09/11/2011
Giải đáp thắc mắc
- “99 con chiên không đi lạc” và “1 con chiên bị lạc đường”, chọn bên nào đây? (Mt 18,12-14)
- Ai là tác giả sách Tin Mừng Gio-an?
- “Anh em ngu muội như thế sao?” (Mc 7,18) “Hành trình của các môn đệ” nói gì với độc giả?
- Bản dịch Kinh Thánh tiếng Anh dùng trong Hội Thánh Công giáo.
- Có bao nhiêu môn đệ vô danh trong Tin Mừng thứ tư?
- Đấng Pa-rác-lê là ai?
- “Lúc sáng sớm, khi trời còn tối”, Ma-ri-a Mác-đa-la ra mộ để làm gì? (Ga 20,1-2)
- Mục tử và đàn chiên: Ai là mục tử? Đàn chiên thuộc về ai? (Ga 10,11-18)
- “Ông đã thấy và đã tin”. Ai thấy? Thấy gì? Tin gì? (Ga 20,1-9)
- Ở Ga 1,21 Gio-an Tẩy Giả không phải là Ê-li-a, nhưng ở Mt 17,13 Gio-an là Ê-li-a, mâu thuẫn hay bổ sung lẫn nhau?
- Sự thật là gì? (Ga 18,28–19,16a)
- Tại sao Đức Giê-su phải băng qua Samari? (Ga 4,4)
- Tại sao thần ô uế nói đúng về Đức Giê-su mà Người lại bảo: “Hãy câm đi” (1,25)? (Mc 1,21-28)
- “Thế gian” là gì? “Thế gian” là ai?
- “Yêu kẻ thù”, nhưng “kẻ thù” là ai và “yêu” như thế nào? (Mt 5,43-48)
06/11/2011
H/Đ-PP. Làm những việc gì khi phân tích bản văn?
Đã đọc bản văn nhiều lần và quan sát kỹ bản văn theo dàn bài này nhưng vẫn chưa thấy ý tưởng nào hay để tìm hiểu, vậy phải làm sao bây giờ?
Ba công việc cần làm song song với nhau: (1) Tìm hiểu phương pháp phân tích, (2) Quan sát bản văn và (3) Đọc tài liệu (bằng tiếng Việt, Anh, Pháp.v.v...), đó là các sách nghiên cứu viết theo đề tài và các sách chú giải liên quan đến đoạn văn đang phân tích. Ba công việc này bổ túc cho nhau. Nhờ nắm vững phương pháp sẽ biết lượng giá những kiến thức trong các tài liệu. Nhờ tài liệu sẽ giúp quan sát bản văn tốt hơn và tìm được ý tưởng hay và phù hợp để tìm hiểu.
Nguyên tắc làm việc là tận dụng tối đa những gì người khác đã suy nghĩ và đã khám phá ra. Phân tích xem tại sao các tác giả lại nói như thế, họ dựa vào đâu trong bản văn để đưa ra kết luận. Dựa vào phương pháp phân tích để xem kết luận của các tác giả có sức thuyết phục hay không. Có khả năng phê bình các tài liệu sẽ giúp xây dựng cách suy nghĩ riêng của mình, đồng thời giúp phân tích bản văn theo phong cách riêng, phù hợp với ưu tư và tìm kiếm của riêng mình.
Ngày 06 tháng 11 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
H/Đ-BV. Liên hệ giữa Ga 14,31; 15,1 và 18,1
Hỏi:
Tại sao cuối Ga 14, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Hãy đứng dậy, chúng ta đi khỏi đây” (Ga 14,31) mà không thấy đi? Đức Giê-su tiếp tục nói với các môn đệ 2 chương (Ga 15–16) nữa, sau đó Người ngỏ lời với Cha 1 chương (Ga 17) mãi đến Ga 18,1 mới đi: “Nói những điều đó xong, Đức Giê-su đi ra cùng với các môn đệ của Người sang bên kia thung lũng Kít-rôn...” (Ga 18,1). Tại sao có Ga 15–17 và để làm gì?
Đúng như vậy, theo mạch văn, Ga 14,31 liên tục với Ga 18,1. Tuy nhiên, tình trạng bản văn Tin Mừng Gio-an hiện nay cho thấy sách Tin Mừng được biên soạn qua nhiều giai đoạn khác nhau. Có ít nhất ba giai đoạn chính (xem “các giai đoạn hình thành Tin Mừng” trong Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư?, tr. 187-216). Có thể nghĩ rằng: Trước khi kết thúc sách Tin Mừng như độc giả có hiện nay, đã có một bản văn trong đó 14,31 nối liền với 18,1.
Sau quá trình suy tư và “đọc lại” (relecture) bản văn trong cộng đoàn Gio-an, tác giả sách Tin Mừng đã biên soạn Ga 15–17. Trong tiến trình đọc lại bản văn, Ga 15–17 đã triển khai và đào sâu các đề tài trong Ga 13–14, nhằm thích ứng với hoàn cảnh mới của cộng đoàn, đồng thời trong Ga 15–17 cũng xuất hiện một số đề tài mới như: “Các môn đệ bị thế gian thù ghét và bách hại” ở 15,18–16,4a (xem Yêu và ghét trong Tin Mừng Gio-an, tr. 163-293); “Vai trò và hoạt động của Đấng Pa-rác-lê” ở Ga 16,7-15 (xem Đấng Pa-rác-lê – Thần khí sự thật – trongTin Mừng thứ tư). Như thế, Ga 15–17 rất quý cho độc giả, vì đoạn văn này chứa đựng nhiều mặc khải quan trọng về bốn mối tương quan chính: (1) Tương quan giữa Đức Giê-su với Cha của Người; (2) Tương quan giữa Đức Giê-su với các môn đệ; (3) Tương quan giữa các môn đệ với thế gian; và (4) Tương quan giữa các môn đệ với nhau.
Sách Tin Mừng Gio-an không chú trọng đến sự hợp lý trong cách sắp xếp câu chuyện cho bằng nội dung mặc khải. Vì thế, hiện tượng Ga 14,31 nối liền với Ga 18,1 chèn vào giữa đoạn văn Ga 15–17 là một trong những đặc điểm độc đáo của Tin Mừng Gio-an (xem bối cảnh văn chương Ga 13–16 trong Khủng hoảng và giải pháp cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư, tr. 17-76).
Ngày 06 tháng 11 năm 2011.
07/10/2011
Jerusalem The Movie 1
Nội dung lời giải thích
How should we approach Jerusalem, a city which for thousands of years has been regarded as a center of the world?
From the West, we cross the Mediterranean Sea to Port Cities, once governed by Egyptians, Phoenicians, Greeks, and Romans.
From the North, we follow the River Jordan to the Sea of Galilee. Here on these shores, a teacher known as Jesus of Nazareth preached in the synagogue of the village of Capernaum and found his first converts among the local fishermen.
From the East, the Israelites and later the tribes of Arabia traversed the Judean Desert and the Dead Sea.
The lowest point on earth has yielded some of the most astonishing archaeological finds of all time: from the Dead Sea Scrolls to King Herod's Palace Fortress Masada.
The lowest point on earth has yielded some of the most astonishing archaeological finds of all time: from the Dead Sea Scrolls to King Herod's Palace Fortress Masada.
It was here, after the destruction of Jerusalem, the group of Jewish rebels made the last stand against the Roman Army.
Along the Eastern road to Jerusalem, early Christian hermits, seeking solitude in the desert, built remote monasteries, some inhabited for over fifteen hundred years.
Along the Eastern road to Jerusalem, early Christian hermits, seeking solitude in the desert, built remote monasteries, some inhabited for over fifteen hundred years.
When we reach Jerusalem, which of the seven gates shall we enter? How should we navigate as time go to the alleyways shaped by centuries of processionists converging on the holy sites?
The Church of the Holy Sepulchre whose great domes marked the place where many Christians believe Jesus was crucified and resurrected.
The massive two-thousand-year-old stone platform with its venerated Western Wall: for Jews, it was where Abraham prepared to sacrifice his son and Solomon built the first Jewish Temple.
The top of the stone platform is home to the Dome of the Rock, El-Aqsa Mosque, where Muslims believe the prophet Mohammed was taken in a miraculous night journey and ascended to heaven.
Travel back in time to a land steeped in layers of history, cherished as the birth place of the monotheism.
Explore this crossroads of the world through the stories of the people who call it 'home.'
Discover the city that continues to stir the imagination of billions of people and find out why Jerusalem remains the beating heart of our world today.
The massive two-thousand-year-old stone platform with its venerated Western Wall: for Jews, it was where Abraham prepared to sacrifice his son and Solomon built the first Jewish Temple.
The top of the stone platform is home to the Dome of the Rock, El-Aqsa Mosque, where Muslims believe the prophet Mohammed was taken in a miraculous night journey and ascended to heaven.
Travel back in time to a land steeped in layers of history, cherished as the birth place of the monotheism.
Explore this crossroads of the world through the stories of the people who call it 'home.'
Discover the city that continues to stir the imagination of billions of people and find out why Jerusalem remains the beating heart of our world today.
Jerusalem | An Arcane/Cosmic Picture Film
06/10/2011
04/10/2011
Hướng dẫn đặt câu hỏi
Với ước mong độc giả tìm được niềm vui và thú vị khi đọc bản văn Kinh Thánh, mục này nhằm giải đáp phần nào những thắc mắc của độc giả trong quá trình áp dụng phương pháp phân tích thuật chuyện và cấu trúc vào bản văn Kinh Thánh. Dưới đây là đôi điều về mục giải đáp thắc mắc.
1. Về lý thuyết và áp dụng phương pháp, xem tài liệu: Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư.
2. Độc giả có thể trình bày ngắn gọn những câu hỏi về phương pháp đọc Kinh Thánh liên quan đến phân tích bản văn theo lối tiếp cận thuật chuyện và cấu trúc, sau đó gửi về email: josleminhthong@gmail.com
3. Các câu hỏi có thể xếp thành hai loại: (a) Câu hỏi về phương pháp phân tích thuật chuyện và cấu trúc. (b) Câu hỏi về những khó khăn khi phân tích một bản văn cụ thể.
4. Trong thời gian sớm nhất, tác giả sẽ cố gắng giải đáp phần nào các câu hỏi theo khả năng giới hạn của mình.
5. Những thắc mắc và trả lời chung cho nhiều người sẽ được đưa lên blog để chia sẻ với mọi người.
18/09/2011
Phương pháp đọc Kinh Thánh: Bối cảnh và cấu trúc Mt 21,28-32.
Nội dung
Dẫn nhập
I. Mt 21,23-27: Trình thuật trước đoạn văn Mt 21,28-32
II. Mt 21,33-44: Trình thuật sau đoạn văn Mt 21,28-32
III. Kết luận ba trình thuật Mt 21,23-27; 21,28-32; 21,33-44
IV. Cấu trúc đoạn văn Mt 21,23-46
Kết luận
Dẫn nhập
Bài viết bàn về tầm quan trọng của việc đặt một đoạn văn vào “bối cảnh văn chương” và tìm hiểu “cấu trúc” để hiểu ý nghĩa của đoạn văn ấy. Đây là những bước quan trọng của phương pháp đọc Kinh Thánh. Bài viết chọn đoạn văn Mt 21,28-32 (Chúa Nhật XXVI thường niên, năm A) làm ví dụ. Có thể tạm gọi đoạn văn Mt 21,28-32 là “dụ ngôn về nói và làm của hai người con”. Tuy nhiên, tựa đề này chưa lột tả hết nội dung của đoạn văn Mt 21,28-32. Cần đặt đoạn văn này vào bối cảnh văn chương của nó và tìm hiểu cấu trúc mới có thể khám phá ra những nét hay, những nét tương phản mạnh mẽ trong bản văn. Các trích dẫn bản văn Tin Mừng Mát-thêu trong bài viết được lấy từ bản dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Bản văn Mt 21,28-32 như sau:
[Mt 21,28-32] 28 Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho." 29 Nó đáp: "Con không muốn đâu!" Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. 30 Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: "Thưa ngài, con đây!" nhưng rồi lại không đi. 31 Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?" Họ trả lời: "Người thứ nhất." Đức Giê-su nói với họ: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. 32 Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy."
Đoạn Tin Mừng Mt 21,28-32 kể câu chuyện về hai người con. Người con thứ nhất “nói không đi làm” nhưng sau đó hối hận và “đi làm”. Người con thứ hai bày tỏ thái độ sẵn sàng, nhưng rồi lại không đi làm vườn nho. Đức Giê-su dùng câu chuyện này để đưa ra nhận định về những người đang nghe, Người nói với họ: “Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (21,31). Nếu mở sách Tin Mừng Mát-thêu và chỉ đọc đoạn văn Mt 21,28-32 như trích dẫn trên đây, độc giả sẽ thấy khó hiểu vì bản văn bắt đầu bằng: “Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai…” Độc giả không biết ai đang nói và nói với ai. Mãi đến câu 21,31b bản văn cho biết là Đức Giê-su đang nói với “họ”, nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi liên quan đến đoạn văn Mt 21,28-32, chẳng hạn:
- Tại sao Đức Giê-su kể dụ ngôn “nói và làm của hai người con” và kể với mục đích gì?
- Nhân vật “họ” trong bản văn được Đức Giê-su nói đến ở ngôi thứ hai số nhiều: “Các ông”. Nhân vật này là ai?
- Tại sao câu chuyện đặt song song “người con thứ nhất” với “những người thu thuế và những cô gái điếm” và “người con thứ hai” với “các ông”?
- Tại sao Đức Giê-su nhắc đến nhân vật Gio-an Tẩy Giả và nói đến “tin vào ông ấy” trong đoạn văn 21,28-32?
- Dựa vào đâu để Đức Giê-su có thể nhận định: Những người nghe (các ông) không chịu hối hận mà tin vào Gio-an Tẩy Giả (21,32)?
- Dựa vào đâu để gọi câu chuyện Mt 21,28-32 là một dụ ngôn, trong khi không có từ “dụ ngôn” (parabolê) trong đoạn văn Mt 21,28-32?
- Trình thuật 21,28-32 có giọng văn tranh luận và kết án. Tại sao có giọng văn này và tranh luận khởi đầu và kết thúc như thế nào?
Tóm lại, khi đọc đoạn văn Mt 21,28-32, độc giả gặp nhiều câu hỏi do bản văn gợi lên. Độc giả có thể trả lời những câu hỏi trên nếu đặt đoạn văn Mt 21,28-32 trong bối cảnh văn chương của trình thuật trước và sau câu chuyện này. Tìm hiểu cấu trúc của đoạn văn lớn hơn Mt 21,23-46 sẽ góp phần thiết thực trong việc tìm hiểu ý nghĩa của đoạn văn 21,28-32. Phần sau đây sẽ đặt trình thuật Mt 21,28-32 trong bối cảnh văn chương và tìm hiểu cấu trúc đoạn văn này qua bốn mục: (I) Mt 21,23-27: Trình thuật trước đoạn văn Mt 21,28-32. (II) Mt 21,33-44: Trình thuật sau đoạn văn Mt 21,28-32. (III) Mt 21,45-46: Kết luận chung cho Mt 21,23-44. (IV) Cấu trúc đoạn văn Mt 21,23-46.
I. Mt 21,23-27: Trình thuật trước đoạn văn Mt 21,28-32
Trình thuật trước đoạn văn Mt 21,28-32 là Mt 21,23-27. Đoạn văn này cho biết cuộc tranh luận xảy ra trong hoàn cảnh nào, tranh luận về đề tài gì và tranh luận với ai. Người thuật chuyện kể:
[Mt 21,23-27] 23 Đức Giê-su vào Đền Thờ, và trong khi Người giảng dạy, các thượng tế và kỳ mục trong dân đến gần Người và hỏi: "Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?" 24 Đức Giê-su đáp: "Còn tôi, tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi; nếu các ông trả lời được cho tôi, thì tôi cũng sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. 25 Vậy, phép rửa của ông Gio-an do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?" Họ mới nghĩ thầm: "Nếu mình nói: "Do Trời", thì ông ấy sẽ vặn lại: "Thế sao các ông lại không tin ông ấy?" 26 Còn nếu mình nói: "Do người ta", thì mình sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an là một ngôn sứ." 27 Họ mới trả lời Đức Giê-su: "Chúng tôi không biết." Người cũng nói với họ: "Tôi cũng vậy, tôi không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy."
Trình thuật Mt 21,23-27 trên đây có nhiều điểm soi sáng cho trình thuật tiếp theo Mt 21,28-32 (dụ ngôn “nói và làm của hai người con”). Có thể liệt kê sáu chi tiết sau đây:
1) “Các ông” là “các thượng tế và các kỳ mục”
Trước hết, bối cảnh chung của trình thuật là Đức Giê-su đang giảng dạy ở Đền Thờ: “Đức Giê-su vào Đền Thờ, và trong khi Người giảng dạy, các thượng tế và kỳ mục trong dân đến gần Người và hỏi:…” (Mt 21,23a). Bản văn cho biết Đức Giê-su đang giảng dạy, nhưng không cho biết nội dung giảng dạy. Điều quan trọng là “Đức Giê-su giảng dạy” và sự kiện “Đức Giê-su giảng dạy” là mối bận tâm của giới lãnh đạo Do Thái. Vì thế, đoạn văn đi thẳng vào vấn đề tranh luận liên quan đến quyền giảng dạy của Đức Giê-su. Các thượng tế và các kỳ mục chất vấn Đức Giê-su: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?” (Mt 21,23b) Những người đặt câu hỏi là “các thượng tế” (hoi arkhiereis) và “các kỳ mục” (hoi presbuteroi).
Như thế, nhờ chi tiết trong đoạn văn 21,32-27 mà độc giả biết Đức Giê-su nói dụ ngôn “nói và làm của hai người con” (Mt 21,27-32) với ai và cho ai. Đại từ ngôi thứ hai số nhiều “Các ông” trong đoạn văn Mt 21,28-31 là “các thượng tế” và “các kỳ mục”. Tuy nhiên, không chỉ có hai nhóm nhân vật này. Phần kết luận của các trình thuật (21,45-46) sẽ cho biết còn có nhóm nhân vật “ những người Pha-ri-sêu” (21,45) hiện diện ở đó nữa. Nhóm nhân vật này sẽ được bàn đến trong phần kết luận (21,45-46) của đoạn văn 21,23-44.
2) Nhân vật Gio-an Tẩy Giả
Đức Giê-su nói đến nhân vật Gio-an Tẩy Giả trong câu hỏi Người đặt ra cho các thượng tế và kỳ mục: “Phép rửa của ông Gio-an do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?” (21,25). Đề tài “phép rửa của Gio-an Tẩy Giả”, được trình bày ở Mt 3,1-12, nối kết với đề tài “hối hận”, “hối cải” của người con thứ nhất và “không hối hận” của nhân vật “các ông” trong đoạn văn Mt 21,28-32. Như thế, Mt 21,28-32 vừa nối đến với đoạn văn trước nó (Mt 21,23-27), vừa gợi lại việc rao giảng của Gio-an Tẩy Giả đầu Tin Mừng Mát-thêu. Đặt 21,28-32 vào bối cảnh văn chương của đoạn văn và bối cảnh chung của sách Tin Mừng giúp hiểu ý nghĩa của việc “tin vào Gio-an Tẩy Giả” được nói đến hai lần ở 21,25b và 21,32a.
3) Đề tài “Tin vào Gio-an Tẩy Giả”
Những điều “nghĩ thầm” của “các thượng tế và kỳ mục trong dân” được thuật lại ở 21,25b: “Họ mới nghĩ thầm: Nếu mình nói: ‘Do Trời’, thì ông ấy sẽ vặn lại: ‘Thế sao các ông lại không tin ông ấy?’” Câu này quan trọng vì chính “các thượng tế và kỳ mục” xác nhận là Đức Giê-su biết họ không tin vào Gio-an Tẩy Giả. Nhờ những chi tiết trong “ý nghĩ của họ”, được người thuật chuyện kể ra, mà độc giả biết được lời nói của Đức Giê-su trong đoạn văn sau là có cơ sở: “Phần các ông [các thượng tế và kỳ mục], khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy [Gio-an Tẩy Giả]” (Mt 21,32). Một trong những đề tài nối kết hai đoạn văn 21,28-32 và 21,23-37 là “tin vào Gio-an Tẩy Giả”.
4) Bối cảnh tranh luận và xung đột
Trong trình thuật “câu hỏi về quyền của Đức Giê-su” (Mt 21,23-27), bản văn đặt tương quan giữa Đức Giê-su với “các thượng tế và kỳ mục” (giới lãnh đạo Do Thái) trong bối cảnh tranh luận và xung đột khá căng thẳng. Cụ thể là lời chất vấn của các thượng tế và kỳ mục (21,23b) được Đức Giê-su trả lời bằng một lời chất vấn khác (21,24-25a). Kết quả là các thượng tế và kỳ mục đã không có câu trả lời vì Đức Giê-su đã dồn họ vào chân tường. Họ hiểu rõ câu hỏi của Đức Giê-su khi nghĩ rằng: “25 Nếu mình nói: ‘Do Trời’, thì ông ấy sẽ vặn lại: ‘Thế sao các ông lại không tin ông ấy?’ 26 Còn nếu mình nói: ‘Do người ta’, thì mình sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an là một ngôn sứ” (21,25b-26). Trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, họ đành chịu thua và trả lời Đức Giê-su: “Chúng tôi không biết” (Mt 21,27). Điều độc đáo của bản văn là họ trả lời “không biết” nhưng thực ra họ biết rất rõ. Về hình thức thuật chuyện, họ không trả lời cho Đức Giê-su, nhưng độc giả lại biết có hai cách trả lời: “Phép rửa của Gio-an Tẩy Giả do Trời” và “phép rửa của Gio-an Tẩy Giả do người ta” (21,25b-26). Dầu vậy, theo điều kiện Đức Giê-su đặt ra trước đó, Người cũng không trả lời câu hỏi của họ liên quan đến quyền bính của Người.
Nếu trình thuật kết thúc ở đây thì chưa trọn vẹn, vì độc giả cũng muốn biết những điều liên quan đến quyền của Đức Giê-su. Độc giả được mời gọi đọc tiếp phần sau và mạch văn cho phép hiểu như sau: Trong đoạn văn 21,23-27, Đức Giê-su không trả lời câu hỏi về quyền của Người bằng lời nói, nhưng trong hai đoạn văn tiếp theo (21,27-32 và 21,33-44), Đức Giê-su thi hành quyền của Người. Chính trong bối cảnh tranh luận khá căng thẳng trong đoạn văn 21,23-27 mà Đức Giê-su kể trình thuật “nói và làm của hai người con” (Mt 21,28-32). Trong dụ ngôn này, Đức Giê-su bày tỏ quyền phán quyết của Người khi Người nói với họ: “31b Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. 32 Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy” (21,31b-32).
5) “Hối hận”, “sám hối” và “tin”
Bối cảnh tranh luận và chống đối trong đoạn văn Mt 21,23-27 giúp độc giả hiểu tại sao trong đoạn văn tiếp theo (Mt 21,28-32), Đức Giê-su đặt song song “người con thứ nhất” với “những người thu thuế và những cô gái điếm” và đặt song song “người con thứ hai” với “các ông”, tức là “các thượng tế và kỳ mục trong dân”.
Hình ảnh song song này nối kết với đề tài “hối hận” (metamelomai) và lời rao giảng sám hối (metanoeô) của Gio-an Tẩy Giả đầu Tin Mừng Mát-thêu. Gio-an Tẩy Giả mời gọi: “Anh em hãy sám hối (metanoeite), vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2). Để có thể “sám hối” (động từ metanoeô), con người cần “hối hận”, “hối tiếc” (động từ metamelomai) về những gì mình đã nói, đã làm. Cả hai động từ metanoeô (sám hối) metamelomai (hối hận) đều có gốc từ meta- và đều có nghĩa “sám hối” (repent). Như thế, khi đặt đoạn văn 21,38-32 vào bối cảnh văn chương và nối kết với đoạn văn trước (21,23-28) cho phép độc giả hiểu rằng: Nếu không “hối cải” và “tin” thì tranh luận chỉ là vô ích. Chính vì thế mà trong đoạn văn Mt 21,23-27, Đức Giê-su không trả lời cho những kẻ không tin và chống đối Người. Thay vì trả lời, trong đoạn văn tiếp theo (21,28-32), Đức Giê-su cho biết tại sao Người không trả lời những kẻ chất vất. Đó là vì họ không sám hối và không tin.
6) “Các thượng tế và các kỳ mục” là “người con thứ hai”
Nhờ trình thuật trong đoạn văn trước (Mt 21,23-27) mà độc giả xác định được đối tượng đang nghe Đức Giê-su trong đoạn văn 21,28-32 là những kẻ chống đối và không tin vào lời rao giảng sám hối của Gio-an Tẩy Giả. Khi đọc trình thuật 21,28-32 trong bối cảnh tranh luận và xung đột, độc giả hiểu ý nghĩa câu Đức Giê-su hỏi những kẻ chất vấn Người ở 21,31a: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Họ (các thượng tế và các kỳ mục) trả lời: “Người thứ nhất” (21,31b).
So sánh với trình thuật trước đó độc giả sẽ thấy điều tương phản thú vị: Các thượng tế và kỳ mục trong dân hỏi Đức Giê-su về quyền giảng dạy của Người, Đức Giê-su trả lời bằng cách chất vấn họ và Người không cho họ lời giải đáp (Mt 21,23-27). Ngược lại, trong trình thuật tiếp theo (Mt 21,28-32), Đức Giê-su kể một câu chuyện và Người đặt một câu hỏi mà câu trả lời đã có trong câu chuyện. Cách kể dụ ngôn đòi buộc bất cứ ai muốn trả lời đúng đều phải nói: “Người thứ nhất” (21,31).
Như thế, tuy không trả lời về nguồn gốc quyền bính của Đức Giê-su trong đoạn văn 21,23-27, nhưng chính Người đang thi hành quyền bính trong đoạn văn tiếp theo (21,27-32) qua hai chi tiết: 1) Đức Giê-su dẫn dắt câu chuyện và buộc những người chống đối phải trả lời theo hướng đã được gợi ý trong dụ ngôn. 2) Câu trả lời đúng của họ lại trở thành lời tố cáo họ. Bởi vì “các thượng tế và kỳ mục trong dân” không ở trong địa vị của người con thứ nhất, nghĩa là họ là những người không hối cải và không thực thi ý định của Thiên Chúa. Điều trớ trêu là câu trả lời của các thượng tế và các kỳ mục: “Người thứ nhất” (21,31b) là đúng, nhưng họ không phải là người con thứ nhất!
Tóm lại, đoạn văn 21,27-32 chỉ bộc lộ hết ý nghĩa và sức mạnh của nó khi được nối kết với đoạn văn trước nó: 21,23-27. Có thể nói hai đoạn văn Mt 21,23-27 (chất vấn về quyền bính của Đức Giê-su) và Mt 21,28-32 (dụ ngôn “nói và làm của hai người con”), vừa nối kết vừa soi sáng cho nhau, giúp độc giả hiểu được ý nghĩa và sức mạnh của bản văn. Câu hỏi: Tại sao gọi trình thuật “nói và làm của hai người con” (21,28-32) là một “dụ ngôn” sẽ được làm rõ khi nối kết đoạn văn 21,28-32 với đoạn văn tiếp theo 21,33-44.
II. Mt 21,33-44: Trình thuật sau đoạn văn Mt 21,28-32
Trình thuật tiếp theo dụ ngôn “nói và làm của hai người con” (Mt 21,28-32) là dụ ngôn “những tá điền sát nhân” (Mt 31,33-44). Kế đến là phần kết (21,45-46) cho cả ba đoạn văn trước đó: Mt 21,23-37; 21,28-32; 21,33-44.
Dàn bài dụ ngôn thứ hai ở Mt 21,33-44 cũng giống dàn bài dụ ngôn thứ nhất: “lời nói và việc làm của hai người con” (21,28-32). Dàn ý dụ ngôn “những tá điền sát nhân” (Mt 31,33-44) gồm bốn bước: (1) Đức Giê-su kể dụ ngôn, (2) Dựa vào dụ ngôn, Đức Giê-su đặt một câu hỏi, (3) Dụ ngôn đã gợi ý để thính giả có câu trả lời đúng, (4) Đức Giê-su dựa vào câu trả lời của họ để tuyên bố lời phán quyết. Sau đây là bốn phần của dụ ngôn “những tá điền sát nhân” (Mt 21,33-44).
1) Đức Giê-su kể một dụ ngôn, 21,33-39:
[Mt 21,33-39] 33 Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác: "Có gia chủ kia trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. 36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37 Sau cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: "Chúng sẽ nể con ta." 38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau: "Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!" 39 Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi.
2) Đức Giê-su đặt một câu hỏi cho người nghe, 21,40:
[Mt 21,40] Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?"
3) Thính giả được dẫn đắt để có câu trả lời đúng, 21,41:
[Mt 21,41] Họ đáp: "Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông."
4) Đức Giê-su dựa vào câu trả lời để kết án họ, 21,42-44:
[Mt 21,42-44] 42 Đức Giê-su bảo họ: "Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. 43 Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. (44 Ai ngã xuống đá này, kẻ ấy sẽ tan xương; đá này rơi trúng ai, sẽ làm người ấy nát thịt)."
Dụ ngôn về “nói và làm của hai người con” (21,28-32) cũng trình bày qua bốn bước trên trong cùng một bối cảnh tranh luận. Trong cả hai dụ ngôn, Đức Giê-su cũng kể cho cùng một đối tượng: “các thượng tế, các kỳ mục của dân” và “những người Pha-ri-sêu” sẽ được nói đến ở 21,45. Cả hai dụ ngôn đều kết thúc bằng một lời kết án nhằm cảnh tỉnh giới lãnh đạo Do Thái, vì họ không tin và đang tìm cách làm hại Đức Giê-su.
Dụ ngôn về “nói và làm của hai người con” (21,28-32) cũng trình bày qua bốn bước trên trong cùng một bối cảnh tranh luận. Trong cả hai dụ ngôn, Đức Giê-su cũng kể cho cùng một đối tượng: “các thượng tế, các kỳ mục của dân” và “những người Pha-ri-sêu” sẽ được nói đến ở 21,45. Cả hai dụ ngôn đều kết thúc bằng một lời kết án nhằm cảnh tỉnh giới lãnh đạo Do Thái, vì họ không tin và đang tìm cách làm hại Đức Giê-su.
Cả hai dụ ngôn đều nói về đề tài “vườn nho” (ampelôn), từ này xuất hiện 5 lần trong hai dụ ngôn (21,28.33.39.40.41). Dụ ngôn thứ nhất là “đi làm vườn nho”, dụ ngôn thứ hai là “tá điền canh tác vườn nho”. Lời phán quyết của Đức Giê-su trong cả hai dụ ngôn đều nói đến Nước Thiên Chúa. Trong dụ ngôn thứ nhất Đức Giê-su nói: “Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (21,31b); trong dụ ngôn thứ hai Đức Giê-su nói: “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (21,43). Những điểm song song trên cho thấy, ý nghĩa của hai dụ ngôn bổ túc và soi sáng cho nhau. Hai dụ ngôn này liên kết chặt chẽ với nhau vì có chung phần kết luận.
III. Kết luận ba trình thuật Mt 21,23-27; 21,28-32; 21,33-44
Mt 21,45-46 là phần kết luận cho đoạn văn lớn: Mt 21,23-44. Người thuật chuyện kết thúc đoạn văn 21,23-44 như sau:
[Mt 21,45-46] 45 Nghe những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ. 46 Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ.
Hai câu kết luận này (21,45-46) nói đến nhóm nhân vật mới: “Những người Pha-ri-sêu (hoi Pharisaioi)” (21,45). Họ là những người đã nghe “những dụ ngôn (tas parabolas)” Đức Giê-su kể. Từ “dụ ngôn” ở số nhiều: “các dụ ngôn”, nên nhóm nhân vật “những người Pha-ri-sêu” đã nghe cả hai dụ ngôn: 1) “Nói và làm của hai người con” (21,28-32); 2) “Các tá điền sát nhân” (21,33-44).
Nhờ nối kết trình thuật “nói và làm của hai người con” (21,28-32) với dụ ngôn “các tá điều sát nhân” (21,33-44) và hai câu kết luận (21,45-46) mà độc giả biết trình thuật “nói và làm của hai người con” (21,28-32) là một “dụ ngôn”. Cho dù từ “dụ ngôn” (parabolê) không xuất hiện trong đoạn văn 21,28-32, nhưng Đức Giê-su mở đầu dụ ngôn “các tá điền sát nhân” như sau: “Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác (allên papabolên): ‘Có gia chủ kia trồng được một vườn nho…’” (21,33). Nói đến “dụ ngôn khác” (allos parabolê) đã hàm ẩn trình thuật kể trước đó (21,28-32) là một “dụ ngôn”. Hơn nữa, câu kết luận trình thuật 21,23-44 viết: “Nghe những dụ ngôn (tas parabolas) Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ” (21,45). Từ “dụ ngôn” trong câu này ở số nhiều, ám chỉ hai câu chuyện Đức Giê-su vừa kể. Như thế, trình thuật “nói và làm của hai người con” (21,28-32) là một trong hai dụ ngôn.
Lời kết luận ở Mt 21,45-46 cho phép phân biệt đoạn văn 21,23-46 với dụ ngôn tiếp theo ở Mt 22,1-14 (dụ ngôn tiệc cưới). Dụ ngôn này nối kết với phần trước khi mở đầu như sau: “1 Đức Giê-su lại dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng: ‘2 Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình…’” (Mt 22,1-2). Tuy nhiên, giáo huấn của dụ ngôn tiệc cưới rộng hơn và có cấu trúc khác với hai dụ ngôn trong đoạn văn 21,23-46. Những phân tích về bối cảnh đoạn văn 21,23-46 như trên cho phép thiết lập cấu trúc của đoạn văn này.
IV. Cấu trúc đoạn văn Mt 21,23-46
Phân tích bối cảnh văn chương như trên cho thấy dụ ngôn “nói và làm của hai người con” (Mt 21,28-32) liên kết chặt chẽ với các đoạn văn trước và sau nó làm thành một khối thống nhất: 21,23-46. Đoạn văn này được cấu trúc thành ba phần (I, II, III), trong đó hai dụ ngôn thuộc phần II.
Bảng trên cho thấy đoạn văn 21,23-46 được cấu trúc chặt chẽ qua ba phần lớn. Phần I, mở đầu cuộc tranh luận cho biết hoàn cảnh trình thuật: Đức Giê-su giảng dạy trong Đền Thờ và các thượng tế và kỳ mục đến hỏi Đức Giê-su về quyền của Người (21,23). Lời chất vấn của giới lãnh đạo Do Thái mang sắc thái chất vấn và tranh luận, Đức Giê-su trả lời cũng bằng một lời thẩm vấn có điều kiện. Người chỉ trả lời nếu những kẻ chất vấn giải đáp được câu hỏi Người đặt ra. Bầu khí tranh luận được nhấn mạnh ngay từ đầu trình thuật. Các thượng tế và kỳ mục đã thua, họ không dám trả lời, vì cách trả lời nào cũng không có lợi cho họ (21,25b-26). Trình thuật 21,23-27 kết thúc mà không có câu trả lời. Các thượng tế và kỳ mục, cũng như độc giả, không biết quyền của Đức Giê-su đến từ đâu. Như thế, phần I (21,23-27) mới chỉ là phần mở đầu đề tài tranh luận, độc giả cần đọc tiếp phần II để biết tranh luận diễn tiến thế nào và Đức Giê-su có nói hay làm gì để bày tỏ quyền của Người hay không.
Phần II gồm hai dụ ngôn, tiếp nối phần tranh luận và qua hai dụ ngôn này, Đức Giê-su bày tỏ quyền và thi hành quyền của Người. Hai dụ ngôn được trình bày song song với nhau cùng một dàn bài (a, b, c, d, a’, b’, c’, d’). Mỗi dụ ngôn đầy đủ ý nghĩa tự nó, nhưng khi đặt song song hai dụ ngôn, độc giả thấy sự tiến triển của đề tài tranh luận. Hai dụ ngôn này, bổ túc và soi sáng cho nhau vì đều nói về hậu quả của những gì mà giới lãnh đạo Do Thái đang làm. Phần III là phần kết luận cho cả đoạn văn dài 21,23-46.
Phần III kết luận cho cả ba đoạn văn: 21,23-27; 21,28-32; 21,33-44. Phần này nói đến hai dụ ngôn vừa kể, đồng thời cho độc giả biết ý nghĩa của hai dụ ngôn: Đức Giê-su ám chỉ đến các thượng tế, các kỳ mục và những người Pha-ri-sêu, tức là giới lãnh đạo Do Thái thời đó. Họ tìm cách bắt và giết Đức Giê-su, như trường hợp “con trai của gia chủ” (của) trong dụ ngôn “các tá điền sát nhân”. Vì thế, Nước Thiên Chúa sẽ bị lấy đi khỏi họ. Tương phản mạnh mẽ trong bản văn là bên ngoài xem ra họ vâng nghe và phụng thờ Thiên Chúa, nhưng thực ra họ đã không thực thi ý muốn của Thiên Chúa. Những người thu thế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước những người lãnh đạo tinh thần của dân!
Những phân tích trên cho thấy độc giả có thể thưởng thức được kiểu hành văn tương phản mạnh mẽ và độc đáo nếu đặt dụ ngôn “nói và làm của hai người con” (21,28-32) trong mạch văn dài hơn: Mt 21,23-46. Nhờ đặt 21,28-32 vào bối cảnh văn chương, độc giả mới biết nhân vật “các ông” trong dụ ngôn 21,28-32 là “các thượng tế, các kỳ mục” và “những người Pha-ri-sêu” (21,45). Trong các sách Tin Mừng, ba nhóm “các thượng tế”, “các kỳ mục” và “những người Pha-ri-sêu” phân biệt với nhau, nhưng có đặc điểm chung là chống lại Đức Giê-su.
Kết luận
Những phân tích về bối cảnh văn chương một đoạn văn như trên cho thấy tầm quan trọng của bối cảnh để hiểu ý nghĩa một đoạn văn. Nếu chỉ đọc đoạn văn Mt 21,28-32, độc giả sẽ không biết dụ ngôn được kể ra trong bối cảnh nào và Đức Giê-su kể dụ ngôn cho ai và nhằm đến ai. Khi đặt Mt 21,28-32 trong bối cảnh chung của đoạn văn lớn hơn (Mt 21,23-46), độc giả sẽ cảm nhận được sức mạnh của đoạn văn Mt 21,28-32 và biết các chi tiết giúp hiểu thần học của đoạn văn:
- Biết lý do Đức Giê-su kể dụ ngôn “nói và làm của hai người con” (Mt 21,38-32). Trong đoạn văn trước, “các thượng tế và kỳ mục” chất vấn về quyền hành của Đức Giê-su (21,23) nên Người trả lời cho họ bằng cách thực thi quyền phán quyết trong hai dụ ngôn tiếp theo.
- Biết Đức Giê-su nói dụ ngôn với ai. Những người nghe Đức Giê-su là “các thượng tế, các kỳ mục” (21,23) và “những người Pha-ri-sêu” (21,45). Họ là những kẻ tranh luận và chống đối Đức Giê-su. Cuối mỗi dụ ngôn Đức Giê-su tuyên bố tình trạng hiện tại của họ.
- Biết dụ ngôn đặt trong bầu khí tranh luận và biết tranh luận kết thúc như thế nào. Những kẻ chống đối tìm bắt Đức Giê-su, nhưng lại sợ dân chúng (21,46).
- Biết trình thuật “nói và làm của hai người con” (Mt 21,38-32) là một dụ ngôn, và biết dụ ngôn thứ nhất nối kết chặt chẽ với dụ ngôn thứ hai (những tá điền sát nhân).
- Biết diễn tiến và nối kết giữa các đề tài liên quan đến Gio-an Tẩy Giả: “hối hận”, “sám hối” và “tin” vào lời rao giảng của Gio-an Tẩy Giả. Chỉ những ai “sám hối” và “tin” mới biết quyền hành của Đức Giê-su đến từ đâu và Đấng nào đã ban quyền cho Người.
Sau khi tìm hiểu bối cảnh văn chương của đoạn văn 21,28-32, độc giả có thể dựa vào đó để tìm hiểu ý nghĩa của đoạn văn, chẳng hạn tìm hiểu các đề tài: Tương quan giữa “nói” và “làm”. Hiểu về quyền hành của Đức Giê-su trong tương quan với “sám hối” và “tin”. Tương phản giữa “những người thu thuế và những cô gái điếm” và “giới lãnh đạo Do Thái”… Trình thuật Mt 21,28-32 mở đầu bằng động từ “hối hận” (metamelomai) và kết thúc bằng phủ định động từ này “không hối hận” (oude metamelomai) trong liên hệ với lời giảng của Gio-an Tẩy Giả (21,32). Chi tiết này buộc độc giả phải trở về đầu Tin Mừng Mát-thêu để biết Gio-an Tẩy Giả rao giảng điều gì, mời gọi người nghe làm gì. Đây cũng là cách thức đặt nhân vật Gio-an Tẩy Giả vào trong bối cảnh văn chương của Tin Mừng Mát-thêu, nhưng ở cấp độ rộng lớn hơn (Mt 3,1-12). Có thể xem thêm trình bày về bối cảnh, cấu trúc và những yếu tố khác của phương pháp đọc Kinh Thánh, như tương quan “tác giả - độc giả”, các loại nhân vật, yếu tố không gian, thời gian v.v… trong tập sách: Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, Nxb. Phương Đông, 2010, 228 trang.
Để tránh nguy cơ hiểu lệnh lạc bản văn, hay đưa ra những kết luận mà bản văn không nói tới, độc giả cần chú trọng đến bối cảnh văn chương và cấu trúc đoạn văn trên nhiều cấp độ bản văn dài ngắn khác nhau. Trong phương pháp đọc Kinh Thánh, “bối cảnh” và “cấu trúc” góp phần quan trọng vào việc hiểu ý nghĩa của đoạn văn. Nhờ “bối cảnh” và “cấu trúc” đoạn văn, độc giả sẽ khám phá ra những nét thần học độc đáo của đoạn văn, nhận ra sức mạnh của bản văn và biết đoạn văn góp phần thế nào để xây dựng thần học chung của sách Tin Mừng. Tôn trọng bản văn và quan sát kỹ bản văn sẽ mở ra cho độc giả một kho tàng vô tận trong việc tìm hiểu, suy niệm và sống Lời mặc khải./.
Ngày 18 tháng 09 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Nguồn: http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2011/09/phuong-phap-oc-kinh-thanh-boi-canh-va.html
Nguồn: http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2011/09/phuong-phap-oc-kinh-thanh-boi-canh-va.html
Email: josleminhthong@gmail.com
11/09/2011
24/07/2011
Mt 14,13-21: “Hãy tìm đến” với Đức Giê-su và “hãy cộng tác” với Người
Như đám đông dân chúng, hãy tìm đến với Đức Giê-su
để được yêu thương, được chữa lành và được nuôi dưỡng.
Như các môn đệ, hãy cộng tác với Đức Giê-su
để phân phát của ăn đích thực cho mọi người.
Bản văn Mt 14,13-21 (NPD/CGKPV)
13 Nghe tin ấy (Gio-an Tẩy Giả bị chém đầu, Mt 14,3-12), Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ. 15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: "Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn." 16 Đức Giê-su bảo: "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn." 17 Các ông đáp: "Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!" 18 Người bảo: "Đem lại đây cho Thầy!" 19 Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.
1. Dẫn nhập
Đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21 kể lại việc Đức Giê-su lánh đến nơi hoang vắng sau khi nghe biết ông Gio-an Tẩy Giả đã bị Hê-rô-đê giết chết (Mt 14,3-12). Điều đáng chú ý là Đức Giê-su đã gây được ảnh hưởng nơi dân chúng. Hình như nhân vật chính của bài Tin Mừng không phải là Đức Giê-su mà là đám đông dân chúng và các môn đệ. Chúng ta cùng tìm hiểu vai trò của đám đông và của các môn đệ trong đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21.
2. Dân chúng tìm đến với Đức Giê-su
Bản văn cho biết Đức Giê-su muốn lánh đi một nơi hoang vắng riêng biệt. Nghĩa là Ngài không có ý định đến với đám đông, Người cũng không có ý định giảng dạy dân chúng. Điểm độc đáo của bản văn là thay vì Đức Giê-su đến với dân chúng thì dân chúng lại “tìm gặp”, “đi theo” và “đến với” Đức Giê-su. Tin Mừng kể: “Nghe biết vậy, đám đông dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người.”
Dân chúng đến với Đức Giê-su không phải từ một nơi, từ một thành phố, mà là từ nhiều thành phố. Câu 14,13b: “Đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người” dịch sát: “Từ các thành phố (apo tôn poleôn), các đám đông (hoi okhloi) đi theo Người bằng cách đi bộ.” Hình ảnh “các đám đông”, từ “các thành phố” khác nhau, dường như cùng lúc biết tin là “Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt” (14,13) cho thấy tầm ảnh hưởng sâu rộng của Đức Giê-su trong dân chúng. Người đã thu hút được dân chúng, nên từ khắp nơi, họ tự nguyện, nhanh chóng và hăng hái tìm đến với Người.
Đức Giê-su thực hiện dự định “lánh khỏi nơi đó” bằng cách “đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt”. Người không biết là có nhiều đám đông đang đi bộ theo mình, nhưng độc giả thì biết, vì qua bản văn, tác giả cho độc giả biết là kẻ đi bộ, người đi thuyền đang tiến về cùng một nơi. Chi tiết được đề cao là dân chúng chủ động loan tin, họ cho nhau biết hành trình của Đức Giê-su để cùng nhau tìm đến với Người. Có lẽ họ đã vội vã bước đi không trì hoãn, vì khi Đức Giê-su xuống khỏi thuyền thì “một đám đông lớn” đã hiện diện ở đó.
3. Phản ứng của Đức Giê-su khi gặp dân chúng
Đối với Đức Giê-su, đây là cuộc gặp gỡ bất ngờ. Đức Giê-su muốn lánh ra một nơi hoang vắng không có ai, nhưng khi ra khỏi thuyền thì Người lại thấy “một đám đông lớn” (polun okhlon).” “Đám đông lớn” này là do “các đám đông” từ nhiều thành phố đổ về. Chính họ đã làm cho nơi hoang vắng trở thành nơi quy tụ và gặp gỡ. Đức Giê-su đã phản ứng thế nào và Người làm gì với đông đảo dân chúng trong nơi hoang vắng này?
Một đàng Đức Giê-su “muốn” lánh vào nơi hoang vắng, một đàng dân chúng “muốn” gặp Đức Giê-su, hai “ý muốn ngược nhau” này đã tạo nên một cuộc gặp gỡ độc đáo. Có thể ví đây là một cuộc gặp gỡ bất ngờ và thú vị giữa một bên là “những người hâm mộ Đức Giê-su” (họ nhận ra quyền năng và lòng thương xót của Người) và một bên là “người được hâm mộ” (Đức Giê-su là Người đem đến sự sống và sức sống cho dân chúng). Đây là cuộc gặp gỡ của lòng mến, của lòng ái mộ. Vì thế, cho dù không chờ đợi và bất ngờ, Đức Giê-su đã “chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ” (14,14).
Ở nơi hoang vắng, cuộc gặp gỡ đề cao sự thân mật và chia sẻ. Điều lạ là những gì Đức Giê-su làm cho dân chúng trong ngày hôm đó chỉ tóm gọn trong mấy chữ: “Chữa lành các bệnh nhân của họ” (14,14), bởi vì câu tiếp theo đã nói đến chia tay vì đã xế chiều. Tác giả kể: “Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: ‘Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn’” (14,15). Như thế, theo mạnh văn, suốt ngày hôm đó Đức Giê-su “sống với” và “chia sẻ” với dân chúng bằng cách bày tỏ “lòng thương xót” và “chữa lành bệnh nhân của họ”.
Có thể nói, điều dân chúng cần là “chia sẻ” và “ở với” họ chứ không phải là “nghe giảng”. Đức Giê-su trong đoạn Tin Mừng hôm nay không giảng dạy. Bản văn không trình bày Đức Giê-su như một thầy dạy, nhưng như một mục tử. Người thực hiện vai trò mục tử: Yêu thương chăm sóc đoàn chiên, cụ thể là nuôi ăn qua trình thuật hoá bánh ra nhiều trong phần chính của bài Tin Mừng (14,15-21).
4. Phép lạ bánh hoá nhiều và vai trò của các môn đệ
Nếu như việc đám đông đến với Đức Giê-su là sáng kiến của chính họ, thì các môn đệ là những người đã lo lắng đến của ăn cho đám đông. Chính các môn đệ đi bước trước, các ông đã đề nghị với Đức Giê-su một giải pháp khi nói: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn” (14,15). Lời đề nghị này cho thấy các môn đệ trong bản văn giữ vai trò chủ động. Nhờ gợi ý của họ mà Đức Giê-su thực hiện phép lạ bánh hoá nhiều. Sau lời đề nghị của các môn đệ, Đức Giê-su nói với họ: “Họ không cần đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn” (14,16).
Qua câu nói trên, Đức Giê-su đề cao vai trò của các môn đệ khi nói khẳng định chính các môn đệ sẽ cho dân chúng ăn. Thật vậy, sau khi Đức Giê-su cần lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, Người bẻ bánh ra, trao cho môn đệ và “môn đệ trao cho dân chúng” (14,19). Mạch văn cho phép hiểu: Đức Giê-su làm phép lạ, nhưng chính các môn đệ “cho dân chúng ăn”. Trình thuật đề cao sự cộng tác tích cực của các môn đệ vào vai trò mục tử của Đức Giê-su.
5. Những con số trong phép lạ
Cuối trình thuật phép lạ bánh hoá nhiều, Tin Mừng nói trực tiếp đến dân chúng và các môn đệ qua những con số: “Ai nấy đều ăn và được no nê. Người ta thu lại những miếng còn thừa được 12 giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con” (14,20-21). Quyền năng của Đức Giê-su tỏ lộ cách gián tiếp qua các chi tiết liên quan đến đám đông và các môn đệ: “Mọi người ăn no nê”, “dư 12 giỏ đầy” với một số lượng lớn người ăn: “5.000 người đàn ông không kể đàn bà và trẻ.”
Độc giả có thể liên tưởng con số 12 với 12 Tông Đồ. 12 giỏ bánh có hai đặc tính: “đầy” và “dư”. “Dư” không phải là thứ bỏ đi mà là thứ còn lại sau khi đã ăn và ăn no nê. Trong mạch văn, “12 giỏ đầy bánh còn dư” vừa là bằng chứng hiển nhiên về phép lạ bánh hoá nhiều, vừa ám chỉ sự dồi dào của lương thực Đức Giê-su ban tặng, vừa gợi ý đến sự cộng tác của Nhóm 12 Tông Đồ vào vai trò mục tử của Đức Giê-su là Đấng có khả năng làm no thoả khát vọng của con người.
Bài Tin Mừng kết thúc với con số 5.000 người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con (14,21). Chi tiết này cho biết cụ thể “các đám đông” từ “các thành phố” (14,13), đi theo Đức Giê-su là bao nhiêu. Con số: “hơn 5.000 thực khách” tạo ra tương phản mạnh mẽ trong phép lạ bánh hoá nhiều. Một bên là “nơi hoang vắng”, không có người qua lại, không có của ăn, một bên là “một bữa ăn no thoả” cho một đám đông hơn 5.000 người. Đồng thời, tạo nên tương phản giữa “ít” (5 chiếc bánh và 2 con cá) và “nhiều”, dồi dào, phong phú (hơn 5.000 người ăn no nê và còn dư 12 giỏ đầy).
Ẩn phía sau câu chuyện, Đức Giê-su là nhân vật chính của bài Tin Mừng, tuy nhiên, trong cách kể chuyện, tác giả đề cao sáng kiến tìm gặp Đức Giê-su của đám đông, và đề cao vai trò của các môn đệ. Sau một thời gian thi hành sứ vụ rao giảng và chữa lành, đoạn văn Mt 14,13-21 cho thấy phần nào sự thành công của Đức Giê-su. Cụ thể là đám đông dân chúng tự nguyện tìm đến với Người và các môn đệ đã tích cực cộng tác với Người trong sứ vụ mục tử.
Đặc biệt bài Tin Mừng hôm nay không nói đến nội dung giáo huấn của Đức Giê-su, Người không giảng dạy trong đoạn Tin Mừng này. Trình thuật đề cao nhu cầu của dân chúng: “tìm đến” và “gặp gỡ” Đức Giê-su, để được Người chữa lành và được Người nuôi dưỡng bằng lương thực tâm linh dồi dào phong phú mà phép lạ bánh hoá nhiều là hình ảnh.
6. Kết luận
Đầu bài Tin Mừng, dân chúng chủ động đến với Đức Giê-su, giữa bài Tin Mừng các môn đệ giữ vài trò quan trọng trong việc cho dân chúng ăn. Cuối bài Tin Mừng các môn đệ và dân chúng được đề cập đến: “Ai nấy đều ăn và được no nê.” Những gì được thuật lại trong bài Tin Mừng Mt 14,13-21 cho thấy sự trưởng thành của đám đông và của các môn đệ. Đám đông dân chúng nhanh chóng loan tin cho nhau và cùng nhau tìm đến với Đức Giê-su. Nhóm các môn đệ đã giữ vai trò chủ động khi họ đề nghị Đức Giê-su tìm cách cho dân chúng ăn. Đức Giê-su đã đề cao sự cộng tác của các môn đệ khi Người nói: “Chính anh em hãy cho họ ăn”. Các môn đệ đã góp phần đắc lực vào sứ vụ mục tử của Đức Giê-su.
Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su giữ vai trò thụ động, nhưng trình thuật cho thấy Người đã thành công trong sứ vụ rao giảng và Người đang thi hành sứ vụ mục tử qua những hành động yêu thương, chăm sóc và nuôi dưỡng đàn chiên. Tuy nhiên, sự chủ động của các nhân vật “đám đông dân chúng” và “các môn đệ” làm cho các nhân vật này trở thành nhân vật chính của đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21. Độc giả có thể rút ra hai lời mời gọi từ bản văn:
- Tin Mừng Mt 14,13-21 mời gọi độc giả hãy như đám đông: Loan tin cho cho mọi người biết Đức Giê-su để trở thành “các đám đông” từ “các thành phố” cùng nhau tìm đến với Người. Nhờ đó, chúng ta được gặp gỡ Người, được ở với Người, được chia sẻ, được chữa lành và được Người nuôi dưỡng.
- Tin Mừng Mt 14,13-21 mời gọi độc giả hãy như các môn đệ: Tích cực tham gia vào sứ vụ mục tử của Đức Giê-su. Chính Đức Giê-su làm phép lạ bánh hoá nhiều, nhưng Người muốn các môn đệ “hãy cho dân chúng ăn”, hãy phân phát bánh và cá cho mọi người. Độc giả được mời gọi trở thành những người cộng tác viên để tiếp nối sứ vụ của Đức Giê-su./.
Ngày 24 tháng 07 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com
Nguồn: http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2011/07/chia-se-tm-mt-1413-21-hay-tim-en-voi-uc.html
Email: josleminhthong@gmail.com
Nguồn: http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2011/07/chia-se-tm-mt-1413-21-hay-tim-en-voi-uc.html
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






