23/04/2020

Ga 4,4. Tại sao phải băng qua Sa-ma-ri?




Tác giả: Giuse Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com
Cập nhật, ngày 23 tháng 04 năm 2020.


Nội dung

Dẫn nhập
I. Tương quan giữa Do Thái và Sa-ma-ri
    1. Người Sa-ma-ri trong Tin Mừng
    2. Nguồn gốc dân Sa-ma-ri
    3. Xung đột sau thời lưu đày
    4. Xung đột thời đế quốc Hy-lạp
I. Lựa chọn ngang qua Samari (Ga 4,4)
    1. Hai cách đi từ Giu-đê đến Ga-li-lê
    2. Lý do đi ngang qua Sa-ma-ri
II. Ý nghĩa động từ “dei” (phải) 
    1. Sự cần thiết dành cho thính giả và độc giả
    2. Động từ “dei” (phải) nói về căn tính Đức Giê-su
    3. Sự cần thiết liên quan đến sứ vụ
Kết luận



Dẫn nhập

Bài viết “Ga 4,3-26. Địa danh: Sa-ma-ri, Gơ-ri-dim, giếng Gia-cóp, Xy-kha” đã trình bày sơ lược địa lý miền Sa-ma-ri. Bài viết này phân tích ý nghĩa câu Ga 4,4: “Người (Đức Giê-su) phải băng qua Sa-ma-ri.” Tại sao “phải” băng qua Sa-ma-ri? Trả lời câu hỏi này giúp hiểu ý nghĩa toàn bộ câu chuyện Đức Giê-su ở Sa-ma-ri (4,1-42). Bài viết dùng phiên âm tên riêng theo NPD/CGKPV, Kinh Thánh, ấn bản 2011; một số tên riêng ngoài Kinh Thánh được viết theo tiếng Anh. Nội dung bài viết gồm ba mục: (I) tương quan giữa Do Thái và Sa-ma-ri; (II) hai cách đi từ Giu-đê đến Ga-li-lê; (III) ý nghĩa động từ “dei” (phải).

I. Tương quan giữa Do Thái và Sa-ma-ri

Phần này trình bày ba điểm: (1) Người Sa-ma-ri trong Tin Mừng; (2) Nguồn gốc dân Sa-ma-ri; (3) xung đột sau thời lưu đày; (4) xung đột thời đế quốc Hy-lạp.

    1. Người Sa-ma-ri trong Tin Mừng

Vào thời Đức Giê-su, người Do Thái sống ở Giu-đê và Ga-li-lê và thường tránh đi vào vùng đất Sa-ma-ri, vì tương quan giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri không mấy tốt đẹp (Ga 4,9b). Các Tin Mừng cho thấy bầu khí nghi kỵ, chống đối, và đôi lúc xảy ra xung đột. Chẳng hạn, Tin Mừng Lu-ca thuật lại chuyện Đức Giê-su và các môn đệ từ Ga-li-lê đi lên Giê-ru-sa-lem qua ngã Sa-ma-ri nhưng dân làng Sa-ma-ri đã không tiếp đón. Người thuật chuyện kể ở Lc 9,51-53: “51 Khi đã tới ngày Đức Giê-su được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giê-ru-sa-lem. 52 Người sai mấy sứ giả đi trước. Họ lên đường và vào một làng người Sa-ma-ri để chuẩn bị cho Người đến. 53 Nhưng dân làng không đón tiếp Người, vì Người đang đi về hướng Giê-ru-sa-lem.” (Xem NPD/CGKPV, Kinh Thánh, ấn bản 2011).

    2. Nguồn gốc dân Sa-ma-ri

Ngược lại, người Do Thái lại xem người Sa-ma-ri là dân không còn dòng máu Do Thái chính thống, vì nguồn gốc người Sa-ma-ri là pha trộn giữa dân Ít-ra-en và dân ngoại. Tình trạng này xảy ra sau khi thành Sa-ma-ri, thủ đô vương quốc Ít-ra-en ở miền Bắc, bị sụp đổ năm 722 TCN. Một số dân cư thành Sa-ma-ri và các vùng lân cận bị Xác-gôn (Sargon) II, vua đế quốc Át-sua (Assyri), đưa đi lưu đày. Số dân Ít-ra-en ở lại Sa-ma-ri phải sống chung với các dân ngoại từ các nơi khác, do Xác-gôn II mang đến. Lúc ấy vùng đất Sa-ma-ri là thuộc địa của Át-sua. Dần dần người Ít-ra-en ở Sa-ma-ri pha trộn với dân ngoại, chịu ảnh hưởng tập tục và tôn giáo của dân ngoại, không còn thuần chủng dân Ít-ra-en nữa.

Sách các Vua quyển thứ hai thuật lại tình trạng vương quốc Ít-ra-en và lý do vương quốc này sụp đổ ở 2V 17,22-25a: “22 Con cái Ít-ra-en đã bắt chước vua mà phạm mọi tội vua đã phạm, họ không dứt bỏ các tội đó, 23 đến nỗi ĐỨC CHÚA đẩy Ít-ra-en đi cho khuất nhan Người, như Người đã dùng mọi ngôn sứ, tôi trung của Người, mà phán. Ít-ra-en đã bị đày biệt xứ sang Át-sua cho đến ngày nay. 24 Vua Át-sua đã đưa người từ Ba-by-lon, Cu-tha, A-va, Kha-mát và Xơ-phác-va-gim đến định cư ở các thành xứ Sa-ma-ri, thế vào chỗ con cái Ít-ra-en. Họ chiếm Sa-ma-ri và ở trong các thành của xứ này. 25 Ban đầu, khi mới định cư ở đó, họ không kính sợ ĐỨC CHÚA.

    3. Xung đột sau thời lưu đày

Kỳ thị và xung đột giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri trở nên gay gắt hơn khi thời lưu đày chấm dứt (538 TCN). Sau thời lưu đày, những người Do Thái hồi hương về Giê-ru-sa-lem. Họ  tổ chức xây lại tường thành và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem (520-515 TCN). Người Sa-ma-ri muốn góp phần xây lại Giê-ru-sa-lem nhưng không được người Do Thái chấp thuận. Để đáp trả, người Sa-ma-ri tìm cơ hội để tố cáo người Do Thái trước các vua Ba Tư. Sau đó người Sa-ma-ri đã xây đền thờ trên núi Gơ-ri-dim (Gerizim) để thờ phượng Đức Chúa. Điều này đào sâu thêm chia rẽ giữa người Sa-ma-ri và người Do Thái.

Ét-ra thuật lại xung đột giữa dân địa phương và người Do Thái hồi hương về việc xây dựng lại Đền Thờ ở Er 4,1-5: “1 Khi nghe tin là các người lưu đày trở về đang xây một Đền Thờ kính ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en, 2 thì những kẻ thù của Giu-đa và Ben-gia-min đến gặp ông Dơ-rúp-ba-ven, và những người đứng đầu các gia tộc, mà nói: ‘Chúng tôi muốn được cùng xây với các ông, bởi cũng như các ông, chúng tôi tìm kiếm Thiên Chúa của các ông, và dâng lễ tế kính Người, từ ngày Ê-xa-khát-đôn, vua Át-sua, đem chúng tôi lên đây.’ 3 Ông Dơ-rúp-ba-ven, ông Giê-su-a và những người khác, là những người đứng đầu các gia tộc Ít-ra-en, bảo họ: ‘Việc xây Nhà cho Thiên Chúa chúng tôi không phải là việc chung của các ông và chúng tôi, vì chỉ có chúng tôi sẽ xây cho ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của Ít-ra-en, theo lệnh vua Ky-rô, vua Ba-tư, đã ban cho chúng tôi.’ 4 Khi đó, dân trong xứ bắt đầu làm cho dân Giu-đa bủn rủn tay chân và sợ hãi, để họ không xây cất nữa. 5 Chúng mua chuộc các cố vấn, để làm hỏng ý định của dân Giu-đa trong suốt thời vua Ky-rô, vua Ba-tư, mãi cho đến triều vua Đa-ri-ô, vua Ba-tư.” Trong câu chuyện xung đột trên, các cụm từ “kẻ thù của Giu-đa và Ben-gia-min” (Er 4,1) và “dân trong xứ” (Er 4,4) là những người sống trên đất Pa-lét-tin khi dân Giu-đa bị đưa đi lưu đày, trong số đó có người Sa-ma-ri.

    4. Xung đột thời đế quốc Hy-lạp

Theo sử gia Josephus, Sanballat là thủ lãnh người Sa-ma-ri đã xây một đền thờ trên núi Gơ-ri-dim, và thiết lập hàng tư tế đối lập với đền thờ và tư tế ở Giê-ru-sa-lem, (xem Josephus Ant. 11:8,2-4). Căng thẳng về tôn giáo giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri đã dẫn đến biến cố John Hyrcan phá huỷ đền thờ trên núi Gơ-ri-dim vào cuối thế kỷ II TCN. Trước đó đền thờ Gơ-ri-dim đã tồn tại 200 năm. (Xem mục 3. Núi Gơ-ri-dim và núi Ê-van trong bài “Ga 4,3-26. Địa danh”).

I. Lựa chọn ngang qua Samari (Ga 4,4)

Phần này bàn về hai ý: (1) hai cách đi từ Giu-đê đến Ga-li-lê; (2) lý do đi ngang qua Sa-ma-ri.

    1. Hai cách đi từ Giu-đê đến Ga-li-lê

Vào thời Đức Giê-su, tình trạng vùng Sa-ma-ri ảnh hưởng đến việc đi lại của người Do Thái từ Giu-đê đến Ga-li-lê và ngược lại. Khi người Do Thái muốn đi từ Giu-đê về Ga-li-lê hay từ Ga-li-lê lên Giê-ru-sa-lem, họ thường không đi ngang qua vùng Sa-ma-ri mà đi vòng dọc theo thung lũng sông Gio-đan, rồi từ Giê-ri-cô đi lên Giê-ru-sa-lem. Xem các địa danh trên trong bản đồ:


P. Walker viết: “Phải cộng thêm khoảng 25 dặm (40 km) vào hành trình, nhưng cần thiết, nếu muốn tránh đi ngang qua Samari.” (P. Walker, In the Steps of Jesus, Oxford, Lion Hudson, 2006, p. 82). Josephus cũng cho biết con đường ngắn nhất để đi từ Giu-đê đến Ga-li-lê là đi ngang qua Sa-ma-ri. Josephus viết: “Điều thực sự cần thiết cho những ai muốn đi nhanh (tới Giê-ru-sa-lem) thì đi ngang qua vùng đó (Sa-ma-ri), bởi vì đi theo đường này, bạn có thể mất ba ngày đi đường, từ Ga-li-lê tới Giê-ru-sa-lem.” (Josephus Life, 52:269). Trong thực tế, người Do Thái thường tránh đi qua miền Sa-ma-ri, nên đi dọc theo thung lũng Gio-đan.

    2. Lý do đi ngang qua Sa-ma-ri

Khi người thuật chuyện cho biết ở Ga 4,4 là Đức Giê-su phải qua ngang qua Samari để đến Ga-li-lê, phải chăng Người vội vàng đi Ga-li-lê nên chọn đi ngang qua Sa-ma-ri? Hay Người chọn đi theo con đường ngắn hơn? Hai chi tiết cho thấy cả hai lý do trên không phù hợp với bản văn:

(1) Trước hết, Đức Giê-su không vội đến Ga-li-lê, bởi vì khi những người Sa-ma-ri xin Đức Giê-su ở lại với họ, thì Người đã ở lại thành Xy-kha hai ngày (4,40).

(2) Lựa chọn đi Ga-li-lê bằng cách băng qua Sa-ma-ri không phải là con đường ngắn, vì theo mạch văn, Đức Giê-su đang ở gần sông Gio-đan, gần nơi Gio-an làm phép rửa. Thật vậy, người thuật chuyện cho biết ở 3,22-23: “22 Sau những điều đó, Đức Giê-su và các môn đệ của Người đi vào miền đất Giu-đê, Người ở lại nơi ấy với các ông và làm phép rửa. 23 Còn Gio-an cũng đang làm phép rửa ở Ê-nôn, gần Sa-lim, vì ở đó có nhiều nước, và người ta tuôn đến chịu phép rửa.” (Xem Bản văn Gio-an, Tin Mừng và Bathư). Việc các môn đệ Đức Giê-su làm phép rửa được thuật lại ở 4,1-3: “1 Vậy khi Đức Giê-su biết những người Pha-ri-sêu nghe rằng: Đức Giê-su thâu nạp nhiều môn đệ và làm phép rửa nhiều hơn Gio-an 2 – thực ra, chính Đức Giê-su không làm phép rửa, nhưng là các môn đệ của Người –, 3 Người rời bỏ Giu-đê và lại đi đến Ga-li-lê.” Theo mạch văn Đức Giê-su đang ở Giu-đê và gần sông Gio-đan. Từ thung lũng sông Gio-đan, con đường ngắn nhất để đi Ga-li-lê là đi dọc theo sông Gio-đan về phía Bắc ngang qua Bethshan. Trong trường hợp này, đi Ga-li-lê qua ngã Sa-ma-ri là đi vòng và xa hơn con đường theo hướng Bethshan (xem các địa danh trên ở bản đồ trong bài viết “Ga 4,3-26. Địa danh”. Quan sát cách dùng động từ Hy-lạp “dei” (phải) trong phần tiếp theo giúp độc giả hiểu tại sao Đức Giê-su phải đi qua Sa-ma-ri (4,4).

II. Ý nghĩa động từ “dei” (phải) 

Trong Tin Mừng Gio-an, xuất hiện 10 lần động từ Hy-lạp “dei” (phải): 3,7.14.30; 4,4.20.24; 9,4; 10,16; 12,34; 20,9. Nghĩa của động từ này xếp thành ba nhóm: (1) mô tả sự cần thiết dành cho thính giả và độc giả, 4 lần: 3,7.30; 4,20.24; (2) trình bày căn tính Đức Giê-su, 3 lần: 3,14; 12,34; 20,9; (3) diễn tả sự cần thiết liên quan đến sứ vụ Đức Giê-su và các môn đệ, 3 lần: 4,4; 9,4; 10,16. Dưới đây là chi tiết ba nhóm nghĩa này.

    1. Sự cần thiết dành cho thính giả và độc giả

Có hai loại thính giả (người nghe) trong bản văn. (1) Cấp độ thứ nhất là các nhân vật trong câu chuyện. Chẳng hạn, những người nghe Đức Giê-su ở 4,1-42 là người phụ nữ Samari, các môn đệ và dân thành Xy-kha. (2) Cấp độ thính giả thứ hai là độc giả qua mọi thời, vì bản văn “giao tiếp” với người đọc, nghĩa là người thuật chuyện kể câu chuyện cho độc giả, và muốn nói với độc giả điều gì đó qua câu chuyện.

(1) Ở cấp độ thứ nhất (nhân vật trong câu chuyện), Đức Giê-su nói với Ni-cô-đê-mô: “Ông đừng ngạc nhiên vì Tôi đã nói với ông: ‘Các ông cần phải (dei) được sinh ra một lần nữa’” (3,7). “Được sinh ra một lần nữa”, hay “được sinh ra bởi trên” là điều cần thiết để có thể “thấy” và “vào” vương quốc Thiên Chúa (3,3.5). Sang ch. 4, người phụ nữ Sa-ma-ri nói với Đức Giê-su ở 4,20: “Cha ông chúng tôi đã thờ phượng ở núi này; còn các ông, các ông nói rằng: ở Giê-ru-sa-lem mới là nơi phải (dei) thờ phượng.” Đức Giê-su trả lời chị ở 4,24: “Thiên Chúa Thần Khí, và những kẻ thờ phượng Người phải (dei) thờ phượng trong thần khí và sự thật.” Động từ “dei” (phải) ở 4,20.24 diễn tả sự cần thiết tâm linh và thần học về cách thờ phượng Chúa Cha. Đối với Gioan, nguyên tắc sống của ông là “Đấng ấy (Đức Giê-su) phải (dei) lớn lên, còn thầy phải suy giảm” (3,30).

(2) Ở cấp độ thứ hai (tác giả – độc giả), lời mặc khải của Đức Giê-su trong trình thuật cũng là lời người thuật chuyện nhắn gửi độc giả. Qua động từ “dei” (phải), câu chuyện mời gọi độc giả đón nhận và sống giáo huấn Đức Giê-su. Câu chuyện Ni-cô-đê-mô mời gọi độc giả mở lòng để “được sinh ra bởi trên”, (3,3.7), “được sinh ra bởi nước và Thần Khí” (3,5). Trong ch. 4, bản văn đề nghị với độc giả thờ phượng Thiên Chúa cách mới mẻ: “thờ phượng Cha trong thần khí và sự thật” (4,23). Cũng như Gio-an, người thuật chuyện mời gọi độc giả lựa chọn nguyên tắc sống: Đức Giê-su phải lớn lên, còn tôi phải suy giảm (3,30). Tóm lại, 4 lần trong Tin Mừng (3,7.30; 4,20.24) động từ “dei” (phải) trình bày những điều cần thiết cho thính giả thời Đức Giê-su và cho độc giả hôm nay.

    2. Động từ “dei” (phải) nói về căn tính Đức Giê-su

Nhóm thứ hai trong cách dùng động từ “dei” (phải) là trình bày căn tính (identity) Đức Giê-su. Người nói với Ni-cô-đê-mô ở 3,14-15: “14 Như Mô-sê đã giương cao con rắn trong hoang mạc, Con Người phải (dei) được giương cao như vậy, 15 để mọi kẻ tin thì có sự sống đời đời trong Người.” Đức Giê-su đồng hoá mình với “Con Người” (the Son of Man) và Người sẽ bị treo trên thập giá như con rắn trong hoang mạc. Biểu tượng con rắn đồng được nói đến trong sách Dân Số (Ds 21,4-9). Như con rắn được giương cao trong hoang mạc để ai bị rắn cắn, nhìn lên đó thì được sống, Đức Giê-su cũng sẽ được giương cao trên thập giá, qua đó Người ban sự sống đời đời cho ai tin. Đây là điều nghịch lý và là mầu nhiệm cao cả. Tại sao phải chết để ban sự sống? Tại sao người chết lại có thể ban sự sống? Trong ch. 12, đám đông đã không biết Đức Giê-su là ai, nên hỏi Người ở 12,34: “Chúng tôi đã nghe trong sách Luật rằng: ‘Đấng Ki-tô ở lại mãi mãi’, thế sao Ông lại nói: ‘Con Người phải (dei) được giương cao?’ Con Người đó là ai?” Hai lần động từ “dei” (phải) ở 3,14; 12,34 trình bày cách nghịch lý về căn tính Đức Giê-su: Người phải được giương cao để nhân loại được sống.

Trong Tin Mừng, động từ “dei” (phải) còn mô tả sự sống lại của Đức Giê-su. Trước khi thấy Đấng Phục Sinh, người thuật chuyện nói về sự không biết của các môn đệ ở 20,9: “Thực ra, các ông chưa hiểu theo Kinh Thánh là Người phải (dei) trỗi dậy từ giữa những kẻ chết.” Trong câu này, động từ “dei” (phải) khẳng định thần tính Đức Giê-su. Người sẽ chết và Người sẽ sống lại từ cõi chết. Tô-ma đã tuyên xưng lòng tin đích thực vào Đức Giê-su Phục Sinh ở 20,28: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con.” Đây cũng là tuyên xưng đức tin của Hội Thánh.

    3. Sự cần thiết liên quan đến sứ vụ

Cách dùng thứ ba của động từ “dei” (phải) liên hệ đến sứ vụ Đức Giê-su và các môn đệ. Người nói với các môn đệ ở 9,4: “Chúng ta phải (dei) làm công việc của Đấng đã sai Thầy khi còn là ngày; đêm đến thì không ai có thể làm việc được.” Đức Giê-su và các môn đệ cần phải “làm công việc của Thiên Chúa” là Đấng đã sai Đức Giê-su đến thế gian. Trong ch. 10, Đức Giê-su tuyên bố trong dụ ngôn người mục tử tốt ở 10,16: “Tôi còn có những chiên khác, chúng không thuộc ràn này. Tôi cũng phải (dei) dẫn dắt chúng và chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và sẽ làm thành một đàn chiên, một mục tử.”

Trình thuật Đức Giê-su ở Sa-ma-ri (4,1-42) nói về sứ vụ của Đức Giê-su. Người nói với các môn đệ về tương quan giữa “người gieo” và “kẻ gặt” qua hình ảnh mùa gặt ở 4,35-38: “35 Chẳng phải anh em nói rằng: ‘Còn bốn tháng nữa thì mùa gặt sẽ đến hay sao?’ Này, Thầy nói cho anh em: Hãy ngước mắt anh em lên và nhìn xem những cánh đồng, chúng chín vàng cho mùa gặt. Rồi kìa, 36 người gặt lãnh nhận tiền công và thu hoa lợi cho sự sống đời đời, để người gieo lẫn kẻ gặt đều vui mừng. 37 Về điều ấy, lời này là đúng: ‘Kẻ này là người gieo, kẻ khác là người gặt.’ 38 Chính Thầy sai anh em đi gặt điều chính anh em đã không vất vả làm ra. Người khác đã vất vả, còn anh em, anh em được hưởng sự vất vả của họ.” Hình ảnh “cánh đồng đã chín vàng cho mùa gặt” nói về lòng tin của dân thành Xy-kha.

Kết quả cuộc gặp gỡ giữa Đức Giê-su và người phụ nữ Sa-ma-ri được nói đến ở 4,39: “Trong thành đó (Xy-kha), nhiều người Sa-ma-ri đã tin vào Người, nhờ lời người phụ nữ làm chứng rằng: ‘Ông ấy nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm.’” Người phụ nữ Sa-ma-ri trở thành người loan báo về Đức Giê-su. Đề tài tin vào Đức Giê-su nhờ lời hay nhờ lời chứng của người khác, được Người nói với Cha về sứ vụ của các môn đệ ở 17,20: “Con không chỉ can thiệp cho những người này, nhưng còn cho những người tin vào Con nhờ lời của họ.” Cụm từ “những người này” là các môn đệ thuộc thế hệ thứ nhất, họ đang nghe Đức Giê-su ngỏ lời với Cha. Cụm từ “những người tin vào Con nhờ lời của họ” là tất cả các môn đệ, từ thế hệ thứ hai đến ngày nay. Họ là những người tin vào Đức Giê-su nhờ lời rao giảng và lời chứng của các môn đệ khác. Họ tin nhờ lời rao giảng và lời chứng của Hội Thánh.

Phần kết đoạn văn 4,1-42 đề cao và nhấn mạnh đề tài “tin”. Người thuật chuyện kể ở 4,40-41: “40 Vậy khi những người Sa-ma-ri đến với Người, họ xin Người ở lại với họ, và Người đã ở lại đó hai ngày. 41 Và nhiều người hơn nữa đã tin, nhờ lời của Người.” Từ nhận định “nhiều người” đã tin (4,39) đến “nhiều người hơn nữa” đã tin (4,41), người thuật chuyện cho thấy sự thành công của sứ vụ Đức Giê-su ở Sa-ma-ri. Trong viễn cảnh này, kiểu nói “phải (edei) băng qua Samari” ở 4,4 diễn tả sự cần thiết liên quan đến thi hành sứ vụ của Đức Giê-su ở Sa-ma-ri.

Kết luận

Phân tích trên cho thấy cách dùng động từ “dei” (phải) trong Tin Mừng diễn tả “sự cần thiết” theo nghĩa thần học. Đối với mọi người, cách duy nhất để vào vương quốc Thiên Chúa là “phải được sinh ra một lần nữa” (3,7); sau đó người tin “phải thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật” (4,34). Đối với Đức Giê-su, Người “phải được giương cao” trên thập giá (3,14) và “phải trỗi dậy từ giữa những kẻ chết” (20,9). Đối với sứ vụ, Đức Giê-su và các môn đệ “phải làm công việc của Thiên Chúa” (9,4). Đức Giê-su còn có những con chiên khác không thuộc ràn này, Người phải dẫn đắt chúng về để làm thành một đàn chiên, một mục tử (10,16). Trong viễn cảnh thần học này, kiểu nói “phải băng qua Sa-ma-ri” (4,4) chuẩn bị độc giả đọc câu chuyện 4,1-42 về sứ vụ của Đức Giê-su ở Sa-ma-ri. Từ thung lũng sông Gio-đan, Người chọn đi theo con đường dài hơn và nguy hiểm hơn để đến Ga-li-lê là băng qua Sa-ma-ri, thay vì đi con đường ngắn, theo hướng Bethshan. Người phải làm như thế để thi hành sứ vụ.

Trên bình diện thần học, Đức Giê-su phải đi qua Sa-ma-ri để mang những con chiên khác vào đàn chiên của Người (10,16a). Những gì Đức Giê-su nói và làm ở Sa-ma-ri là một phần sứ vụ của Người. Người phải làm công việc của Thiên Chúa (9,4) là mặc khải về quà tặng “nước sự sống” (4,13-14) và về “thờ phượng Cha trong thần khí và sự thật” (4,23a). Nhờ đó, những người Samari đã nhận biết Người “thật là Đấng cứu độ thế gian” (4,42). Hoa trái của sứ vụ được ví với cánh đồng lúa chín vàng sẵn sàng cho mùa gặt (4,35): khởi đầu là “nhiều người” (4,39) rồi đến “nhiều người hơn nữa” (4,41) đã tin. Phù hợp với bối cảnh chung Tin Mừng và bối cảnh riêng đoạn văn 4,1-42, động từ “dei” (phải) ở 4,4 diễn tả sự cần thiết của sứ vụ theo nghĩa thần học. Sứ vụ Đức Giê-su ở Sa-ma-ri là khuôn mẫu cho sứ vụ của các môn đệ trong thế gian./.


2 nhận xét:

  1. Cảm ơn Cha rất nhiều đã chia sẻ những kiến thức giúp chúng con hiểu Tin Mừng, và yêu mến Lời Chúa hơn.

    Trả lờiXóa
  2. Lý giải kinh thánh khá sâu sắc. Thanks cha.

    Trả lờiXóa