào cho Hội Thánh (...) Ở đó [Rô-ma] Tông Đồ Gio-an đã bị nhấn chìm trong dầu đun sôi: người đã ra khỏi vạc dầu không thương tích và bị đưa đi lưu đày trên một hòn đảo” (Tertullien, Traité de la prescription contre les hérétiques, XXXVI, 3, (SC 46), Traduction de P. de Labriolle, Paris, Le Cerf, 1957, p. 138).

É. Cothenet nhận định về những gì Tertullien viết như sau: “Cực hình bằng dầu sôi mà Gio-an đã bị kết án ở Rô-ma dưới thời hoàng đế Domitien, được Tertullien nói đến lần đầu tiên, chỉ thuần tuý là huyền thoại” (é. COTHENET, “L’évangile selon saint Jean” dans é. COTHENET, P. LE FORT, (et al.), Les écrits de saint Jean et l’épître aux Hébreux, 1984, p. 145).

Tóm lại, các tác giả thế kỷ II-III nói nhiều cách khác nhau về nhân vật Gio-an được cho là tác giả Tin Mừng thứ tư: “Gio-an môn đệ của Chúa” (Irénée); “Gio-an kỳ mục, môn đệ của Chúa” (Papias); “Còn Gio-an, người đã tựa vào ngực Chúa, là tư tế” (Polycrate); “Gio-an đã viết Tin Mừng tâm linh” (Clément d’Alexandrie). Như thế, các tài liệu trong thế kỷ II-III không cho phép xác định cách khoa học và rõ ràng về ai là tác giả Tin Mừng thứ tư; và cũng không có bằng chứng chắc chắn để đồng hóa “người môn đệ Đức Giê-su yêu mến” với “Tông Đồ Gio-an con ông Dê-bê-đê” trong Tin Mừng Nhất Lãm.

Các bút tích thế kỷ II-III, như đã trình bày, mang tính hộ giáo và có nhiều nét huyền thoại. Các tác giả thường dựa vào các truyền thống cũng như các truyền thuyết khác nhau. Tuy nhiên, những bản văn như trên phù hợp với bối cảnh và cách suy nghĩ của thế kỷ II-III. Cần phân biệt các truyền thống khác nhau cũng như thể văn thời đó, trước khi đưa ra những kết luận mang tính lịch sử.

II. Tác giả theo bản văn Tin Mừng thứ tư

Đọc Tin Mừng thứ tư, độc giả có thể thoáng thấy những khủng hoảng chính của cộng đoàn đón nhận Tin Mừng. Chẳng hạn, những người Do Thái tin vào Đức Giê-su bị trục xuất khỏi hội đường (Ga 9,22.34; 12,42; 16,2). Việc soạn thảo Tin Mừng trong giai đoạn cuối, có thể được thực hiện sau biến cố xung đột giữa Do Thái giáo và Ki-tô giáo cuối thể kỷ I. Tin Mừng thứ tư mô tả phần nào tình trạng xã hội và Giáo Hội thời đó.

Bản văn Tin Mừng thứ tư hiện nay để lại nhiều dấu hiệu cho thấy Tin Mừng được biên soạn qua nhiều giai đoạn khác nhau. Trong Tin Mừng có nhiều câu văn, nhiều ý tưởng lặp lại (répétitions), có những ý tưởng thêm vào (ajouts), có những lời giải thích (gloses) minh nhiên hoặc mặc nhiên của người thuật chuyện cắt ngang câu chuyện đang kể. Trong nội dung Tin Mừng, có những điểm không hợp lý (incohérences) về cách sắp xếp bản văn, về cấu trúc và về thần học. Đặc biệt là một số vấn đề nan giải (apories) có thể giải thích nhiều cách khác nhau. Từ những nhận xét trên, có thể kết luận Tin Mừng được biên soạn trong nhiều giai đoạn khác nhau, với nhiều tác giả khác nhau. Nhóm chịu trách nhiệm biên soạn Tin Mừng thứ tư được gọi là “trường phái Gio-an” (l’école johannique).

Về các giai đoạn hình thành Tin Mừng thứ tư, ngày nay các tác giả đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau về các giai đoạn biên soạn sách Tin Mừng. Nhìn chung, các tác giả thống nhất là Tin Mừng thứ tư được biên soạn với ba giai đoạn chính (xem: M. GOURGUES, “Note sur le disciple bien-aimé et la formation de l’‘évangile spirituel’”, dans Id., Pour que vous croyiez… Piste d’exploration de l’Évangile de Jean, 1982, p. 277-280; J.-P. LéMONON, “Chronique johannique (1981-1992)”, LV(L), n° 209 (1992) 95-104). Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến là người đứng đầu “trường phái Gio-an” chịu trách nhiệm biên soạn sách Tin Mừng. Ba giai đoạn chính hình thành có thể được tóm kết như sau:

   I. Giai đoạn I được gán cho người môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Người môn đệ này là chứng nhân trực tiếp biến cố Thương Khó – Phục Sinh của Đức Giê-su và chính người môn đệ này đã viết ra (21,24).
  II. Giai đoạn II do một hay nhiều môn đệ thuộc trường phái Gio-an biên soạn. Bản văn “Tin Mừng sơ khởi”  này có kết luận ở 20,30-31. Đây là kết luận thứ nhất trong sách Tin Mừng hiện nay. Tác giả (hay nhóm tác giả) của giai đoạn II này được gọi là “tác giả Tin Mừng” (l’évangéliste).
 III. Giai đoạn III do một hay nhiều thành viên trường phái Gio-an biên soạn, được gọi là “soạn giả” (le rédacteur). Soạn giả này đã biên soạn ch. 21 và viết kết luận thứ hai ở 21,24-25. Soạn giả có thể đã điều chỉnh, thêm bớt một số đoạn văn trong sách “Tin Mừng sơ khởi” đã có sẵn.
Phân chia quá trình hình thành Tin Mừng thứ tư thành ba giai đoạn chính như trên chỉ có tính quy ước và tương đối, vì người ta không có tài liệu để xác định sự hiện hữu của ba giai đoạn trên. Rất có thể giữa các giai đoạn chính này còn có các giai đoạn trung gian. Các tác giả nghiên cứu các giai đoạn hình thành Tin Mừng thứ tư đưa ra nhiều giả thuyết khác nhau, với nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng có thể tóm kết vào ba giai đoạn chính này.

Kết luận

Truyền thống đồng hoá năm nhân vật sau đây là một:
1)    Tông Đồ Gio-an, con ông Dê-bê-đê.
2)    Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư.
3)    Tác giả sách Tin Mừng thứ tư.
4)    Tác giả ba thư Gio-an.
5)    Tác giả sách Khải Huyền.

Tuy nhiên, phần lớn các tác giả Kinh Thánh ngày nay cho rằng năm nhân vật trên đây là năm nhân vật khác nhau. Đặc biệt “tác giả Tin Mừng thứ tư” không phải là một người mà là một trường phái, tạm gọi là “trường phái Gio-an” (école johannique) và sách Tin Mừng này được biên soạn qua nhiều giai đoạn khác nhau.

Trong tác phẩm đồ sộ (4 volumes) của John Meier (2001) về Đức Giê-su lịch sử, tác giả đề nghị phân biệt năm nhân vật khác nhau liên quan đến Tông Đồ Gio-an. J. Meier viết: “Hầu hết các nhà chú giải Tân Ước ngày nay phân biệt năm nhân vật khác nhau, mà phần lớn, nếu không muốn nói là tất cả, đã đồng hóa với nhân vật Gio-an con ông Dê-bê-đê, bởi truyền thống Ki-tô giáo. Năm nhân vật không bao giờ lẫn lộn với nhau trong bản văn Tân Ước là (1) Gio-an, con ông Dê-bê-đê, (2) Môn đệ vô danh trong Tin Mừng thứ tư: ‘người môn đệ Đức Giê-su yêu mến’, (3) Tác giả vô danh của Tin Mừng thứ tư, (4) Tác giả vô danh của ba thư, được gọi là thư Gio-an, và (5) Vị ngôn sứ có thị kiến, người đã viết sách Khải Huyền và tự xưng mình là Gio-an.” (J. P. MEIER, “Jean”, dans Id., Un certain Juif Jésus, les données de l’histoire, vol. III: Attachements, affrontements, ruptures, (Lectio Divina), Paris, Le Cerf, 2006, p. 147-156, original: Jesus, A marginal Jew, vol. III: Companions and Competitors, 2001, New York, Doubleday).

Tìm hiểu vấn đề tác giả sách Tin Mừng thứ tư như trên giúp độc giả giải thích được phần nào những điều xem ra không hợp lý trong bản văn Tin Mừng thứ tư hiện nay. Chẳng hạn, vì Tin Mừng được biên soạn qua nhiều giai đoạn, nên độc giả hiểu tại sao lại có hai kết luận sách Tin Mừng (kết luận ở 20,30-31 và 21,24-25); tại sao cuối chương 14, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Hãy đứng dậy, chúng ta đi khỏi đây” (14,31), nhưng rồi lại không đi, Đức Giê-su còn nói với các môn đệ thêm ba chương nữa (Ga 15–17) rồi mới đi…

Đặt lại vấn đề tác giả sách Tin Mừng thứ tư trong tinh thần tôn trọng bản văn, không áp đặt lên bản văn những gì bản văn không nói đến, giúp độc giả có cơ may thưởng thức được những nét độc đáo của thần học Tin Mừng thư tư. Có thể đọc thêm các bài viết liên quan đến vấn đề này: “Tông Đồ Gio-an trong Tin Mừng Nhất Lãm và người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư”; “Bốn môn đệ vô danh trong Tin Mừng thứ tư”. Vấn đề tác giả sách Tin Mừng Gio-an vào thế kỷ II-III và nghiên cứu ngày nay đã được trình bày chi tiết trong tập sách: Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai?, Nxb. Phương Đông, 276 trang.

Ngày nay, các tác giả thường gọi “Tin Mừng Gio-an” là “Tin Mừng thứ tư” (le quatrième Évangile, the Fourth Gospel), vì là cuốn sách Tin Mừng thứ tư trong bốn sách Tin Mừng. Gọi như thế để tránh sự đồng hoá tên gọi “Gio-an” với “Tông Đồ Gio-an con ông Dê-bê-đê”. Tuy nhiên, độc giả vẫn có thể gọi Tin Mừng này bằng tên gọi quen thuộc là “Tin Mừng Gio-an” khi hiểu đây là tựa đề một cuốn sách Tin Mừng. Khi nói đến “Tin Mừng Gio-an” là nói đến nội dung mặc khải trong sách “Tin Mừng thứ tư”.
  




Sách Kinh Thánh Codex Sinaiticus, thế kỷ IV.

1 commentaire: