21/04/2020

Ga 6,30-36. Bánh hằng ngày, bánh hằng sống




Tác giả: Giuse Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com
Cập nhật, ngày 21 tháng 04 năm 2020.


Nội dung

Dẫn nhập
I. Bối cảnh, bản văn và cấu trúc Ga 6,22-40
    1. Bối cảnh ch. 6
    2. Bản văn Ga 6,22-40
    3. Cấu trúc đoạn văn 6,22-40
II. Bánh hằng ngày
    1. Dấu lạ bánh và cá hoá nhiều; man-na trong sa mạc
    2. Sự hiểu lầm của thính giả
III. Bánh hằng sống
    1. Bánh xuống từ trời, bánh đích thực
    2. Bánh ban sự sống cho thế gian
    3. Chính Đức Giê-su là bánh sự sống
    4. Bánh làm thoả mãn mọi đói khát của con người
Kết luận
    Sách tham khảo



Dẫn nhập

Trong sách chú giải Tin Mừng Gio-an của R.E. Brown, tác giả trình bày nhiều vấn đề phức tạp, liên quan đến việc biên soạn ch. 6 của Tin Mừng Gio-an. Tác giả cũng nêu lên những khó khăn trên bình diện lịch sử khi nối kết hai dấu lạ (6,1-21) với diễn từ bánh sự sống (6,25-59). Xem R.E. Brown, The Gospel, vol. I, p. 258-259, (xem chi tiết tài liệu ở “Sách tham khảo”, cuối bài viết). Tuy nhiên, trên bình diện văn chương và thần học, ch. 6 có kết cấu chặt chẽ. R. Schnackenburg viết: “Ga 6 là một đơn vị độc lập trong đó cho thấy rõ ràng là được biên soạn cẩn thận. Chức năng của Ga 6 trong Tin Mừng là miêu tả một giai đoạn hoạt động của Đức Giê-su ở Ga-li-lê; thực ra, đó là đỉnh cao và là bước ngoặt. Về chủ đề, Ga 6 trình bày cho chúng ta mặc khải của Đức Giêsu về chính Người như là bánh sự sống.” (R. Schnackenburg, The Gospel, vol. II, p. 10).

Ch. 6 trình bày hoạt động của Đức Giê-su ở Ga-li-lê, trong khi ch. 5 và ch. 7 thuật lại hoạt động của Người ở Giê-ru-sa-lem. Ga 6 là chương dài nhất trong Tin Mừng (71 câu), trong đó Đức Giê-su mặc khải về căn tính, nguồn gốc và sứ vụ của Người qua đề tài “bánh”. Bài viết phân tích đề tài “bánh hằng ngày, bánh hằng sống” trong ch. 6, đặc biệt trong đoạn văn 6,30-36 qua ba mục: (I) bối cảnh, bản văn và cấu trúc 6,22-40; (II) bánh hằng ngày; (III) bánh hằng sống.

I. Bối cảnh, bản văn và cấu trúc Ga 6,22-40

Trước khi phân tích đề tài “bánh” trong đoạn văn 6,30-36, phần sau tìm hiểu ba điểm: (1) bối cảnh ch. 6; (2) bản văn Ga 6,22-40; (3) cấu trúc đoạn văn 6,22-40.

    1. Bối cảnh ch. 6

Ga 6 trình bày hoạt động của Đức Giê-su ở Ga-li-lê gồm ba phần: (1) phần mở đầu gồm hai dấu lạ: bánh và cá hoá nhiều (6,1-15); Đức Giê-su đi trên biển hồ Ga-li-lê để đến với các môn đệ (6,16-21). (2) Phần thứ hai là diễn từ bánh sự sống (6,22-59). Diễn từ này cấu trúc thành bốn đoạn văn: (a) 6,22-24: chuyển tiếp, đám đông tìm gặp Đức Giê-su; (b) 6,25-40: đề tài chính là bánh sự sống; (c) 6,41-51: tranh luận về nguồn gốc Đức Giê-su; (d) 6,52-59: đề tài ăn thịt và uống máu Con Người. (3) Phần thứ ba trình bày hệ quả của diễn từ qua hai thái độ trái ngược: (a) 6,60-66: nhiều môn đệ bỏ đi, không theo Đức Giê-su nữa; (b) 6,67-71: Phê-rô tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su. (Xem “Ga 6,22-71: ‘Thánh Thể, lý trí và đức tin’”, trong Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, p. 120-121).

    2. Bản văn Ga 6,22-40

Người thuật chuyện kể ở 6,22-40:
22 Hôm sau, đám đông đứng bên kia Biển Hồ, thấy rằng ở đó không có thuyền nào khác ngoại trừ một chiếc, và rằng Đức Giê-su không cùng với các môn đệ của Người xuống thuyền, nhưng chỉ các môn đệ của Người ra đi. 23 Những thuyền khác từ Ti-bê-ri-a cũng đến gần nơi họ đã ăn bánh tạ ơn của Chúa. 24 Vậy khi đám đông thấy rằng Đức Giê-su không ở đó, các môn đệ của Người cũng không, họ xuống các thuyền ấy và đến Ca-phác-na-um tìm Đức Giê-su.

25 Khi thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói với Người: “Thưa Ráp-bi, Thầy đến đây bao giờ?” 26 Đức Giê-su trả lời họ và nói: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Các ông tìm Tôi không phải vì đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã ăn bánh và đã được no nê. 27 Các ông hãy làm việc đừng vì lương thực hư nát, nhưng vì lương thực trường tồn cho sự sống đời đời mà Con Người sẽ ban cho các ông. Bởi vì trên Người, Cha là Thiên Chúa đã đóng ấn.” 28 Vậy họ nói với Người: “Chúng tôi làm gì để làm công việc của Thiên Chúa?” 29 Đức Giê-su trả lời và nói với họ: “Đây là việc của Thiên Chúa là các ông tin vào Đấng mà Người đã sai đến.”

30 Họ nói với Người: “Vậy chính Ông, Ông làm dấu lạ nào để chúng tôi thấy và chúng tôi tin Ông? Ông sẽ làm việc gì? 31 Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: ‘Bánh bởi trời, Người đã cho họ ăn.’” 32 Đức Giê-su nói với họ: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Không phải Mô-sê đã cho các ông bánh bởi trời, nhưng chính Cha của Tôi cho các ông bánh bởi trời, bánh đích thực, 33 vì bánh của Thiên Chúa là bánh xuống từ trời, và ban sự sống cho thế gian.” 34 Họ liền nói với Người: “Thưa Ngài, hãy cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi.” 35 Đức Giê-su nói với họ: “Chính Tôi là bánh sự sống, người đến với Tôi, không hề đói, và người tin vào Tôi, sẽ chẳng khát bao giờ. 36 Nhưng Tôi đã nói với các ông: ‘Các ông đã thấy [Tôi] mà các ông không tin.’

37 Tất cả những người Cha ban cho Tôi sẽ đến với Tôi, và người đến với Tôi, Tôi sẽ không loại ra ngoài, 38 vì Tôi xuống từ trời không để thực hiện ý muốn của Tôi nhưng thực hiện ý muốn của Đấng đã sai Tôi. 39 Đây là ý muốn của Đấng đã sai Tôi: Tất cả những ai Người đã ban cho Tôi, Tôi sẽ không để hư mất một ai, nhưng Tôi sẽ làm cho người ấy sống lại [trong] ngày sau hết. 40 Thật vậy, đây là ý muốn của Cha Tôi: Tất cả những ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời, và chính Tôi sẽ làm cho người ấy sống lại [trong] ngày sau hết.” (Xem Bản văn Gio-an, Tin Mừng và ba thư).

    3. Cấu trúc đoạn văn 6,22-40

Đoạn văn 6,22-40 chia làm hai phần (1) đám đông đến Ca-pha-na-um tìm gặp Đức Giê-su (6,22-24)(2) đối thoại giữa đám đông và Đức Giê-su (6,25-40). Đoạn văn cấu trúc chi tiết như sau:


Phần đối thoại (6,25-40) gồm 3 tiểu đoạn: 6,25-29; 6,30-36; 6,37-40. Mở đầu tiểu đoạn thứ nhất (6,25-29) cho thấy đám đông hiểu lầm về đề tài “bánh”. Đức Giê-su nói với họ ở 6,26: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Các ông tìm Tôi không phải vì đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã ăn bánh và đã được no nê.Sau đó Người mời gọi họ ở 6,27: “Các ông hãy làm việc đừng vì lương thực hư nát, nhưng vì lương thực trường tồn cho sự sống đời đời mà Con Người sẽ ban cho các ông.” Phần kết tiểu đoạn thứ nhất, Đức Giê-su nói về “việc của Thiên Chúa ở 6,29: “Đây là việc của Thiên Chúa là các ông tin vào Đấng mà Người đã sai đến. Thực hiện “công việc của Thiên Chúa” là tin vào Đức Giê-su.

Tiểu đoạn thứ hai (6,30-36) bàn về đề tài khác. Đám đông yêu cầu Đức Giê-su thực hiện một dấu lạ (6,30) và họ nhắc lại dấu lạ man-na trong quá khứ (6,31). Họ nói với Người ở 6,31: “Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: ‘Bánh bởi trời, Người đã cho họ ăn.’” Dựa trên đề tài “man-na trong sa mạc” là “bánh bởi trời” trong quá khứ, Đức Giê-su mặc khải về “bánh đích thực” là “bánh bởi trời” mà Cha của Người sẽ ban cho họ trong hiện tại (6,32). Sau đó, đám đông xin Đức Giê-su ở 6,34: “Thưa Ngài, hãy cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi. Phần trả lời của Đức Giê-su 6,35-36 gồm ba ý chính: (1) Mặc khải về căn tính của Đức Giê-su: “Chính Tôi là bánh sự sống” (6,35a). (2) Quà tặng của Người cho trần gian: Ai đến với Người sẽ không hề đói, ai tin vào Người sẽ chẳng bao giờ khát nữa (6,35b). (3) Đám đông hiểu lầm về Đức Giê-su và về lời của Người. Họ xin Người “bánh” nhưng không tin vào Người (6,36); nghĩa là đã không hiểu ý nghĩa dấu lạ bánh và cá hoá nhiều (6,1-15) và không hiểu giáo huấn của Đức Giê-su.

Trong tiểu đoạn thứ ba (6,37-40), Đức Giê-su tiếp tục mặc khải về bốn điều quan trọng: (1) tương quan giữa Đức Giê-su và Cha của Người; (2) nguồn gốc và sứ vụ của Người trong thế gian; (3) quà tặng sự sống đời đời dành cho “tất cả những ai thấy Con (Đức Giê-su) và tin vào Người” (6,40); (4) Đức Giê-su làm cho người tin sống lại trong ngày sau hết; điều này được nhấn mạnh vì lặp lại hai lần (6,39.40b).

Trong Tin Mừng, “sống lại ngày sau hết” gợi đến thần học truyền thống về cánh chung, gọi là “cánh chung trong tương lại” (future eschatology) song song với “cánh chung hiện tại” (realized eschatology). Đây là nét độc đáo của thần học Tin Mừng: tin vào Đức Giê-su thì có sự sống đời đời rồi, không cần chờ đến sau khi chết. Đức Giê-su khẳng định cách long trọng với những người Do Thái ở 6,47: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Người tin có sự sống đời đời.”

II. Bánh hằng ngày

Đề tài “bánh hằng ngày, bánh hằng sống” được nói đến trong đoạn văn thứ hai (6,30-36). Độc giả có thể đặt câu hỏi: Người thuật chuyện nối kết “dấu lạ bánh và cá hoá nhiều” (6,1-15) và “giáo huấn của Đức Giê-su” (6,25-40) như thế nào để trình bày đề tài “bánh sự sống”? Để hiểu ý nghĩa “bánh hằng sống”, cần tìm hiểu “bánh hằng ngày” qua hai điểm: (1) Dấu lạ bánh và cá hoá nhiều; man-na trong sa mạc; (2) sự hiểu lầm của thính giả.

    1. Dấu lạ bánh và cá hoá nhiều; man-na trong sa mạc

Hai chi tiết trong đoạn văn 6,1-40 nói về bánh hằng ngày: (1) dấu lạ bánh và cá hoá nhiều; (2) man-na.

(1) Từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, Đức Giê-su đã làm dấu lạ bánh và cá hoá nhiều, muôi ăn một đám đông lớn: chỉ tính đàn ông đã khoảng năm ngàn người (6,10), mọi người đã được ăn no nê (6,12). Thấy dấu lạ Đức Giê-su thực hiện, đám đông đã thốt lên: “Ông này thực sự là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian” (6,14). Từ đó, họ có ý định tôn Đức Giê-su làm vua. Biết thế, Đức Giê-su lánh lên núi một mình (6,15). Người từ chối ý định của đám đông họ đã hiểu dấu lạ bánh và cá hoá nhiều theo nghĩa trần thế, theo nghĩa “bánh hằng ngày”. Họ hiểu sai về dấu lạ và hiểu lầm về Đức Giê-su và sứ vụ của Người.

(2) Man-na” liên hệ tới “bánh hằng ngày”. Sau khi đám đông nói với Đức Giê-su ở 6,30: “Chính Ông, Ông làm dấu lạ nào để chúng tôi thấy và chúng tôi tin Ông? Ông sẽ làm việc gì?”, họ nhắc đến biến cố man-na trong sa mạc ở 6,31: “Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: ‘Bánh bởi trời, Người đã cho họ ăn.’” Trong sách Xuất Hành, dân Ít-ra-en than trách ông Mô-sê, vì trong sa mạc họ không đủ thức ăn và nước uống. ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê ở Xh 16,4: “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không.” (Cựu Ước lấy trong NPD/CGKPV, Kinh Thánh, ấn bản 2011). Dân đã có thức ăn như Xh 16,21 cho biết: “Sáng nào cũng vậy, mỗi người lượm tuỳ theo sức mình ăn được bao nhiêu. Và khi mặt trời toả sức nóng, thì nó tan ra.” Dân Ít-ra-en gọi thức ăn rơi xuống từ trời này là “man-na”. Man-na trong sa mạc vẫn là “bánh hằng ngày”, dân phải lượm man-na mỗi ngày để ăn. Trong Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su nhắc lại với những người Do Thái ở 6,49: “Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc và đã chết”; sau đó Người mặc khải về bánh đích thực ở 6,50: “Đây là bánh, bánh xuống từ trời, để ai ăn bánh này thì không phải chết.” Bánh bởi trời là chính Đức Giê-su (6,35).

Khi đám đông yêu cầu Đức Giê-su thực hiện dấu lạ (6,30) và nhắc lại man-na trong sa mạc, họ so sánh Đức Giê-su với ông Mô-sê. Nhưng Đức Giê-su không so sánh Người với Mô-sê. Người gọi Thiên Chúa là Cha và Người “bánh đích thực”, nên  Đức Giê-su cao trọng hơn Mô-sê. Trong đoạn văn 6,30-33, đối thoại được trình bày dưới hình thức “hỏi – đáp” cho thấy đám đông đã hiểu lầm về căn tính Đức Giê-su. Đối với độc giả, đề tài hiểu lầm trải dài suốt ch. 6. Bằng cách nào người thuật chuyện giúp độc giả hiểu ý nghĩa của dấu lạ bánh và cá hoá nhiều? Điều gì làm cho “bánh hằng ngày” trở thành dấu chỉ của “bánh hằng sống”? Để trả lời cần tìm hiểu đề tài hiểu lầm.

    2. Sự hiểu lầm của thính giả

Phần này trình bày hai điểm: (1) kỹ thuật hành văn hiểu lầm; (2) đám đông hiểu lầm trong ch. 6.

(1) Trong Tin Mừng, “hiểu lầm” là kỹ thuật hành văn. Người thuật chuyện giao tiếp với độc giả qua những tình tiết trong bản văn và dùng lối hành văn “hiểu lầm” để giúp độc giả “hiểu đúng” lời Đức Giê-su. Hiểu lầm của đám đông 6,25-34 song song với hiểu lầm của người phụ nữ Sa-ma-ri 4,9-15 với lối hành văn “hỏi (H.) - đáp (Đ.)” được minh hoạ qua bảng sau:


Những chi tiết song song giữa Ga 6,25-34 và 4,9-15 trên đây cho thấy kỹ thuật hành văn hiểu lầm trong Tin Mừng. (Xem R.E. Brown, The Gospel, vol. I, p. 267). Mặc khải được trình bày dựa trên sự hiểu lầm của thính giả. Lối hành văn này tìm thấy trong nhiều trình thuật khác. Chẳng hạn, đối thoại giữa Đức Giê-su và Ni-cô-đê-mô ở 3,1-12; tranh luận giữa Đức Giê-su với những kẻ chống đối trong Ga 7–8. Thính giả hiểu lầm là cơ hội để Đức Giê-su giải thích. Qua đó Người mặc khải về Cha, về nguồn gốc và sứ vụ của Người. Qua hiểu lầm, Đức Giê-su giải thích cho thính giả và độc giả biết “bánh sự sống” là gì.

(2) Riêng trong ch. 6, có bốn chi tiết về hiểu lầm:

a) Sau khi chứng kiến dấu lạ bánh và cá hoá nhiều, đám đông muốn tôn Đức Giê-su làm vua (6,15). Ý định này dựa trên “thấy thể lý”, nghĩa là chỉ thấy “bánh hằng ngày” qua sự lạ lùng và phi phường bên ngoài của dấu lạ. Họ quan niệm vương quyền theo hướng chính trị, nên chưa biết điều Đức Giê-su muốn diễn tả qua dấu lạ. Nói cách khác phản ứng trên cho thấy đám đông đã hiểu lầm, hiểu sai ý nghĩa dấu lạ.

b) Sau khi đám đông tìm thấy Đức Giê-su ở Ca-pha-na-um, Người nói với họ ở 6,26: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Các ông tìm Tôi không phải vì đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã ăn bánh và đã được no nê.” Họ tìm Đức Giê-su vì “bánh hằng ngày” chứ không phải vì “bánh hằng sống”. Họ muốn có bánh hằng ngày để ăn như đã được ăn no nê trong dấu lạ bánh và cá hoá nhiều, nên đã hiểu sai dấu lạ này và hiểu lầm sứ vụ Đức Giê-su.

c) Đám đông xin Đức Giê-su ở 6,34: “Thưa Ngài, hãy cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi (pantote).” Họ xin điều này, vì trước đó Đức Giê-su nói với họ ở 6,32-33: “32 A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Không phải Mô-sê đã cho các ông bánh bởi trời, nhưng chính Cha của Tôi cho các ông bánh bởi trời, bánh đích thực, 33 vì bánh của Thiên Chúa là bánh xuống từ trời, và ban sự sống cho thế gian.” Theo họ, Đức Giê-su nói về một thứ bánh đặc biệt Thiên Chúa ban, nên họ xin thứ bánh đó “luôn mãi” (pantote). Nghĩa là họ muốn có thứ bánh đó, như man-na trong sa mạc, để ăn qua ngày. Thật ra, “bánh đích thực” Đức Giê-su nói (6,32) là “bánh hằng sống”. Ai có bánh đó thì không bao giờ đói và khát nữa như Người cho biết ở 6,35: “Chính Tôi là bánh sự sống, người đến với Tôi, không hề đói, và người tin vào Tôi, sẽ chẳng khát bao giờ (pôpote).” Đám đông xin “bánh hằng ngày” và muốn có mỗi ngày, điều này diễn tả qua trạng từ “pantote” (luôn mãi) ở 6,34. Trong khi Đức Giê-su lại nói về thứ bánh chỉ ban một lần là đủ, diễn tả qua trạng từ “pôpote” (mãi mãi) ở 6,35, có nghĩa là không bao giờ đói và khát nữa. Lời xin của đám đông ở 6,43 trên đây cho thấy họ đã hiểu không đúng về “bánh của Thiên Chúa” (6,33).

d) Đám đông hỏi Đức Giê-su ở 6,30: “Chính Ông, Ông làm dấu lạ nào để chúng tôi thấy và chúng tôi tin Ông? Ông sẽ làm việc gì?” Ngày hôm trước, họ đã thấy dấu lạ bánh và cá hoá nhiều (6,1-15), nhưng xem ra dấu lạ này không đủ cho họ. Thật ra, họ chỉ “thấy” bánh và cá hoá nhiều như là dấu chỉ về Đấng Mê-si-a trần thế, nên họ chưa thực sự “thấy” dấu lạ.

Qua những hiểu lầm của thính giả trên đây, người thuật chuyện trình bày với độc giả ý nghĩa đích thực của dấu lạ: bánh và cá hoá nhiều là dấu chỉ về bánh hằng sống.

III. Bánh hằng sống

Qua hiểu lầm, Đức Giê-su cho biết thế nào là bánh hằng sống với nhiều tên gọi: “bánh sự sống” (the bread of life), “bánh đích thực” (the true bread), “bánh đem lại sự sống” (the living bread) hay “bánh hằng sống” (the everlasting bread). Sau đây là bốn đặc điểm bánh sự sống: (1) bánh bởi trời, bánh đích thực; (2) bánh ban sự sống cho thế gian; (3) chính Đức Giê-su là bánh sự sống; (4) bánh làm thoả mãn mọi đói khát của con người.

    1. Bánh xuống từ trời, bánh đích thực

Phần này trình bày ba ý: (1) “bánh xuống từ trời”, “bánh bởi trời”; (2) bánh đích thực; (3) lối hành văn nhấn mạnh phẩm chất: “thật”, “đích thực” trong Tin Mừng.

(1) Kiểu nói “bánh xuống từ trời”, “bánh bởi trời” xuất hiện ở 6,31-33. Đám đông nói với Đức Giê-su ở 6,31: “Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: ‘Bánh bởi trời, Người đã cho họ ăn.’” Trong câu trả lời (6,32-33, xem trích dẫn trên đây), Đức Giê-su nói đến “bánh bởi trời, bánh đích thực” (6,32c), “bánh của Thiên Chúa”, “bánh xuống từ trời” (6,33a). Đây là thứ bánh Cha của Người ban ngay bây giờ, trong hiện tại. Trong khi đám đông lại nói về man-na trong sa mạc, thứ bánh rơi xuống từ trời, mà cha ông họ đã ăn trong quá khứ.

(2) Đặc điểm của thứ “bánh” Đức Giê-su nói tới là “bánh đích thực” (6,32c). Cách dùng tính từ “thật”, “đích thực” (alêthinos) để định nghĩa bánh bởi trời, cho phép phân biệt bánh này với mọi thứ bánh khác, ngay cả với bánh bởi trời mà cha ông những người Do-thái đã ăn trong sa-mạc. C.S. Keener nhận xét: “Bánh mà Đức Giê-su loan báo còn thiết yếu hơn cả man-na đã ban vào thời Mô-sê, bởi vì đây là ‘bánh đích thực’ (6,32).” (C.S. Keener, The Gospel, vol. I, p. 682). Đặc tính “thật” (true) hay “xác thực” (genuine) được nhấn mạnh trong câu 6,32b: “Chính Cha của Tôi cho các ông bánh bởi trời, bánh đích thực.”

(3) Kiểu nói nhấn mạnh phẩm chất “thật”, “đích thực” là một trong những đặc điểm văn chương Tin Mừng. Thật vậy, Đức Giê-su là “ánh sáng thật” (1,9), là “cây nho đích thực” (15,1). Xét đoán của Người là thật (8,16). Người cho biết Cha của Người là “Đấng chân thật” (7,28); “Cha Thiên Chúa duy nhất, chân thật” (17,3). Lời chứng của môn đệ Đức Giê-su yêu mến là xác thực (19,35). Vậy “bánh đích thực (true)” là bánh xác thực (authentic), ban sự sống cho thế gian (6,33b).

    2. Bánh ban sự sống cho thế gian

Đức Giê-su cho biết “bánh đích thực” là “bánh ban sự sống cho thế gian” (6,33b). Lời mặc khải này tương phản với man-na trong sa mạc (6,31). F.J. Moloney viết về song song giữa man-na và bánh đích thực: “Trong quá khứ, chính Thiên Chúa đã ban bánh chứ không phải Mô-sê (6,32). Bây giờ cũng chính Thiên Chúa ấy, Cha của Đức Giê-su, ban bánh đích thực bởi trời. Man-na thời Mô-sê cung cấp lương thực cho Ít-ra-en; bánh đích thực bởi trời ban sự sống cho tất cả thế gian.” (F.J. Moloney, The Gospel, p. 212).

Khi nói về công trình cứu chuộc của Thiên Chúa, từ “thế gian” trong cụm từ “ban sự sống cho thế gian” (6,33b) là kiểu nói quen thuộc trong Tin Mừng. Khi Gio-an thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, ông nói ở 1,29: “Đây là Chiên của Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội thế gian.” Trong ch. 3, Đức Giê-su nói về tình yêu của Thiên Chúa ở 3,16: “Thiên Chúa đã quá yêu mến thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để bất cứ ai tin vào Người thì không hư mất, nhưng có sự sống đời đời.” Trong ch. 4, dân thành Sa-ma-ri nói với người phụ nữ Sa-ma-ri về Đức Giê-su ở 4,42: “Không còn phải vì lời của chị mà chúng tôi tin. Vì chính chúng tôi đã nghe và đã biết rằng Người thật là Đấng cứu độ thế gian.” Vậy theo thần học Tin Mừng, Thiên Chúa yêu thương thế gian, đã sai Đức Giê-su đến để cứu thế gian (3,16), để xoá bỏ tội thế gian (1,26), để ban sự sống cho thế gian (6,33). “Thế gian” là nơi chốn và là đối tượng để Đức Giê-su thi hành sứ vụ;  xem bài viết “Thế gian (kosmos) là gì, là ai? (TM Gio-an)”. Tuy nhiên, Đức Giê-su không chỉ là người ban bánh đích thực, mà chính Người là bánh đích thực, bánh sự sống.

    3. Chính Đức Giê-su là bánh sự sống

Khi đám đông xin Đức Giê-su ở 6,34: “Thưa Ngài, hãy cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi”, Người trả lời họ ở 6,35: “Chính Tôi là bánh sự sống, người đến với Tôi, không hề đói, và người tin vào Tôi, sẽ chẳng khát bao giờ.” Khi khẳng định “Chính Tôi là bánh sự sống”, Đức Giê-su đồng hoá Người với “bánh đích thực” (6,32), “bánh xuống từ trời” (6,33). Trong tiểu đoạn 6,37-40, Đức Giê-su nói với đám đông ở 6,38: “Tôi xuống từ trời không để thực hiện ý muốn của Tôi nhưng thực hiện ý muốn của Đấng đã sai Tôi.” So sánh lời này với 6,33: “Bánh của Thiên Chúa là bánh xuống từ trời, và ban sự sống cho thế gian”, độc giả nhận ra rằng “bánh xuống trừ trời” (6,33) chính là “Đức Giê-su xuống từ trời” (6,38) để thực hiện ý muốn Đấng đã sai Người.

Kiểu nói “Chính Tôi là” (egô eimi) trong câu “Chính Tôi là bánh sự sống” là ngôn ngữ đặc thù của thần học Tin Mừng. Đức Giê-su dùng kiểu nói (egô eimi) kèm theo thuộc từ để diễn tả quà tặng dành cho con người. Chẳng hạn, Đức Giê-su nói: “Chính Tôi là ánh sáng của thế gian” (8,12a); “Chính Tôi là cửa (ràn chiên)” (10,9a); “Chính Tôi là mục tử tốt” (10,11a), v.v… Riêng kiểu nói “Chính Tôi là” (egô eimi) không có thuộc từ diễn tả căn tính thần linh của Đức Giê-su, như Đức Chúa nói về Người trong Is 46,4: “Ta vẫn Là Ta” (egô eimi). Theo nghĩa này Đức Giê-su nói với những người Do Thái ở 8,24: “Tôi đã nói với các ông là các ông sẽ chết trong tội của các ông. Vì nếu các ông không tin rằng: Tôi Là, các ông sẽ chết trong tội của các ông.” Xem bài viết “Egô eimi: chính Ta Là, chính là Ta (Is, Xh, Kh, Ga).” Lời khẳng định “Chính Tôi là bánh sự sống”, cho thấy Đức Giê-su có khả năng nuôi dưỡng mọi người bằng thứ bánh làm thoả mãn mọi đói khát của con người.

    4. Bánh làm thoả mãn mọi đói khát của con người

Mục này phân tích ba điểm: (1) Cấu trúc 6,35b; (2) đề tài khát nước ở 7,37-38 và 4,14; (3) đói và khát trong sách Huấn Ca và I-sai-a.

(1) “Bánh sự sống”, chính là Đức Giê-su, là bánh làm thoả mãn mọi đói khát của con người. Làm thế nào điều kỳ diệu này trở thành hiện thực? Đức Giê-su trả lời rõ ràng ở 6,35b: “Người đến với Tôi, không hề đói, và người tin vào Tôi, sẽ chẳng khát bao giờ.” Câu này cấu trúc song song: vế thứ nhất “người đến với Tôi” song song với vế thứ hai “người tin vào Tôi”. Hai cụm từ “không hề đói”, “không hề khát” (chẳng khát bao giờ) song song với nhau. Cấu trúc này cho thấy “đến với Đức Giê-su” tương đương với “tin vào Người”.

(2) Lời Đức Giê-su ở 7,37-38 cũng cấu trúc song song giữa “đến với” và “tin vào Người”. Người thuật chuyện kể 7,37-38: “Vào ngày cuối cùng, ngày long trọng nhất của dịp lễ (lễ Lều), Đức Giê-su đứng lên và lớn tiếng nói: Nếu ai khát hãy đến với Tôi và hãy uống. Người tin vào Tôi, như Kinh Thánh đã nói: ‘Từ lòng người ấy sẽ tuôn chảy những dòng nước sự sống.’” Trong ch. 4, Đức Giê-su nói với người phụ nữ Sa-ma-ri về nước Người ban tặng ở 4,14: “Ai uống nước mà chính Tôi sẽ ban cho kẻ ấy, đời đời sẽ không khát. Nhưng nước mà Tôi sẽ ban cho người ấy sẽ trở nên nơi người ấy một mạch nước vọt lên sự sống đời đời.” Vậy đề tài “bánh sự sống” (6,30-36) và “nước sự sống” (4,10-14) mang lại cùng một hiệu quả nơi người đón nhận.

(3) Lời tuyên bố của Đức Giê-su ở Ga 6,35 có gợi đến Cựu Ước. Những ý tưởng trong Tin Mừng Gio-an liên hệ với Cựu Ước giúp thính giả thời Đức Giê-su hiểu lời của Người. Đề tài “đói và khát” đã được nói đến trong sách Huấn Ca và sách I-sai-a. Đức Khôn Ngoan nói ở Hc 24,21: “Ai ăn Ta sẽ còn đói, ai uống Ta sẽ còn khát.” (Xem NPD/CGKPV, Kinh Thánh, ấn bản 2011). Nghĩa là Đức Khôn Ngoan làm tăng lòng khao khát nơi con người, vì không có gì đáng khát khao hơn Đức Khôn Ngoan. Ở Ga 6,35, Đức Giê-su lại nói là không bao giờ đói và khát, nghĩa là lương thực Người ban tặng có khả năng làm thoả mãn đói khát của con người. Hai kiểu diễn tả ngược nhau (Hc 24,21; Ga 6,35) nhưng nói về cùng một đề tài. Trong sách I-sai-a, lời Đức Chúa hứa với những kẻ lưu đày trở về ở Is 49,10: “Chúng sẽ không phải đói phải khát, không bị khí nóng và mặt trời hành hạ, vì Đấng thương xót chúng sẽ hướng dẫn và đưa chúng đến những suối nước tuôn trào.” Đức Giê-su thực hiện lời Đức Chúa hứa trong Cựu Ước: Người là bánh của Thiên Chúa, bánh xuống từ trời (Ga 6,33), bánh sự sống (6,35a), chính Người “ban sự sống cho thế gian” (6,33b), nên Người có khả năng làm thỏa mãn mọi nhu cầu sâu xa nhất của con người, làm thoả mãn mọi thứ đói khát (6,35b) của đời người.

Kết luận

Trên bình diện lịch sử hình thành bản văn ch. 6 có nhiều chi tiết phức tạp và khó giải thích. Tuy nhiên, trên bình diện văn chương và thần học, ch. 6 cấu trúc chặt sẽ và trình bày nhiều đề tài thần học quan trọng. Hai dấu lạ (bánh và cá hoá nhiều; Đức Giê-su đi trên mặt Biển Hồ) chuẩn bị diễn từ “bánh sự sống” (6,25-59) và ngược lại diễn từ giải thích ý nghĩa hai dấu lạ.

Người thuật chuyện dùng kỹ thuật hành văn “hiểu lầm” để giúp độc giả “hiểu đúng” ý nghĩa câu chuyện. Vì đám đông không hiểu nên Đức Giê-su giải thích và mặc khải cho họ và cho độc giả ý nghĩa “bánh sự sống” với bốn đặc tính: (1) bánh xuống từ trời, bánh đích thực; (2) bánh ban sự sống cho thế gian; (3) bánh ấy chính là Đức Giê-su; (4) bánh có khả năng làm thoả mãn mọi khát vọng của con người. Qua đối thoại trong đoạn văn 6,30-36, người thuật chuyện mời gọi độc giả thực sự “thấy” dấu lạ, “đến với” Đức Giê-su, “tin vào” Người để lấp đầy mọi thứ đói khát của phận người./.

    Sách tham khảo
[1966] R.E. Brown, The Gospel According to John, I–XII, vol. I, (Anchor Bible 29), New York (NY), Doubleday, 1966, 538 p.
[1971] R. Schnackenburg, The Gospel According to St. John, vol. II: Commentary on Chapter 5–12, London, Burns & Oates, (1971), 1980, 556 p. (Orig. Das Johannesevangelium).
[1998] F.J. Moloney, The Gospel of John, (Sacra Pagina Series 4), Collegeville (MN), The Liturgical Press, 1998, xxii-594 p.
[2003] C.S. Keener, The Gospel of John. A Commentary, vol. I, Peabody (MA), Hendrickson Publishers, 2003, 1636 p.
[2010] G. Lê Minh Thông, “Ga 6,22-71: ‘Thánh Thể, lý trí và đức tin’”, trong Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, Nxb. Phương Đông, 2010, p. 110-146.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét