24/07/2011

Mt 14,13-21: “Hãy tìm đến” với Đức Giê-su và “hãy cộng tác” với Người



Như đám đông dân chúng, hãy tìm đến với Đức Giê-su
để được yêu thương, được chữa lành và được nuôi dưỡng.
Như các môn đệ, hãy cộng tác với Đức Giê-su
để phân phát của ăn đích thực cho mọi người.


Bản văn Mt 14,13-21 (NPD/CGKPV)

13 Nghe tin ấy (Gio-an Tẩy Giả bị chém đầu, Mt 14,3-12), Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ. 15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: "Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn." 16 Đức Giê-su bảo: "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn." 17 Các ông đáp: "Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!" 18 Người bảo: "Đem lại đây cho Thầy!" 19 Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.


1. Dẫn nhập

Đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21 kể lại việc Đức Giê-su lánh đến nơi hoang vắng sau khi nghe biết ông Gio-an Tẩy Giả đã bị Hê-rô-đê giết chết (Mt 14,3-12). Điều đáng chú ý là Đức Giê-su đã gây được ảnh hưởng nơi dân chúng. Hình như nhân vật chính của bài Tin Mừng không phải là Đức Giê-su mà là đám đông dân chúng và các môn đệ. Chúng ta cùng tìm hiểu vai trò của đám đông và của các môn đệ trong đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21.

2. Dân chúng tìm đến với Đức Giê-su

Bản văn cho biết Đức Giê-su muốn lánh đi một nơi hoang vắng riêng biệt. Nghĩa là Ngài không có ý định đến với đám đông, Người cũng không có ý định giảng dạy dân chúng. Điểm độc đáo của bản văn là thay vì Đức Giê-su đến với dân chúng thì dân chúng lại “tìm gặp”, “đi theo” và “đến với” Đức Giê-su. Tin Mừng kể: “Nghe biết vậy, đám đông dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người.”

Dân chúng đến với Đức Giê-su không phải từ một nơi, từ một thành phố, mà là từ nhiều thành phố. Câu 14,13b: “Đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người” dịch sát: “Từ các thành phố (apo tôn poleôn), các đám đông (hoi okhloi) đi theo Người bằng cách đi bộ.” Hình ảnh “các đám đông”, từ “các thành phố” khác nhau, dường như cùng lúc biết tin là “Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt” (14,13) cho thấy tầm ảnh hưởng sâu rộng của Đức Giê-su trong dân chúng. Người đã thu hút được dân chúng, nên từ khắp nơi, họ tự nguyện, nhanh chóng và hăng hái tìm đến với Người.

Đức Giê-su thực hiện dự định “lánh khỏi nơi đó” bằng cách “đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt”. Người không biết là có nhiều đám đông đang đi bộ theo mình, nhưng độc giả thì biết, vì qua bản văn, tác giả cho độc giả biết là kẻ đi bộ, người đi thuyền đang tiến về cùng một nơi. Chi tiết được đề cao là dân chúng chủ động loan tin, họ cho nhau biết hành trình của Đức Giê-su để cùng nhau tìm đến với Người. Có lẽ họ đã vội vã bước đi không trì hoãn, vì khi Đức Giê-su xuống khỏi thuyền thì “một đám đông lớn” đã hiện diện ở đó.

3. Phản ứng của Đức Giê-su khi gặp dân chúng

Đối với Đức Giê-su, đây là cuộc gặp gỡ bất ngờ. Đức Giê-su muốn lánh ra một nơi hoang vắng không có ai, nhưng khi ra khỏi thuyền thì Người lại thấy “một đám đông lớn” (polun okhlon).” “Đám đông lớn” này là do “các đám đông” từ nhiều thành phố đổ về. Chính họ đã làm cho nơi hoang vắng trở thành nơi quy tụ và gặp gỡ. Đức Giê-su đã phản ứng thế nào và Người làm gì với đông đảo dân chúng trong nơi hoang vắng này?

Một đàng Đức Giê-su “muốn” lánh vào nơi hoang vắng, một đàng dân chúng “muốn” gặp Đức Giê-su, hai “ý muốn ngược nhau” này đã tạo nên một cuộc gặp gỡ độc đáo. Có thể ví đây là một cuộc gặp gỡ bất ngờ và thú vị giữa một bên là “những người hâm mộ Đức Giê-su” (họ nhận ra quyền năng và lòng thương xót của Người) và một bên là “người được hâm mộ” (Đức Giê-su là Người đem đến sự sống và sức sống cho dân chúng). Đây là cuộc gặp gỡ của lòng mến, của lòng ái mộ. Vì thế, cho dù không chờ đợi và bất ngờ, Đức Giê-su đã “chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ” (14,14).

Ở nơi hoang vắng, cuộc gặp gỡ đề cao sự thân mật và chia sẻ. Điều lạ là những gì Đức Giê-su làm cho dân chúng trong ngày hôm đó chỉ tóm gọn trong mấy chữ: “Chữa lành các bệnh nhân của họ” (14,14), bởi vì câu tiếp theo đã nói đến chia tay vì đã xế chiều. Tác giả kể: “Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: ‘Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn’” (14,15). Như thế, theo mạnh văn, suốt ngày hôm đó Đức Giê-su “sống với” và “chia sẻ” với dân chúng bằng cách bày tỏ “lòng thương xót” và “chữa lành bệnh nhân của họ”.

Có thể nói, điều dân chúng cần là “chia sẻ” và “ở với” họ chứ không phải là “nghe giảng”. Đức Giê-su trong đoạn Tin Mừng hôm nay không giảng dạy. Bản văn không trình bày Đức Giê-su như một thầy dạy, nhưng như một mục tử. Người thực hiện vai trò mục tử: Yêu thương chăm sóc đoàn chiên, cụ thể là nuôi ăn qua trình thuật hoá bánh ra nhiều trong phần chính của bài Tin Mừng (14,15-21).

4. Phép lạ bánh hoá nhiều và vai trò của các môn đệ

Nếu như việc đám đông đến với Đức Giê-su là sáng kiến của chính họ, thì các môn đệ là những người đã lo lắng đến của ăn cho đám đông. Chính các môn đệ đi bước trước, các ông đã đề nghị với Đức Giê-su một giải pháp khi nói: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn” (14,15). Lời đề nghị này cho thấy các môn đệ trong bản văn giữ vai trò chủ động. Nhờ gợi ý của họ mà Đức Giê-su thực hiện phép lạ bánh hoá nhiều. Sau lời đề nghị của các môn đệ, Đức Giê-su nói với họ: “Họ không cần đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn” (14,16).

Qua câu nói trên, Đức Giê-su đề cao vai trò của các môn đệ khi nói khẳng định chính các môn đệ sẽ cho dân chúng ăn. Thật vậy, sau khi Đức Giê-su cần lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, Người bẻ bánh ra, trao cho môn đệ và “môn đệ trao cho dân chúng” (14,19). Mạch văn cho phép hiểu: Đức Giê-su làm phép lạ, nhưng chính các môn đệ “cho dân chúng ăn”. Trình thuật đề cao sự cộng tác tích cực của các môn đệ vào vai trò mục tử của Đức Giê-su.

5. Những con số trong phép lạ

Cuối trình thuật phép lạ bánh hoá nhiều, Tin Mừng nói trực tiếp đến dân chúng và các môn đệ qua những con số: “Ai nấy đều ăn và được no nê. Người ta thu lại những miếng còn thừa được 12 giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con” (14,20-21). Quyền năng của Đức Giê-su tỏ lộ cách gián tiếp qua các chi tiết liên quan đến đám đông và các môn đệ: “Mọi người ăn no nê”, “dư 12 giỏ đầy” với một số lượng lớn người ăn: “5.000 người đàn ông không kể đàn bà và trẻ.”

Độc giả có thể liên tưởng con số 12 với 12 Tông Đồ. 12 giỏ bánh có hai đặc tính: “đầy” và “dư”. “Dư” không phải là thứ bỏ đi mà là thứ còn lại sau khi đã ăn và ăn no nê. Trong mạch văn, “12 giỏ đầy bánh còn dư” vừa là bằng chứng hiển nhiên về phép lạ bánh hoá nhiều, vừa ám chỉ sự dồi dào của lương thực Đức Giê-su ban tặng, vừa gợi ý đến sự cộng tác của Nhóm 12 Tông Đồ vào vai trò mục tử của Đức Giê-su là Đấng có khả năng làm no thoả khát vọng của con người.

Bài Tin Mừng kết thúc với con số 5.000 người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con (14,21). Chi tiết này cho biết cụ thể “các đám đông” từ “các thành phố” (14,13), đi theo Đức Giê-su là bao nhiêu. Con số: “hơn 5.000 thực khách” tạo ra tương phản mạnh mẽ trong phép lạ bánh hoá nhiều. Một bên là “nơi hoang vắng”, không có người qua lại, không có của ăn, một bên là “một bữa ăn no thoả” cho một đám đông hơn 5.000 người. Đồng thời, tạo nên tương phản giữa “ít” (5 chiếc bánh và 2 con cá) và “nhiều”, dồi dào, phong phú (hơn 5.000 người ăn no nê và còn dư 12 giỏ đầy).

Ẩn phía sau câu chuyện, Đức Giê-su là nhân vật chính của bài Tin Mừng, tuy nhiên, trong cách kể chuyện, tác giả đề cao sáng kiến tìm gặp Đức Giê-su của đám đông, và đề cao vai trò của các môn đệ. Sau một thời gian thi hành sứ vụ rao giảng và chữa lành, đoạn văn Mt 14,13-21 cho thấy phần nào sự thành công của Đức Giê-su. Cụ thể là đám đông dân chúng tự nguyện tìm đến với Người và các môn đệ đã tích cực cộng tác với Người trong sứ vụ mục tử.

Đặc biệt bài Tin Mừng hôm nay không nói đến nội dung giáo huấn của Đức Giê-su, Người không giảng dạy trong đoạn Tin Mừng này. Trình thuật đề cao nhu cầu của dân chúng: “tìm đến” và “gặp gỡ” Đức Giê-su, để được Người chữa lành và được Người nuôi dưỡng bằng lương thực tâm linh dồi dào phong phú mà phép lạ bánh hoá nhiều là hình ảnh.

6. Kết luận

Đầu bài Tin Mừng, dân chúng chủ động đến với Đức Giê-su, giữa bài Tin Mừng các môn đệ giữ vài trò quan trọng trong việc cho dân chúng ăn. Cuối bài Tin Mừng các môn đệ và dân chúng được đề cập đến: “Ai nấy đều ăn và được no nê.” Những gì được thuật lại trong bài Tin Mừng Mt 14,13-21 cho thấy sự trưởng thành của đám đông và của các môn đệ. Đám đông dân chúng nhanh chóng loan tin cho nhau và cùng nhau tìm đến với Đức Giê-su. Nhóm các môn đệ đã giữ vai trò chủ động khi họ đề nghị Đức Giê-su tìm cách cho dân chúng ăn. Đức Giê-su đã đề cao sự cộng tác của các môn đệ khi Người nói: “Chính anh em hãy cho họ ăn”. Các môn đệ đã góp phần đắc lực vào sứ vụ mục tử của Đức Giê-su.

Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su giữ vai trò thụ động, nhưng trình thuật cho thấy Người đã thành công trong sứ vụ rao giảng và Người đang thi hành sứ vụ mục tử qua những hành động yêu thương, chăm sóc và nuôi dưỡng đàn chiên. Tuy nhiên, sự chủ động của các nhân vật “đám đông dân chúng” và “các môn đệ” làm cho các nhân vật này trở thành nhân vật chính của đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21. Độc giả có thể rút ra hai lời mời gọi từ bản văn:

-   Tin Mừng Mt 14,13-21 mời gọi độc giả hãy như đám đông: Loan tin cho cho mọi người biết Đức Giê-su để trở thành “các đám đông” từ “các thành phố” cùng nhau tìm đến với Người. Nhờ đó, chúng ta được gặp gỡ Người, được ở với Người, được chia sẻ, được chữa lành và được Người nuôi dưỡng.

-   Tin Mừng Mt 14,13-21 mời gọi độc giả hãy như các môn đệ: Tích cực tham gia vào sứ vụ mục tử của Đức Giê-su. Chính Đức Giê-su làm phép lạ bánh hoá nhiều, nhưng Người muốn các môn đệ “hãy cho dân chúng ăn”, hãy phân phát bánh và cá cho mọi người. Độc giả được mời gọi trở thành những người cộng tác viên để tiếp nối sứ vụ của Đức Giê-su./.


Ngày 24 tháng 07 năm 2011.

19/07/2011

Kỹ thuật hành văn: “Ý nghĩa câu chuyện” bộc lộ qua “cách thức kể chuyện” (Lc 7,36-50)




Bản văn Lc 7,36-50 (NPD/CGKPV)

36 Có người thuộc nhóm Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su dùng bữa với mình. Đức Giê-su đến nhà người Pha-ri-sêu ấy và vào bàn ăn.
37 Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm.
38 Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.
39 Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: "Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!"
40 Đức Giê-su lên tiếng bảo ông: "Này ông Si-môn, tôi có điều muốn nói với ông!" Ông ấy thưa: "Dạ, xin Thầy cứ nói."
41 Đức Giê-su nói: "Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục.
42 Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?"
43 Ông Si-môn đáp: "Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn." Đức Giê-su bảo: "Ông xét đúng lắm."
44 Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Si-môn: "Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau.
45 Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi.
46 Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi.
47 Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít."
48 Rồi Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi."
49 Bấy giờ những người đồng bàn liền nghĩ bụng: "Ông này là ai mà lại tha được tội?"
50 Nhưng Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an."

1. Dẫn nhập

Cách sắp xếp các chi tiết trong bài Tin Mừng Lc 7,36-50 là một ví dụ về ý nghĩa câu chuyện được chuyển tải qua cách thức kể chuyện. Qua cách kể chuyện, tác giả có thể muốn nói với độc giả rằng: Những giá trị, những điều được đánh giá cao và được nhiều người chấp nhận theo tiêu chuẩn trong xã hội, thì Đức Giê-su lại đảo ngược thang giá trị đó. Ngược lại, những điều mà tiêu chuẩn chung xem là không thích hợp, không xứng đáng thì Đức Giê-su lại đánh giá cao theo một chuẩn mực khác. Trình thuật có khả năng chuyển tại được thông điệp này nhờ cách sắp xếp các tình tiết trong câu chuyện. Trong đoạn văn Lc 7,36-50, nếu theo thứ tự thời gian thì những gì đã xảy ra trải qua 6 bước:

1. Người Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su đến dùng bữa.
2. Ông ta bỏ qua những việc làm để bày tỏ sự đón tiếp Đức Giê-su.
3. Một phụ nữ tội lỗi đi vào và thực hiện những cử chỉ tiếp đón lạ thường.
4. Người Pha-ri-sêu lên tiếng phản đối.
5. Đức Giê-su không đồng ý với ông ta và Người giải thích.
6. Người phụ nữ được tha tội vì yêu mến nhiều.

Chúng ta cùng tìm hiểu cách thức kể chuyện trong đoạn văn Lc 7,36-50 để xem tác giả kể theo thứ tự nào và thông điệp của bản văn là gì?

2. Phần đầu câu chuyện (Lc 7,36-39)

Tác giả không kể câu chuyện theo thứ tự thời gian qua các bước như trên. Bước thứ 2: “Người Pha-ri-sêu không đón tiếp Đức Giê-su” được kể ở cuối câu chuyện để so sánh hai ý tưởng: “những gì người phụ nữ đã làm” và “những gì ông Si-môn đã không làm”. Cách kể chuyện bỏ qua bước thứ 2 ở đầu câu chuyện làm cho độc giả, khi đọc phần đầu câu chuyện, sẽ đánh giá cao người Pha-ri-sêu và đồng ý với nhận định của ông ấy về người phụ nữ tội lỗi.

Chuyện kể như sau: “Có người thuộc nhóm Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su dùng bữa với mình. Đức Giê-su đến nhà người Pha-ri-sêu và vào bàn ăn” (7,36). Nếu chỉ có thế, thì đây là một người tốt. Người Pha-ri-sêu quý trọng Đức Giê-su và mời Người đến nhà dùng bữa. Đức Giê-su đã “vào bàn ăn” với ông ấy như thể mọi chuyện diễn tiến tốt đẹp.

Tiếp đến, câu chuyện kể về người phụ nữ: “Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (7,37-38). Theo quy ước của xã hội thời đó, người đọc có thể kết luận: Người phụ nữ này không tốt vì là “người tội lỗi trong thành” và đã xử sự không phải phép. Đức Giê-su đang ăn mà lại khóc lóc và làm những hành động bày tỏ tình cảm không bình thường.

Cứ lẽ thường, khi đọc phần đầu câu chuyện, độc giả đồng ý với nhận định của ông Si-môn: Nếu Đức Giê-su là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai: “một người tội lỗi” (7,39). Người đọc có thể đồng ý, vì cho đến lúc này, bản văn cho phép đánh giá ông Si-môn là người tốt. Như thế, cách kể phần đầu câu chuyện làm cho người đọc hiểu rằng: Người Pha-ri-sêu là hiếu khách; còn người phụ nữ là người vừa tội lỗi, vừa làm những hành động chướng tai gai mắt. Nhưng phần sau câu chuyện đã làm đảo lộn hoàn toàn nhận định này.

3. Phần cuối câu chuyện (Lc 7,40-50)

Trong phần cuối câu chuyện (Lc 7,40-50), Đức Giê-su làm đảo lộn mọi thứ. Điều độc đáo trong cách kể chuyện là những thiếu sót của người Pha-ri-sêu mà theo thứ tự thời gian là bước thứ 2 (thuộc phần đầu câu chuyện), thì tác giả lại kể trong phần sau và đặt song song để so sánh “những gì người phụ nữ đã làm” (tiếp đón Đức Giê-su) và “những gì người Pha-ri-sêu không làm” (không tiếp đón Đức Giê-su).

Câu nói của Đức Giê-su có nét châm biếm khi Người nói với Si-môn: “Ông thấy người phụ nữ này chứ?” Trong khi ông ta đang chăm chú nhìn người phụ nữ và đánh giá chị ta, hơn nữa sự hiện diện của người phụ nữ làm ông ấy khó chịu và trách luôn cả Đức Giê-su, thì Đức Giê-su lại hỏi: “Ông thấy người phụ nữ này chứ?” Thực ra, dường như có cái gì đó nơi người phụ nữ mà ông Si-mon đã không thấy, không nhận ra, không biết. Đồng thời, câu hỏi: “Ông thấy người phụ nữ này chứ?” cũng dành cho độc giả. Tác giả mời gọi độc giả hãy chú ý để “thấy” người phụ nữ, hãy “nhìn kỹ lại” những gì chị ta đã làm để đánh giá đúng hành động của chị. Chính Đức Giê-su đã chỉ ra cho ông Si-môn và độc giả cách hiểu đúng về “hành động” của người phụ nữ và hiểu đúng về “con người” của chị.

Sau khi kể dụ ngôn tình thương của hai con nợ được tha (Lc 7,41-43) để làm cơ sở cho cách lượng giá, Đức Giê-su so sánh từng điểm một giữa “những gì người phụ nữ đã làm cho Người” và “những gì ông Si-môn đã không làm cho Người.” Nhận định của Đức Giê-su đã lật ngược cách đánh giá bình thường theo tiêu chuẩn xã hội và tiêu chuẩn tôn giáo thời đó. Người nói với ông Si-môn: “Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi” (7,44-46).

Kiểu so sánh mạnh mẽ của Đức Giê-su qua cách thức kể chuyện đã làm đảo lộn thang giá trị. Bởi vì phần đầu bản văn cho phép người đọc nghĩ tốt về người Pha-ri-sêu thì đến lúc này, ông ấy không còn là người hiếu khách nữa và bị Đức Giê-su khiển trách. Còn người phụ nữ, phần đầu câu chuyện làm cho người đọc nghĩ đây là người phụ nữ không tốt, thì đến lúc này độc giả biết rằng chị ấy thực sự là người hiếu khách, người đã đón tiếp Đức Giê-su đúng mức và hành động của chị được Đức Giê-su đánh giá cao.

Đức Giê-su kết luận: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều” (Lc 7,47). Đức Giê-su không xí xóa hay xem nhẹ tội của chị ta vì Người nói rõ: “Tội của chị ấy rất nhiều”. Điều quan trọng là cách hành động của chị mà trước đây người Pha-ri-sêu và cả độc giả đánh giá là chướng mắt thì Đức Giê-su lại đề cao, bởi vì hành động của chị được hiểu như là cách bộc lộ tình yêu chân chính, cách bày tỏ lòng sám hối quay trở về. Vì thế, Đức Giê-su tuyên bố: “Tội của chị đã được tha rồi” (Lc 7,48).

Ý nghĩa của bài Tin Mừng là chúng ta (độc giả) nên thận trọng với những đánh giá về người khác theo tiêu chuẩn giá trị trong xã hội mình đang sống, kể cả những tiêu chuẩn tôn giáo có sẵn, bởi vì người Pha-ri-sêu đã đánh giá thấp người phụ nữ tội lỗi theo văn hóa tôn giáo thời đó. Bằng cách sắp xếp các tình tiết, Đức Giê-su trong trình thuật đã đảo ngược cách đánh giá của xã hội đương thời để làm nổi bật lên sự lượng giá của Thiên Chúa: Lấy tình yêu và sự sống làm tiêu chuẩn, đồng thời đề cao sự hối cải quay trở về của con người. Ngày nay, nhiều lúc độc giả cũng dựa vào những tiêu chuẩn có sẵn để đánh giá người khác. Trình thuật Lc 7,36-50 mời gọi chúng ta biết cách nhìn và cách lượng giá theo đề nghị của Đức Giê-su.

4. Kết luận

Chỉ cần thay đổi thứ tự trong cách kể chuyện, tác giả đã làm nên một trình thuật độc đáo, tạo nên sức mạnh cho bản văn và chuyển tải được ý nghĩa câu chuyện.

Nếu theo thứ tự thời gian thì câu chuyện gồm các bước:
Phần đầu câu chuyện:
1. Người Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su đến dùng bữa.
2. Ông ta không làm cử chỉ tiếp đón tiếp Đức Giê-su.
3. Một phụ nữ tội lỗi đi vào và làm những hành động không bình thường theo cách lượng giá của nhiều người.
4. Người Pha-ri-sêu lên tiếng phản đối.
Phần cuối câu chuyện:
5. Đức Giê-su không đồng ý với ông ta và Người giải thích.
6. Người phụ nữ được tha tội vì yêu mến nhiều.

Nhưng tác giả kể câu chuyện theo thứ tự sau:
Phần đầu câu chuyện:
1. Người Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su đến dùng bữa.
2. Không kể bước thứ hai này.
3. Một phụ nữ tội lỗi đi vào và làm những cử chỉ xem ra chướng tai gai mắt.
4. Người Pha-ri-sêu lên tiếng phản đối.
Phần cuối câu chuyện:
5 + 2. Đức Giê-su không đồng ý với ông Si-môn và Người giải thích. Tác giả kể bước thứ 2 trong phần giải thích này và đặt song song “cử chỉ đón tiếp của người phụ nữ” với “thiếu sót của ông Si-môn”. Cách kể chuyện này đề cao hành động của người phụ nữ và làm lộ ra điểm yếu của người Pha-ri-sêu.
6. Người phụ nữ được tha tội vì yêu mến nhiều.

Bằng cách đảo lộn thứ tự câu chuyện theo thời gian (kể bước thứ hai trong phần sau), tác giả đã vẽ lên một bức tranh độc đáo với những tương phản mạnh mẽ, vừa châm biếm, vừa hài hước, vừa chuyển tải được ý tưởng thần học quan trọng của bản văn.

Giáo huấn của Đức Giê-su mời gọi độc giả thận trọng khi đánh giá người khác dựa trên những tiêu chuẩn và những giá trị có sẵn trong xã hội. Đức Giê-su đảo lộn cách suy nghĩ theo những giá trị sẵn có để đề cao Tình yêu. Đó là tình yêu từ cả hai phía: Tình yêu từ phía con người, vì người phụ nữ tội lỗi đã yêu mến nhiều nên được tha nhiều. Tình yêu từ phía Thiên Chúa, vì Đức Giê-su đã đón nhận và đánh giá cao cách bày tỏ tình yêu chân chính của chị ấy./.

Ngày 19 tháng 07 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com


10/07/2011

Bản văn Kinh Thánh




Dưới đây là một số đường link các trang web cung cấp 
BẢN VĂN KINH THÁNH tiếng gốc Híp-ri, Hy Lạp và các bản dịch.
Các trang web này giúp đọc bản văn và học hỏi Kinh Thánh.


I. BẢN VĂN TÂN ƯỚC HY LẠP

II. BẢN VĂN CỰU ƯỚC HÍP-RI VÀ HY LẠP (BẢN LXX)

III. CÔNG CỤ HỌC HỎI KINH THÁNH ONLINE
Công cụ học hỏi Kinh Thánh. [biblos].




17/06/2011

Mt 5,43-48: “Hãy yêu kẻ thù”, nhưng “kẻ thù” là ai và “yêu” như thế nào?



Nội dung

Dẫn nhập
1. Luật “yêu người thân cận và ghét kẻ thù” 
2. “Yêu” và “ghét” trong Tin Mừng Nhất Lãm 
3. “Kẻ thù” là ai?
a. “Kẻ thù” (ekhthros) có thể là người nhà
b. “Kẻ thù” (ekhthros) là quân thù, quân đối nghịch
c. “Kẻ thù” (ekhthros) là quỷ
4. “Yêu kẻ thù” là yêu ai?
a. Yêu thương kẻ chống lại niềm tin của mình
b. Yêu thương kẻ thù nghịch vì xung đột quyền lợi
5. “Yêu kẻ thù” là yêu như thế nào?
a. “Yêu kẻ thù” là yêu người người thân cận
b. “Yêu kẻ thù” là hoạ lại tình yêu của Cha trên trời 
c. “Yêu kẻ thù” là tin tình yêu sẽ chiến thắng hận thù
d. “Yêu kẻ thù” là cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình   
e. “Yêu kẻ thù” là hành động đức tin
Kết luận


26/03/2011

Lc 15,1-3.11-32: Dụ ngôn người cha nhân hậu và hai người con. Ai là con thực sự? Ai là người làm công?


Bản văn Lc 15,1-3.11-32 (NPD/CGKPV)

1 Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng.
2 Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: "Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng."
3 Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:
[4-10]
11 Rồi Đức Giê-su nói tiếp: "Một người kia có hai con trai.
12 Người con thứ nói với cha rằng: "Thưa cha, xin cho con phần tài sản con được hưởng. Và người cha đã chia của cải cho hai con.
13 Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.
14 "Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu,
15 nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo.
16 Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho.
17 Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: "Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói!
18 Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha,
19 chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.
20 Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha.
Anh còn ở đàng xa, thì người cha đã trông thấy.
Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để.
21 Bấy giờ người con nói rằng: "Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa.
22 Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: "Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay, xỏ dép vào chân cậu,
23 rồi đi bắt con bê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!
24 Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy. Và họ bắt đầu ăn mừng.
25 "Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa,
26 liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì.
27 Người ấy trả lời: "Em cậu đã về, và cha cậu đã làm thịt con bê béo, vì gặp lại cậu ấy mạnh khoẻ.
28 Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ.
29 Cậu trả lời cha: "Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè.
30 Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng!"
31 Nhưng người cha nói với anh ta: "Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con.
32 Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy."



Tìm hiểu Lc 15,1-3.11-32


Nội dung

Dẫn nhập
1. Đức Giê-su kể dụ ngôn cho ai và để làm gì?
2. Vị trí của ba dụ ngôn
3. “Con thứ đi hoang” xin được coi như “người làm công”
4. “Con cả ở nhà” sống như “người làm công”
5. Áp dụng dụ ngôn vào nhân vật trong trình thuật
6. Áp dụng dụ ngôn cho độc giả
Kết luận



Dẫn nhập

Đoạn Tin Mừng Lc 15,1-3.11-32 đã từng được gọi là dụ ngôn đứa con hoang đàng. Nhưng bản văn đề cao quyết định quay trở về của người con này hơn là sự hoang đàng của anh ta. Hiện nay người ta thường gọi là dụ ngôn người cha nhân hậu, nhưng có lẽ bản văn nhấn mạnh hơn đến sự không nhân hậu của người con cả, là người đã trách cha và miệt thị em mình. Có thể dụ ngôn trên đây có ý nghĩa rất phong phú liên quan đến cách sống và cách xử sự của cả ba nhân vật: Người cha và hai người con. Dường như nhân vật nổi bật của dụ ngôn là người anh cả. Bởi vì trong câu chuyện, những nhân vật đang nghe Đức Giê-su kể dụ ngôn có cách sống và cách xử sự giống như người con cả.

Sự phong phú về ý nghĩa của bản văn làm cho việc đặt một tựa đề thường là rất khó. Một câu chuyện mô tả ba cách nhìn cuộc đời khác nhau của ba nhân vật thì không thể tóm tắt chỉ trong dăm ba chữ. Có lẽ nên tìm hiểu ý nghĩa của dụ ngôn này trong bối cảnh văn chương của nó, để từ đó có thể thưởng thức, lắng nghe và sống với dụ ngôn hơn là loay hoay tìm cách đặt một tựa đề.

1. Đức Giê-su kể dụ ngôn cho ai và để làm gì?

Tin Mừng Lu-ca chương 15 được gọi là các dụ ngôn về lòng thương xót, chương này gồm một lời mở đầu và ba dụ ngôn. Lời mở đầu có tầm quan trọng đặc biệt, vì đó là chìa khoá để hiểu Đức Giê-su nói dụ ngôn trong bối cảnh nào, có ẩn ý gì và nói cho ai. Người thuật chuyện cho biết bối cảnh và lý do Đức Giê-su kể các dụ ngôn ở Lc 15,1-3: “1Các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giê-su để nghe Người giảng. 2Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: ‘Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.’ 3Đức Giê-su mới kể cho họ dụ ngôn này:…”

Lc 15,1-3 cho biết nhiều chi tiết liên quan đến lý do Đức Giê-su kể các dụ ngôn. Trước hết là những người thu thuế và những người tội lỗi đến với Đức Giê-su để nghe Người giảng. Tiếp đến là lời xầm xì của những người Pha-ri-sêu và các kinh sư: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng.” Lời xầm xì này cho biết thêm hai yếu tố mới. Không chỉ là việc những người thu thuế và tội lỗi đến với Đức Giê-su và nghe Người giảng, mà chính Đức Giê-su tiếp đón họ và ăn uống với họ. Nghĩa là sự đón nhận đến từ hai phía. Về phía Đức Giê-su, Người tiếp đón và ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi. Về phía họ, họ đến với Đức Giê-su để nghe Người giảng.

Trong bối cảnh trên, “Đức Giê-su kể cho họ dụ ngôn:…”. “Họ” – thính giả nghe các dụ ngôn trong bản văn – chính là những người Pha-ri-sêu và các kinh sư. Có thể hiểu thêm là có cả những người thu thuế và những người tội lỗi nữa, vì bản văn nói về họ. Như thế, mục đích việc Đức Giê-su kể dụ ngôn là để giải thích và trả lời cho câu hỏi đặt ra: Tại sao Đức Giê-su và những người thu thuế và tội lỗi lại đến với nhau? Đây là điều mà những người Pha-ri-sêu và các kinh sư cho là chướng tai gai mắt, nên dẫn đến việc xầm xì. Đồng thời, dụ ngôn cũng cho biết thực chất về cách cư xử của họ.

Ngày nay, nhân vật “họ” là bất kỳ ai đọc bản văn. Thực vậy, độc giả mới là thính giả đích thực của câu chuyện, vì bản văn được viết ra cho họ. Độc giả trực tiếp là cộng đoàn Lu-ca cuối thế kỷ I, tiếp đến là độc giả qua mọi thời đại, với tư cách là người đọc bản văn. Vậy, dụ ngôn này có ý nghĩa gì cho độc giả? Câu chuyện này nói gì với độc giả là tất cả chúng ta ngày nay?

2. Vị trí của ba dụ ngôn

Trong Lc 15, Đức Giê-su kể ba dụ ngôn, trong đó, hai dụ ngôn đầu tiên rất ngắn, nói về con chiên đi lạc (Lc 15,4-7) và đồng bạc bị đánh mất (Lc 15,8-10). Hai dụ ngôn này diễn tả tấm lòng của Thiên Chúa dành cho những người lạc lối, qua hình ảnh người mục tử đi tìm cho bằng được chiên lạc và người phụ nữ tìm cho bằng được đồng tiền bị mất. Điều hai dụ ngôn này nhấn mạnh là chính Thiên Chúa đi bước trước để tìm kiếm những gì đã mất. Áp dụng vào bối cảnh câu chuyện thì hai dụ ngôn đầu tiên muốn ám chỉ Đức Giê-su, Người đến để tìm kiếm những con chiên lạc, tìm kiếm những gì đã mất. Cụ thể là Người đến với những người thu thuế và tội lỗi để dẫn họ trở về với Thiên Chúa.

Dụ ngôn thứ ba, tạm gọi là dụ ngôn người cha nhân hậu, dài hơn và ý nghĩa phong phú hơn. Dụ ngôn thứ ba này bổ túc thêm những gì hai dụ ngôn trước chưa diễn tả được. Điểm mới trong dụ ngôn này là chính “con chiên lạc” tự tìm đường trở về với người mục tử, qua việc đứa con hoang đàng quyết định trở về với cha của mình, chứ người cha không đi tìm. Như thế, thay vì đi tìm chiên, đi tìm đồng bạc như trong hai dụ ngôn trước, thì dụ ngôn thứ ba trình bày hoàn cảnh và tâm tư của những người đi lạc. Đi lạc theo cả hai nghĩa: Bỏ nhà đi hoang (người con thứ) và đi lạc ngay tại nhà mình (người con cả), anh ta ở nhà mà sống như người làm công.

Tóm lại, hai dụ ngôn đầu giải thích tại sao Đức Giê-su tiếp đón và ăn uống với phường tội lỗi, dụ ngôn thứ ba giải thích hành động tích cực của những người thu thuế và những người tội lỗi: Họ đến với Đức Giê-su và nghe Người giảng. Dụ ngôn thứ ba còn cho biết thái độ của người cha và đề cao sự tự do của hai người con trong sự lựa chọn của mình.

3. “Con thứ đi hoang” xin được coi như “người làm công”
  
Người con thứ tự quyết định ra đi và tự quyết định trở về sau khi học được bài học quý giá từ cuộc sống. Người cha không ngăn cản con mình ra đi. Đó là cách tốt để người cha huấn luyện con mình có trách nhiệm với lựa chọn của mình. Như thế, nhận ra mình đã lạc đường và can đảm quyết định quay trở về là một bước tiến lớn trong sự trưởng thành nhân cách. Anh ta đã đi một bước dài trong tiến trình tự đào tạo bản thân. Điều anh ta tự nhủ đáng cho người đọc qua mọi thời đại học hỏi: “17Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói! 18Thôi, ta đứng lên, đi về cùng cha và thưa với người: ‘Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha, 19chẳng còn đáng gọi là con cha nữa. Xin coi con như một người làm công cho cha vậy.’ 20Thế rồi anh ta đứng lên đi về cùng cha” (15,17-20).

Hoàn cảnh sống và quyết định của người con thứ là lời mời gọi độc giả hãy học lấy từ cuộc sống, từ những thất bại, những bài học quý giá để làm cho mình trưởng thành hơn. Nhờ học trường đời mà người con thứ đã can đảm làm lại cuộc đời và biết lấy quyết định đúng đắn, không mặc cảm tự ti hay tự tôn, cũng không sợ mất thể diện.

4. “Con cả ở nhà” sống như “người làm công”

Nhân vật phản diện của dụ ngôn người cha nhân hậu là “người con cả”. Thái độ và cách xử sự của anh ta ám chỉ thái độ của những người Pha-ri-sêu và các kinh sư. Lời xầm xì giữa họ với nhau được đặt song song với lời người con cả trách cha mình và nhục mạ em mình: “29Cha coi, đã bao nhiêu năm trời con hầu hạ cha, và chẳng khi nào trái lệnh, thế mà chưa bao giờ cha cho lấy được một con dê con để con ăn mừng với bạn bè. 30Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng” (Lc 15,29-30). Lời trách móc cha (ám chỉ Đức Giê-su trong lời xầm xì ở 15,2) và lời chối bỏ em mình (ám chỉ những người thu thuế và tội lỗi ở 15,1-2) cho thấy người con cả đã không sống “tư cách làm con” và “tư cách làm anh” trong gia đình. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư cũng đang xử sự như người con cả.

Không sống và cư xử như một người con, không đứng ở địa vị con cái, người con cả suy nghĩ và hành động như một đứa ở trong nhà. Từ trước đến bây giờ anh ta không biết đến điều cha anh nói: “Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con” (Lc 15,31).

Người con cả cũng không sống tư cách làm anh vì đã không đón nhận sự trở về của em mình. Anh ta đã phủ nhận tư cách làm anh và hạ thấp em mình khi nói: “Thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo ăn mừng” (15,30). Đó là “thằng con của cha” chứ không phải là “đứa em của con”, một đứa em đáng quý trọng vì đã biết ăn năn hối cải trở về.

Điều trớ trêu và châm biếm trong bản văn là tương phản giữa hai người con: Người con thứ quay trở về chỉ xin được cha xem là “người làm công”, vì nghĩ rằng mình không xứng đáng “làm con”, thì người con thứ lại được hưởng trọn vẹn quyền “làm con” qua các biểu tượng: Mặc áo đẹp, đeo nhẫn, đi dép và dự tiệc mừng (15,22-23). Ngược lại người anh cả tự cho mình là “người con gương mẫu”, đã có công “hầu hạ” cha trong nhiều năm, anh ta lại sống và suy nghĩ “như người làm công”, “như người làm thuê”, “như đứa ở” chứ không phải là “người con thực sự”.

Tình trạng của người con cả trầm trọng hơn nhiều so với việc bỏ nhà đi hoang của người con thứ. Bởi vì người con cả ở nhà với cha nhưng không sống tư cách làm con mà anh ta lại không biết điều ấy, nghĩa là vẫn nghĩ mình là đứa con ngoan và hiếu thảo.

5. Áp dụng dụ ngôn vào nhân vật trong trình thuật

Người con cả tưởng mình là con cái trong nhà, nhưng thực ra là không phải. Cũng vậy, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư tưởng mình thuộc về Thiên Chúa, làm công việc của Thiên Chúa, phục vụ Thiên Chúa, nhưng thực sự không phải. Họ đang đi ngược lại ý định của Thiên Chúa khi chống lại Đức Giê-su.

Sự tương phản giữa các nhân vật: “con cả – con thứ”, “những người Pha-ri-sêu và các kinh sư – những người thu thuế và những người tội lỗi” song song với nhau. Bên ngoài, người con cả ở nhà là đứa con ngoan, chăm lo hầu hạ cha nhưng thực chất bên trong anh ta là đứa ở. Bên ngoài, người con thứ bỏ nhà đi hoang, không nhận ra lòng thương xót của cha, nhưng tự trong lòng, anh đã biết hối cải quay về. Như thế người con đi hoang trở về mới là “người con đích thực”. Mạch văn cho phép hiểu: Những người thu thuế và những người tội lỗi sám hối trở về với Thiên Chúa mới thực sự là con cái Thiên Chúa. Còn những người Pha-ri-sêu và các kinh sư là những người làm thuê.

Liệu những người Pha-ri-sêu có hiểu và có nhận ra sự trớ trêu này qua dụ ngôn không? Bản văn không cho độc giả biết, vì dụ ngôn kết cách đột ngột với lời dạy của người cha: “31Con à, lúc nào con cũng ở với cha, tất cả những gì của cha đều là của con. 32Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy” (15,31-32). Dụ ngôn kết dở dang ở đây để lại nhiều câu hỏi:

Người anh cả phản ứng thế nào trước lời dạy của cha mình? Liệu lời giáo huấn này có làm người con cả thay đổi lập trường để biến tức giận thành niềm vui và trở lại làm con cái trong nhà hay không? Liệu người anh có đổi cách suy nghĩ của người nô lệ để sống và ứng xử với cha với tư cách là con và đón nhận em mình với tư cách là anh hay không?

Khi áp dụng dụ ngôn cho những người Pha-ri-sêu và các kinh sư, độc giả biết câu trả lời cho những câu hỏi trên là “KHÔNG”, bằng chứng là trong phần tiếp của Tin Mừng, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư đã đeo đuổi cho đến cùng việc chống đối Đức Giê-su và họ đã góp phần vào việc giết chết Đức Giê-su trên thập giá.

6. Áp dụng dụ ngôn cho độc giả

Những điều trên đây là diễn tiến trình thuật trong Tin Mừng, điều quan trọng mà bản văn nhắm tới là quyết định của độc giả, vì bản văn được viết ra cho độc giả. Ở đây là độc giả của cộng đoàn Lu-ca cuối thế kỷ I và cũng độc giả qua mọi thời đại. Độc giả nghĩ gì và quyết định thế nào sau khi đọc trình thuật. Thiết nghĩ độc giả có thể rút ra ba bài học từ câu chuyện: 

1) Bài học nơi người con thứ. Dám quyết định, dám ra đi, dám sống hết mình, dám nhìn nhận sự thật về mình, dám nhận trách nhiệm về sự lựa chọn của mình. Đáng phục hơn cả là dám đứng lên, dám làm lại cuộc đời, dám quay lưng lại với quá khứ, dám hối cải và trở về để sống trọn vẹn tư cách làm con trong tình yêu thương của cha mình. Trong trình thuật, việc những người thu thế và tội lỗi “đến với Đức Giê-su và nghe Người giảng” (15,1) được ví như là người con thứ đã can đảm hối cải trở về. Vậy, độc giả đang ở giai đoạn nào trong hành trình tìm kiếm của người con thứ?

2) Bài học từ người anh cả. Có bao giờ chúng ta nghĩ mình là “con cái trong nhà” mà thực sự đang sống như “người làm công” hay không? Trong tương quan với anh chị em mình, làm thế nào để đón nhận và cùng chia sẻ trách nhiệm với anh chị em mình chứ không dùng kiểu nói của người con cả: “Thằng con của cha đó”. Liệu lời dạy của người cha có làm cho độc giả nhận ra sự thật trong tương quan với Cha trên trời và với anh chị em mình không?

3) Bài học nơi cách xử sự của người cha. Có nhiều điều để học hỏi nơi người cha về cách giải quyết những vấn đề phức tạp và tế nhị  trong cuộc sống. Có thể nói, khởi đầu dụ ngôn, người cha có hai người con, nhưng trong thực tế lại không có đứa con nào cả. Một đứa thì đi hoang, một đứa thì sống ở nhà với cha nhưng lại sống như một người làm công chứ không phải là con. Làm thế nào để vừa tôn trọng tự do của đứa con muốn ra đi, vừa biết chỉ dạy cho đứa con ở lại về cách thức làm con? Bản văn mời gọi các bậc cha mẹ – cũng như những người có trách nhiệm trên người khác – biết áp dụng cách giáo dục của người cha: Dùng tình thương để cảm hoá và tôn trọng sự tự do để giáo dục sự tự do. Nhờ đó con người có khả năng lấy những quyết định đúng đắn cho mình.

Cả ba bài học trên được trao vào tay người đọc là tất cả chúng ta. Câu chuyện vẫn chỉ là câu chuyện, dụ ngôn vẫn mãi mãi là dụ ngôn. Bản văn luôn là những gợi ý, những đề nghị chứ không trả lời thay cho chúng ta.

Kết luận

Trình thuật mở đầu (Lc 15,1-3) và dụ ngôn người cha nhân hậu với hai người con (Lc 15,11-32) vẽ lên một bức tranh với nhiều màu sắc mạnh mẽ có khả năng dẫn người đọc đến suy tư và nhận ra chính mình trong các nhân vật ấy.

Phần mở đầu (15,1-3) và phần dụ ngôn (15,11-32) soi sáng cho nhau và nối kết chặt chẽ với nhau. Đứa con hoang đàng sám hối trở về là hình ảnh của những người thu thuế và những người tội lỗi đến với Đức Giê-su và nghe Người giảng dạy. Cách xử sự của người con cả là hình ảnh của những người Pha-ri-sêu và các kinh sư. Họ tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa, nhưng khi chống đối và bách hại Đức Giê-su, họ đã lạc đường và không sống tư cách làm con Thiên Chúa nữa. Tất cả những tình tiết trong toàn bộ trình thuật được gửi đến độc giả như một lời mời gọi độc giả đọc ra được ý nghĩa của câu chuyện.

Ước mong độc giả thưởng thức được những chi tiết độc đáo trong bản văn, với những nét đẹp, nét tương phản, nét châm biếm, cùng với những lời trách móc và sự hiểu lầm của các nhân vật… Nhờ việc sống với bản văn và suy niệm dụ ngôn, người đọc sẽ được biến đổi để dần dần sống trọn vẹn tư cách làm con và xây dựng tình anh em nhờ sự hối cải và trở về với Tình Yêu đích thực của Cha trên trời./.

Ngày 26 tháng 03 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.  

22/03/2011

Mt 23,1-12: “Lời nói và việc làm” – “gương sáng và gương mù”


Bản văn Mt 23,1-12 (NPD/CGKPV)

1 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng:
2 "Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy.
3 Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm.
4 Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào.
5 Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài.
6 Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường,
7 ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là "ráp-bi".
8 "Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là "ráp-bi", vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau.
9 Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời.
10 Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Ki-tô.
11 Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em.
12 Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.



Nội dung

1. Tóm lược ý chính đoạn văn Mt 23,1-12
2. “Nói” và “làm”
3. “Gương sáng” và “gương mù”
4. Kết luận



1. Tóm lược ý chính đoạn văn Mt 23,1-12

Bài Tin Mừng Mt 23,1-12 gồm hai phần. Phần đầu nói về việc các kinh sư và những người Pha-ri-sêu “nói” mà không “làm”. Tuy vậy, Đức Giê-su dặn dân chúng và các môn đệ là đừng “làm theo” những gì “họ làm” nhưng “hãy làm” và “hãy giữ” những gì “họ dạy” theo luật Mô-sê (23,2-4). Tiếp đến Đức Giê-su làm lộ ra sự thật bên trong của những gì xem ra tốt đẹp bên ngoài: Đeo hộp kinh lớn, tua áo thật dài, ngồi chỗ danh dự trong đám tiệc và trong hội đường. Những điều này tự nó không xấu. Nhưng khi Đức Giê-su có ý trách họ giả hình, Người đã làm lộ ra sự thật trong lòng họ, sự thật này không thể thấy bằng mắt.

Phần thứ hai, Đức Giê-su dựa trên những gì các kinh sư và những người Pha-ri-sêu đã làm để giáo huấn về cách sống của người môn đệ trong tương quan với quyền bính. Trong ý hướng thần học và tâm linh, người môn đệ của Đức Giê-su chỉ có một Cha là Thiên Chúa, chỉ có một Thầy là Đức Giê-su, chỉ có một vị lãnh đạo là Đức Ki-tô, còn tất cả là anh em với nhau. Điểm giáo huấn này có ý nghĩa nền tảng cho đời sống của người tin trong tương quan với Thiên Chúa. Cho dù theo văn hoá khác nhau và với các chức vụ khác nhau trong xã hội, chúng ta gọi nhau bằng danh xưng nào đi nữa (gọi người khác là thầy, là cha, là ông…) thì giáo huấn của Đức Giê-su vẫn luôn có giá trị. Người mời gọi chúng ta thiết lập tương quan sâu xa trong niềm tin với Thiên Chúa là Cha duy nhất, với Đức Giê-su là vị Thầy, vị lãnh đạo, vị mục tử duy nhất, và với nhau. Trên nền tảng đức tin và lòng mến, tất cả chúng ta là anh em với nhau, là con cùng một Cha trên trời.

Kết thúc bài tin mừng Đức Giê-su dùng hình ảnh đối lập: “người làm lớn” – “người phục vụ”, “kẻ tôn mình lên” – “kẻ hạ mình xuống”. Đây là kiểu nói đối lập để làm nổi bật tinh thần sống của người môn đệ. Không nên áp dụng cách ngây thơ theo nghĩa: “Phục vụ để được làm lớn”, hay “hạ mình để được nâng lên”. Nếu áp dụng như thế, chúng ta không khác gì các kinh sư và những người Pha-ri-sêu. Tuy phương tiện khác nhưng mục đích lại giống họ: Thích được làm lớn và thích ngồi chỗ nhất. Có lẽ nên hiểu là, qua kiểu nói trên, Đức Giê-su muốn các môn đệ sống đúng vị trí của mình trong tương quan mới mẻ với Thiên Chúa, với Đức Giê-su và với nhau. Trong đời sống mới, người tin được mời gọi noi gương Đức Giê-su: Phục vụ và hạ mình đến nỗi bằng lòng chịu chết trên thập giá vì yêu thương.

Qua những ý tưởng trên của bài Tin Mừng xin chia sẻ hai ý tưởng: 1) “Nói” và “làm”, 2) “Gương sáng” và “gương mù”.

2. “Nói” và “làm”

Chúng ta thường nghe nói: “Nói” phải đi đôi với “làm”. Chỉ những ai làm theo những gì mình nói, lúc đó chúng ta mới nghe theo lời dạy bảo của Người ấy. Lý tưởng là như thế, nhưng trong Mt 23,2-3, Đức Giê-su đi xa hơn một bước. Người phân biệt giữa “nói” và “làm”. Không cần chờ đến “nói” và “làm” ăn khớp với nhau mới nghe theo sự chỉ dạy của người khác. Sự phân biệt giữa “nói” và “làm” đòi hỏi sự sáng suốt và biết cách lượng giá để không đồng hoá “lời nói” với “việc làm”. Cũng không vội kết luận rằng: Người nói sống chưa tốt (trường hợp các kinh sư và những người Pha-ri-sêu), thì tất cả những gì họ nói và giảng dạy đều không có giá trị, không đáng để được lắng nghe và thực hành. Ngược lại, Đức Giê-su mời gọi dân chúng, các môn đệ và độc giả biết phân biệt giữa “lời nói đúng” và “lời nói sai”, phân biệt giữa “việc làm đúng” và “việc làm sai”.

Theo giáo huấn của Đức Giê-su: “Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm” (Mt 23,2-3). Đây là trường hợp “nói đúng” - “làm sai”. “Nói đúng” nên vẫn phải lắng nghe và tuân giữ. Đức Giê-su nhấn mạnh bằng hai động từ “làm” (poieô) và “giữ” (têreô), còn động từ “nghe” (akouô) không nói đến. Bởi vì, có thể “nghe” mà không “làm” và không “giữ”. Nhưng nếu đã “làm” và “giữ” thì chắc chắn là có nghe và hiểu để biết phải làm gì và giữ điều gì. Ngược lại, Đức Giê-su cũng muốn mọi người nhận ra việc “làm sai” để không làm” (poieô) theo những điều sai ấy.

Như thế, Đức Giê-su dạy dân chúng, các môn đệ và độc giả hai điều: (1) “Làm” và “giữ” những gì người khác “nói đúng”, (2) “Không làm”, “không noi theo” những gì người khác “làm sai”. Ở cấp độ cao hơn, Đức Giê-su mời gọi thính giả nhận ra sự thật phía sau lời nói và hành động để xác định: “nói đúng” hay “nói sai”, “làm đúng” hay “làm sai” để từ đó có cách ứng xử thích hợp.

Trong thực tế, không hề đơn giản để biết được điều này. Có thể xảy ra trường hợp “nói đúng” hay “làm đúng” mà dư luận lại lầm tưởng là “nói sai” hay “làm sai”. Các kinh sư và những người Pha-ri-sêu “đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài” (Mt 23,5) có thể được dân chúng đánh giá là đạo đức và yêu mến Lời Chúa. Ngược lại, việc Đức Giê-su ăn uống với những người thu thuế và những kẻ tội lỗi” (Mt 9,10) lại bị những người Pha-ri-sêu cho là “làm sai”, “làm điều chướng”. 

Nhiều lúc chúng ta vẫn chờ đến lúc “lời nói” và “việc làm” của người giảng dạy phải ăn khớp với nhau thì mới nghe. Nhưng xét cho cùng, giữa “nói” và “làm” luôn có một khoảng cách. Trường hợp các kinh sư và những người Pha-ri-sêu là “nói” và “làm” không ăn khớp nhau. Nhưng cũng có trường hợp “biết đúng”, “nói đúng” và “ước ao làm đúng” nhưng vì con người yếu đuối nên vẫn chưa làm được, nghĩa là “việc làm” vẫn chưa ăn khớp với “lời nói”. Nếu chờ đến lúc “lời nói” và “việc làm” hoàn toàn ăn khớp với nhau mới “nghe theo” thì e rằng chờ cả đời cũng chưa học hỏi được gì, chỉ vì không thể xoá bỏ khoảng cách giữa “lời nói” và “việc làm”, giữa “ước mơ” và “hiện thực”, giữa “lý thuyết” và “thực hành”.   

Giáo huấn của Đức Giê-su sâu xa và mang tính thực tiễn. Điều quan trọng là lượng giá để biết điều gì tốt, điều gì không tốt, đều gì đúng và điều gì sai. Phân biệt lời nào là “lời nói đúng”, lời nào là “lời nói sai”, phân biệt giữa “việc làm đúng” và “việc làm sai”. Khả năng biện phân này giúp chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều điều mà không vội đánh giá hay xét đoán người khác. “Đúng” hay “sai” cũng có thể học hỏi. “Nói đúng”, “làm đúng” thì học để theo, “nói sai”, “làm sai” thì học để tránh. Tuy nhiên, việc xác định “đúng”, “sai” trong cuộc sống là điều phức tạp và tế nhị, cần uyển chuyển, sáng suốt và luôn luôn nhận định lại theo từng thời điểm. Bởi vì mọi thực lại luôn chuyển biến theo thời gian.

Bài Tin Mừng Mt 23,1-12 có nhiều điều để học hỏi: “học để theo” và “học để tránh”: Học hỏi để cố gắng làm cho “lời nói” đi đôi với “việc làm” bao nhiêu có thể được; học để tránh sự khoe khoang và ham hố quyền cao chức trọng; học để biết sống với nhau như là anh em, phục vụ và nâng đỡ nhau. Học để bước vào tương quan với Thiên Chúa là Cha, học để bước vào tương quan với Đức Giê-su là vị Thầy duy nhất có khả năng đem lại sự sống đời đời cho người tin.

Bản văn mời gọi độc giả học để “biết cách nghe”, “biết cách nhìn”, “biết nhận định” về sự phức tạp của cái gọi là “gương sáng” (làm đúng) và “gương mù” (làm sai).

3. “Gương sáng” và “gương mù”

Thường thì có hai loại gương: “Gương sáng” và “gương mù”, “gương xấu”. Theo nghĩa thông thường “gương sáng” chỉ những việc tốt đẹp để mọi người thấy mà noi theo. Còn “gương mù” là những việc thiên hạ thấy nhưng là những điều không tốt và trở thành gương xấu cho người khác.

Đoạn Tin Mừng Mt 23,1-12 cho thấy vấn đề không đơn giản như vậy. Có những tấm gương bên ngoài xem ra là “gương sáng” nhưng thực sự lại là “gương mù”. Những điều các kinh sư và những người Pha-ri-sêu làm có thể được nhiều người coi là “gương sáng”. Họ đang làm những việc đáng quý, đáng trọng và dân chúng nghĩ là nên làm theo: Đeo hộp kinh, mang tua áo. Họ được người thời đó kính trọng và ngưỡng mộ, nên họ có chỗ danh dự trong đám tiệc và hàng ghế đầu trong hội đường (Mt 23,6).

Những điều mà thiên hạ cho là quý trọng ấy thì Đức Giê-su đã làm lộ ra sự thật trong lòng họ. Thực chất ẩn dấu bên trong bằng một hình thức tốt đẹp bên ngoài. Sự không ăn khớp giữa “ý hướng bên trong” và “việc làm bên ngoài” đã làm cho những công việc “tốt đẹp” ấy trở thành giả hình. Vì họ làm là cốt để cho thiên hạ thấy, để mình được thiên hạ kính trọng (Mt 23,5). Họ thực hành việc đạo đức để tìm hư danh chứ không vì lòng yêu mến và tôn kính Thiên Chúa. Như thế, những việc họ làm thực sự là những tấm gương mù. Gương mù bởi sự “trống rỗng” bên trong đối với Thiên Chúa nhưng lại “đầy dẫy” tham vọng hư danh.

Trình thuật Tin Mừng cho thấy: Để phân biệt đâu là gương sáng đâu là gương mù là điều không đơn giản. Chỉ Đức Giê-su, Đấng biết mọi sự, mới có thể làm lộ ra sự thật bên trong của những hành động xem ra tốt đẹp bên ngoài. Qua đó Người dặn dò đám đông, các môn đệ và độc giả cần thận trọng trong việc nhận định hành động nào là “gương sáng”, việc làm nào là “gương mù”.

Trong thực tế, vấn đề phân biệt như trên là rất tế nhị. Có những hành động được xem là gương mù trước mắt thiên hạ, nhưng thực sự lại là gương sáng. Trở lại câu chuyện Đức Giê-su ăn uống với người tội lỗi (Mt 9,10), hành động này nhìn từ phía những người Pha-ri-sêu là gương mù, gương xấu. Vì theo đánh giá của họ, một bậc thầy mà ăn uống với người tội lỗi là không thể nhấp nhận. Bức xúc trước việc chướng tai gai mắt đó, họ đã hỏi các môn đệ của Đức Giê-su: “Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi như vậy?” (9,11)   

Ngược lại, đối với các môn đệ và người tin, việc Đức Giê-su ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi lại là một “gương sáng”. “Gương sáng” không phải ở trong việc ăn uống với người tội lỗi nhưng là hệ tại ở lòng thương xót của Đức Giê-su đối với họ. Nếu như “người khoẻ không cần đến thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (9,12), thì việc đến với người tội lỗi là sứ mạng của Đức Giê-su và cũng là sứ mạng của các môn đệ và của người tin qua mọi thời đại. Như thế, điều làm cho một hành động trở thành “gương sáng” thực sự là “gương sáng” không phải là những cái bên ngoài có thể thấy được, mà là động lực và ý hướng bên trong không thấy được bằng mắt. Như thế, có trường hợp một “tấm gương” có thể đối với người này là “sáng”, nhưng đối với người khác lại là “mù”. Việc Đức Giê-su đến với người tội lỗi là “gương sáng” cho các môn đệ nhưng lại là “gương mù” đối với những người Pha-ri-sêu.

Hơn nữa, trước một hành động người ta có thể chỉ lượng giá theo khía cạnh tiêu cực của nó. Đức Giê-su đã ở trong hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan. Người nói: “Ông Gio-an đến, không ăn không uống, thì thiên hạ bảo: ‘Ông ấy bị quỷ ám.’ Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo: ‘Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi’” (Mt 11,18-19a). Rồi Đức Giê-su kết luận: “Nhưng Đức Khôn Ngoan đã được nhìn nhận là đúng qua hành động” (Mt 11,19b). Vì thế, cần xác tín ơn gọi và công việc của mình, dùng trí khôn Chúa ban và dựa trên giáo huấn của Đức Giê-su để có thể lượng giá đúng theo sự thật.

4. Kết luận

Sự thống nhất giữa “lời nói” và “việc làm” là điều mọi người đều mong ước và người có lương tri sẽ cố gắng suốt cả đời để thực hiện điều đó. Điểm độc đáo trong bài Tin Mừng là Đức Giê-su mời gọi dân chúng, các môn đệ và độc giả phân biệt giữa “nói” và “làm”. Điều quan trọng là lượng giá những động lực sâu xa của việc làm và của lời nói theo giáo huấn của Đức Giê-su. Nhờ tìm hiểu và học hỏi Tin Mừng, chúng ta có thể phần nào phân biệt được đúng hay sai trong lời nói và trong việc làm theo tinh thần của Tin Mừng để học hỏi. “Nói đúng” hay “làm đúng” thì học để làm theo và tuân giữ, “nói sai” hay “làm sai” thì học để tránh.  

Trong cuộc sống thường ngày, phân biệt đâu là “gương sáng”, đâu là “gương mù” là rất khó. Điều quan trọng là động lực bên trong của hành động có phù hợp với Tin Mừng hay không. Đời sống xã hội và cộng đoàn cần có những tấm gương sáng, nhưng không phải “làm gương” chỉ là để “làm gương”, chỉ để trở thành “những tấm gương” mà tác dụng của nó có thể là “gương sáng” đối với người này nhưng lại là “gương mù” đối với kẻ khác.

Có lẽ không nên quá đề cao việc “làm gương”, vì tự nó dị nghĩa, mà tập trung vào điều quan trọng và sâu xa hơn. Đó là “làm chứng” cho Tin Mừng, “làm chứng” về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa với sự xác tín bên trong và cách thể hiện riêng của mình, đồng thời tôn trọng sự xác tín bên trong và cách thể hiện ra bên ngoài của người khác./.

Ngày 22 tháng 03 năm 2011
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.