01/07/2012

Đề tài trong các tập sách

BẢNG TRA (INDEX)
(1) các ĐOẠN VĂN và (2) các ĐỀ TÀI
phân tích trong các sách đã xuất bản


1) ĐOẠN VĂN

Ga 3,17-19: Xét xử và tiền định. 
YÊU và GHÉT II, tr. 68-97.

Ga 3,19-21: Yêu mến bóng tối.  
YÊU và GHÉT II, tr. 17-133.

Ga 6,22-71: Thánh Thể, lý trí và đức tin.  
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 109-146.

Ga 11,1-54: “Chết” và “sống” của La-da-rô, của Đức Giê-su và của người tin. 
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 147-188.

Ga 12,25: Yêu và ghét mạng sống mình. 
YÊU và GHÉT II, tr. 175-335.

Ga 13 – 16: Bối cảnh và cấu trúc.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 17-76.

Ga 13 – 14: Cấu trúc. 
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 45-67. 

Ga 13,1-32: Cấu trúc. 
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 48-60.

Ga 13,32-28: Cấu trúc. 
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 48-60.

Ga 14,15-17: Đấng Pa-rác-lê đến và ở lại. 
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 17-20; 272-284.

Ga 14,25-26: Đấng Pa-rác-lê dạy các môn đệ và làm cho họ nhớ lại giáo huấn của Đức Giê-su. 
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 21-25; 285-298.

Ga 14: Cấu trúc. 
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 64-67.

Ga 15 – 16: Cấu trúc. 
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 68-76.

Ga 15,1 – 16,15: Cấu trúc. 
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 69-71.

Ga 15,12: Điều răn yêu thương. 
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 97-148.

Ga 15,13: Hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 149-166.

Ga 15,14: Trở thành bạn hữu của Đức Giê-su. 
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 191-204.

Ga 15,15: Tôi tớ, bạn hữu và mặc khải.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 205-237.

Ga 15,16: Đề tài tuyển chọn.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 244-251.

Ga 15,18 – 16,4a: Sự thù ghét của thế gian. 
YÊU và GHÉT I, tr. 163-287.

Ga 15,19: Tình yêu của thế gian. 
YÊU và GHÉT II, tr. 134-164.

Ga 15,26-27: Đấng Pa-rác-lê làm chứng và các môn đệ làm chứng. 
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 26-30.

Ga 15,9-10: Dòng chảy tình yêu giữa Chúa Cha – Đức Giê-su và các môn đệ.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 86-96.

Ga 16,12-15: Đấng Pa-rác-lê dẫn các môn đệ đi trong sự thật toàn vẹn và loan báo về Đức Giê-su cho các môn đệ.  
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 38-44; 299-330.

Ga 16,16 – 16,33: Cấu trúc. 
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 72-76.

Ga 16,7-11: Đấng Pa-rác-lê chứng minh thế gian sai lầm. 
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 31-37; 216-270.

Ga 17: bối cảnh cấu trúc và các nghĩa của từ thế gian.
YÊU và GHÉT I, tr. 43-162.

Ga 18,28 – 19,16a: Đức Giê-su và Phi-la-tô, ai là người xét xử?  
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 187-220.



2) ĐỀ TÀI

Anh em (danh xưng).  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 257-260.

Ánh sáng và bóng tối.  
YÊU và GHÉT II, tr. 42-67.

Bạn hữu (danh xưng).  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 181-204.

Biết và làm cho biết trong Gio-an.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 230-237; YÊU và GHÉT I,
tr. 202-218.

Các con (danh xưng).  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 252-256.

Các môn đệ vô danh trong Tin Mừng thứ tư.  
Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến, tr. 92-112.

Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật.  
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 113-131.

Đấng Pa-rác-lê khác. 
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 67-72.

Đấng Pa-rác-lê và các môn đệ. 
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 271-330.

Đấng Pa-rác-lê và Đức Giê-su (giống và khác nhau).
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 154-204.

Đấng Pa-rác-lê và thế gian.  
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 205-270.

Đấng Pa-rác-lê.  
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 73-84.

Điều răn số ít và số nhiều; danh từ và động từ. 
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 97-114.

Điều răn yêu thương là điều răn mới. Mới ở chỗ nào?
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 171-180.

Điều răn yêu thương trong Gio-an.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 115-148; 167-170.

Đọc lại (relecture).  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 39-44.

Đọc theo chiều dọc và đọc theo chiều ngang. 
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr.128; 249-253.

Dòng chảy tình yêu giữa Chúa Cha – Đức Giê-su và các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 86-96.

Ghét (động từ) và những đặc điểm của sự thù ghét.
YÊU và GHÉT I, tr. 185-271.

Giải pháp cho khủng hoảng: Bình an.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 226-231.

Giải pháp cho khủng hoảng: Hoạt động của Đấng Pa-rác-lê.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 254-264.

Giải pháp cho khủng hoảng: Niềm vui.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 232-253.

Giải pháp cho khủng hoảng: Sự ở lại của Đấng Pa-rác-lê, của Đức Giê-su và của Chúa Cha nơi các môn đệ.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 197-225.

Khủng hoảng của cộng đoàn cuối thế kỷ I.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 147-194.

Khủng hoảng niềm tin.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 130-146.

Khủng hoảng vì Đức Giê-su đi về với Cha.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 105-116.

Khủng hoảng vì không biết.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 79-104.

Khủng hoảng vì thế gian thù ghét.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 117-129.

Khuôn mặt người Môn đệ Đức Giê-su yêu mến.  
Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến, tr. 113-177.

Môn đệ (danh xưng).  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 261-270.

Môn đệ Đức Giê-su yêu mến và Tông đồ Gio-an.  
Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến, tr. 17-50; 187-186.

Ngày và đêm.  
YÊU và GHÉT II, tr. 57-58.

Người thuật chuyện và người nghe (đọc).  
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 37-52.

Nhân vật lịch sử và nhân vật bản văn.  
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 54-55.

NHƯ trong “như Thầy đã yêu thương”.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 129-148.

Những việc xấu xa trong Tin Mừng thứ tư.  
YÊU và GHÉT II, tr. 98-113.

Ở lại (động từ).  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 65-78.

Phân tích cấu trúc. 
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 77-104.

Phân tích thuật chuyện.  
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 33-76.

Quá trình hình thành Tin Mừng thứ tư.  
Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến, tr. 187-216.

Tác gải thực sự tác giả tiềm ẩn.  
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 37-40.

Tác giả Tin Mừng thứ tư. 
Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến, tr. 217-236.

Thần Khí sự thật trong 1QS và 1QM.  
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 87-99.

Thần Khí sự thật trong thư 1Ga.  
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 100-112.

Thần Khí sự thật trong Tin Mừng thứ tư.
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 113-131.

Thánh Thần trong Gio-an.  
Đấng Pa-rác-lê – Thần Khí sự thật –, tr. 140-152.

Thế gian trong Tin Mừng Gio-an: “thế gian vũ trụ”, “thế gian nhân loại”, “thế gian chưa tin”, và “thế gian thù ghét”.  
YÊU và GHÉT I, tr. 74-162.

Thời gian và không gian trong Gio-an 13 – 16.  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 23-27.

Thương mến – bạn hữu (danh từ và động từ).  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 81-82.

Tiếp cận đồng đại (approche synchronique).  
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 29-32.

Tiếp cận lịch đại (approche diachronique). 
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 14-28.

Tội của thế gian thù ghét.  
YÊU và GHÉT I, tr. 266-271.

Tôi tớ trong Is 41,8-9, trong các thư Phao-lô và trong Tin Mừng Gio-an.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 205-216.

Tương quan tôi tớ và bạn hữu trong Gio-an.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 217-229.

Tương tác bản văn (intertextualité).  
KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP, tr. 39-44.

Tuyển chọn.  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 244-251.

Xét sử hiện tại và xét xử ngày sau hết.  
YÊU và GHÉT II, tr. 78-92.

Xét xử và tiền định Ga 3,17-19.  
YÊU và GHÉT II, tr. 68-97.

Yêu – ghét – làm (Ga 3,19-21).  
YÊU và GHÉT II, tr. 127-133.

Yêu mạng sống và ghét mạng sống ở Ga 12,25.  
YÊU và GHÉT II, tr. 175-335.

Yêu mến – tình yêu (danh từ và động từ).  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 55-64.

Yêu mến bóng tối – ghét ánh sáng.  
YÊU và GHÉT II, tr. 114-126.

Yêu thương nhau trong Cựu Ước và yêu thương nhau trong Tin Mừng thứ tư (so sánh).  
TÌNH YÊU và TÌNH BẠN, tr. 115-128.

01/04/2012

Có thể dùng TỰ ĐIỂN và SÁCH CHÚ GIẢI bằng tiếng Anh nào để học hỏi và nghiên cứu Kinh Thánh?



Có nhiều bộ tự điển và sách chú giải Kinh Thánh bằng tiếng Anh có giá trị có thể dùng để học hỏi và nghiên cứu Kinh Thánh. Tự Điển (Dictionary) và Sách Chú Giải (Commentary) có thể chia làm hai loại:
1) Loại nhỏ (đại cương) là tự điển Kinh Thánh hay chú giải toàn bộ Kinh Thánh trong khoảng 1000 đến 2000 trang.
2) Loại lớn (chi tiết) là tự điển Kinh Thánh hay chú giải toàn bộ cuốn Kinh Thánh từ 3-4 cuốn, đến 30-40 cuốn, có thể mỗi sách Kinh Thánh được chú giải bằng một cuốn sách.

Phần sau đây sẽ liệt kê một số tự điển và sách chú giải bằng tiếng Anh theo phân loại trên: (I) Dictionary: 1. General Dictionary, 2. Big Dictionary. (II) Commentary: 1. General Commentary. 2. Collection of Commentary. 3. Other Commentary.


BIBLE DICTIONARY AND COMMENTARY

I. DICTIONARY

1. General Dictionary

ACHTEMEIER, Paul J., (Ed.), Harper’s Bible Dictionary, (With the Society of Biblical Literature [SBL]), San Francisco (CA),  Harper & Row Publishers, 1985, 1178 p.

WIGODER, Geoffrey, (Ed.), The Illustrated Dictionary & Concordance of the Bible, New York (NY), Sterling Publishing, 2005 (1986),1037 p.

2. Big Dictionary

BALZ, Horst; SCHNEIDER, Gerhard, Exegetical Dictionary of the New Testament, (3 volumes), Grand Rapids, (Michigan), William B. Eerdmans Publishing Company, 1993. (Originally published as Exegetisches Wörterbuch zum Neuen Testament Band I, Lieferungen 1-9 Copyright © 1978-80 by Verlag W. Kohlhammer GmbH, Stuttgart, West Germany).

BROMILEY, Geoffrey W. (Ed.), International Standard Bible Encyclopedia, (Fully Revised, Illustrated, In Four Volumes), Grand Rapids (Michigan), William B. Eerdmans Publishing Company, [1986], Reprinted, 1992.

FREEDMAN, David Noel, (Ed.), The Anchor Yale Bible Dictionary, (6 volumes), New York, Doublelay, 1992.

KITTEL, Grehard, (Ed.), Theological Dictionary of the New Testament, (10 volumes), Translated by Geoffrey W. Bromiley. Grand Rapids, (Michigan), William B. Eerdmans Publishing Company, 1964-1976.

II. COMMENTARY

1. General Commentary

BERGANT, Dianne, (Ed.), The Collegeville Bible Commentary, Old Testament, (Based on the New American Bible), Collegeville (Minnesota), The Liturgical Press, 1992, 1-857 p.; KARRIS, Robert, J., (Ed.), The Collegeville Bible Commentary, New Testament, (Based on the New American Bible), Collegeville (Minnesota), The Liturgical Press, 1992, 861-1300 p.

BROWN, R. E., FITZMEYER, J. A., MURPHY, R. E., (Eds.), The New Jerome Biblical Commentary, New Jersey, Prentice Hall, 1990 [1968: The Jerome Biblical Commentary], 1484 p.

FARMER, W. R., (Ed.), The International Bible Commentary, A Catholic and Ecumenical Commentary for the Twenty-First Century, Collegeville (Minnesota), The Liturgical Press, 1998, 1934 p.

MAYS, James, L., (Ed.), Harper’s Bible Commentary, (With the Society of Biblical Literature), New York (NY),  HarperCollins Publishers, 1988, 1326 p.

2. Collection of Commentary

Sacra Pagina Series (Commentary of New Testament) [18 volumes]
HARRINGTON, Daniel, (Editor), 
Collegeville (MN), The Liturgical Press.

The Anchor Bible (Yale) Commentary [44 volumes]
New York (NY), Doubleday.

The New International Greek Testament Commentary [13 volumes]
MARSHALL, I. Howard; HAGNER, Donald A., (Editors),
Grand Rapids (MI), William B. Eerdmans Publishing Company.

The New Interpretation’s Bible [12 volumes]
Nashville (TN), Abingdon Press.

Độc giả có thể tìm hiểu chi tiết từng cuốn một của các bộ tự điển và chú giải này trên Internet.

3. Other Commentary

Ngoài ra còn có các sách chú giải Kinh Thánh của những tác giả khác không ở trong các bộ sưu tập (collections). Chẳng hạn:

KEENER, C. S., The Gospel of John. A Commentary, (2 volumes), Peabody (MA), Hendrickson Publishers, 2003, 1636 p.

schnaCkenburg, R., The Gospel According to St. John, vol. I: Introduction and Commentary on Chapter 1–4, (1965), 1987, 638 p.; vol. II: Commentary on Chapter 5–12, (1971), 1987, 556 p., New York, Crossroad Publishing Company; vol. III: Commentary on Chapters 13–21, (1975), 1988, 510 p., (HTC.NT), London, Burns & Oates. (Orig. Das Johannesevangelium).


Trên đây là một số tự điển và sách chú giải quan trọng, còn nhiều bộ tự điển và các sách chú giải Kinh Thánh khác nữa. Điều cần chú ý là lượng định giá trị của chúng khi sử dụng làm tài liệu để học hỏi và nghiên cứu Kinh Thánh.


Ngày 01 tháng 04 năm 2012.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com

04/03/2012

Thể văn MIDRASH của sách KINH THÁNH là thể văn gì?


1. Định nghĩa

Thuật ngữ MIDRASH là tiếng Híp-ri có nghĩa là “xem xét” (examiner), “giải thích” (expliquer). Thể văn midrash là loại văn chương chú giải (exégèse) các sách Kinh Thánh của các thầy Ráp-bi (các thầy dạy trong Do Thái giáo). 

Đây là bộ Kinh Thánh Do Thái (la Bible Juive). Quy điển (canon) Kinh Thánh Do Thái giáo gồm phần lớn các sách Cựu Ước Ki-tô giáo, ngoại trừ các sách sau đây: Tô-bi-a, Gui-đi-tha, Khôn ngoan, Huấn ca, Ba-rúc, 1-2 Ma-ca-bê và một số đoạn văn trong sách Ét-te và Đa-ni-en. Do Thái giáo không nhận những sách này vào quy điển Kinh Thánh.

Thể văn midrash có thể xuất hiện dưới dạng bản văn giải thích Kinh Thánh theo từng câu và được chia thành hai loại: “Midrash aggadique” và “Midrash halakique”.

2. Midrash aggadique

Midrash aggadique là những lời giải thích Kinh Thánh của các Ráp-bi trong hội đường, trong hoàn cảnh đặc biệt của dân tộc (như chiến tranh, đói kém), hay trong những dịp lễ của dân chúng (như lễ cắt bì, đám cưới, đám tang…). Đôi khi có những yếu tố huyền thoại (légendaires) trong midrash aggadique. Thuật ngữ này chỉ nội dung những lời chú giải của các Ráp-bi liên quan đến các giáo huấn trong bản văn Kinh Thánh, nhằm giúp dân chúng áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể.

3. Midrash halakique

Midrash halakique là những lời giải thích các bản văn Kinh Thánh liên quan đến Luật (textes législatifs). Các Ráp-bi giải thích các khoản Luật ghi chép trong Kinh Thánh để dân chúng có thể áp dụng vào cuộc sống thường nhật. Mỗi thời đại có hoàn cảnh sống khác nhau, vì thế các khoản luật cần được giải thích và thích nghi với hoàn cảnh mới. Luật Mô Sê trong bộ Ngũ Thư (năm cuốn sách đầu tiên của Kinh Thánh: St, Xh, Lv, Ds, Đnl) được các Ráp-bi, giải thích và làm rõ để dân chúng tuân giữ gọi là midrash halakique, hay nói gọn là MIDRASH, bao gồm cả hai loại midrash trên.

4. Bản văn MIDRASH

Những bản văn midrash cổ nhất: chú giải một phần các sách Xuất Hành, Lê-vi, Dân số và Đệ Nhị Luật, có thể đã xuất hiện từ thế kỷ I-II (CN). Đối với các sách khác của Kinh Thánh, văn chương midrash được biên soạn và hoàn thành trong khoảng thế kỷ VI-XII. Hiện nay, hầu hết các sách Kinh Thánh đều có phần chú giải midrash và đã được in thành sách.

Xem mục từ “MIDRASH” và thư mục trong CENTRE INFORMATIQUE ET BIBLE ABBAYE DE MAREDSOUS, (dir.), Dictionnaire encyclopédique de la Bible, Turnhout, Brepols, 2002, (3è éd. rev. et aug.), p. 839.


Ngày 04 tháng 03 năm 2012.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

04/12/2011

Mt 18,12-14: “99 con chiên không đi lạc” và “1 con chiên bị lạc đường”, chọn bên nào đây?



Nội dung

Bản văn Mt 18,12-14
Dẫn nhập
1. Bối cảnh đoạn văn Mt 18,12-14
2. Mt 18,12-14 nối kết với 18,10-11
3. Trách nhiệm của mục tử (Mt 18,12-13)
Kết luận




Bản văn Mt 18,12-14
(Các trích dẫn Kinh Thánh dưới đây lấy theo bản dịch của Nhóm Phiên Dịch / Các Giờ Kinh Phụng Vụ)

Mt 18,12-14: “12Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao? 13Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc. 14Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất.”


Dẫn nhập

Đoạn Tin Mừng Mt 18,12-14 thuật lại dụ ngôn 100 con chiên, trong đó 99 con chiên không đi lạc và 1 con chiên bị lạc đường. Mục tử lựa chọn để lại 99 con trên núi để đi tìm con chiên lạc. Lựa chọn với tỷ lệ 1/100 này có hợp lý không? Cách ứng xử của mục tử trong dụ ngôn có được thực thi trong lịch sử Ít-ra-en không? Câu kết của dụ ngôn ở 18,14 nói đến “những kẻ bé mọn” và “hư mất”, những đề tài này là mới hay đã xuất hiện trong đoạn văn trước? Có thể dụ ngôn ngắn gọn này vẫn luôn luôn là một thách đố dành cho các mục tử và dành cho tất cả các thành viên trong cộng đoàn người tin, về thái độ và cách ứng xử đối với “những kẻ lầm đường lạc lối”, “những kẻ bé mọn”. Giữa “99 con chiên không đi lạc” và “1 con chiên bị lạc đường”, độc giả chọn bên nào?

Để tìm hiểu ý nghĩa giáo huấn của Đức Giê-su ở Mt 18,12-14, phần sau sẽ phân tích các mục: (1) Bối cảnh đoạn văn Mt 18,12-14; (2) Mt 18,12-14 nối kết với 18,10-11; (3) Trách nhiệm của mục tử (Mt 18,12-13).

1. Bối cảnh đoạn văn Mt 18,12-14

Đoạn Tin Mừng ngắn Mt 18,12-14 là một phần giáo huấn của Đức Giê-su trong chương 18 của Tin Mừng Mát-thêu. Chương này thu thập những lời giảng của Đức Giê-su liên quan đến đời sống cộng đoàn các môn đệ. Cụ thể là trả lời câu hỏi: “Ai là người lớn nhất trong Nước Trời” (18,1-4). Đức Giê-su dặn dò các môn đệ: “Đừng làm cho người ta sa ngã” (18,5-9), “Đừng khinh thường những kẻ bé mọn” (18,10-11). Tiếp đến là dụ ngôn “Một con chiên bị lạc trên núi” (18,12-14), sau đó là giáo huấn về sửa lỗi anh em (18,15-18).v.v… Như thế, bối cảnh đoạn văn Mt 18,12-14 là những giáo huấn của Đức Giê-su về đời sống và cách xử sự trong cộng đoàn Hội Thánh, cụ thể là cộng đoàn Mát-thêu. Đề tài chính trong Mt 18,12-14 là vai trò của mục tử đối với đàn chiên.

2. Mt 18,12-14 nối kết với 18,10-11

Nếu chỉ đọc đoạn văn Mt 18,12-14, độc giả có thể đặt ra nhiều câu hỏi: Đại từ “anh em” (ngôi thứ hai số nhiều) trong câu “Anh em nghĩ sao?” là ai, là các môn đệ hay dân chúng? Trong phần kết dụ ngôn ở 18,14: “Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất”, xuất hiện các ý tưởng song song: “con chiên bị đi lạc” trong dụ ngôn ám chỉ “một trong những kẻ bé mọn này”. Ý tưởng “đi lạc” song song với “hư mất”. “Những kẻ bé mọn này” là ai? Tại sao lại ví “đi lạc đường” với “hư mất”?

“Dụ ngôn con chiên lạc” (18,12-13) khởi đầu cách đột ngột: “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên….” (18,12). Một số câu hỏi trên sẽ được giải đáp nhờ các trình thuật trước đó (18,1-11). Mở đầu Mt 18, người thuật chuyện cho biết ai đang nói và nói với ai, người thuật chuyện kể: “Lúc ấy, các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?” Lời mở đầu này xác định toàn bộ Mt 18 là giáo huấn của Đức Giê-su dành cho các môn đệ của Người. Đại từ “anh em” trong Mt 18, được hiểu trước hết là “các môn đệ”, đồng thời ám chỉ cộng đoàn Mát-thêu nói riêng và cộng đoàn Hội Thánh nói chung.

Đặc biệt Mt 18,12-14 nối kết chặt chẽ với 18,10-11. Ở Mt 18,10-11, Đức Giê-su dặn dò các môn đệ: “Đừng khinh thường những kẻ bé mọn” (18,10) và nói đến sự “hư mất” (18,11), như thế cần đọc chung Mt 18,12-14 với 18,10-11 sẽ dễ hiểu ý của bản văn hơn.
Mt 18,10-11: “10Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. [11Vì Con Người đến để cứu cái gì đã hư mất].”  (Câu 11 để trong ngoặc vuông [ ] vì không có trong các thủ bản cổ).

Sự liên kết từ ngữ và ý tưởng giữa Mát-thêu 18,10-11 và 10,12-14 được thể hiện qua cấu trúc sau đây:



Cấu trúc song song trên cho thấy “dụ ngôn con chiên lạc”  đặt ở trọng tâm (C), nhằm minh họa cho chủ đề chung của đoạn văn: Giáo huấn của Đức Giê-su về cách cư xử trong cộng đoàn đối với “những kẻ bé mọn” (A // A’). Đồng thời Đức Giê-su mặc khải về sứ vụ của Người: “Cứu cái gì đã hư mất” (B. 18,11) và mặc khải về ý định của Chúa Cha: “Không muốn một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (B’. 18,14b). Động từ “apollumi” (hư mất), xuất hiện ở 18,11 và 18,14b, nên B // B’.

Bối cảnh văn chương và cấu trúc bản văn cho phép hiểu: Hình ảnh “con chiên bị lạc đường” trong dụ ngôn (18,12-13) là “những kẻ bé mọn trong cộng đoàn” và sự kiện “bị lạc đường” được so sánh với tình trạng “hư mất” cần được “cứu”. Hình ảnh con chiên bị lạc đường ám chỉ những người lầm lạc trong cộng đoàn và sự lầm lạc ở đây có thể hiểu theo cả hai nghĩa: (1) Lạc đường vì nghe theo đạo lý không chính thống (sai lạc đạo lý) và (2) Lạc đường vì đời sống luân lý không phù hợp với giáo huấn của Đức Giê-su (sai lạc luân lý).

3. Trách nhiệm của mục tử (Mt 18,12-13)

Điều đáng chú ý là “dụ ngôn con chiên bị lạc”  không quy trách nhiệm cho con chiên. Trong thực tế, 100 con chiên thả trên núi và một con chiên bị lạc đường thì không có gì lạ. Động từ “planaô” (đi lạc, lạc đường) ở Mt 18,12 chia ở dạng thụ động (voix passive): “planêthê” (bị đi lạc, bị lạc đường). Không phải là con chiên cố tình đi lạc mà là “bị lạc đường”. Câu văn ở dạng thụ động nên độc giả không biết nguyên nhân nào làm cho con chiên đi lạc. Như thế, bản văn không quy trách nhiệm cho con chiên về sự kiện “lạc lối”, theo cả hai nghĩa “lạc về đạo lý” và “lạc về luân lý”. Giáo huấn của trình thuật tập trung vào cách ứng xử của “mục tử”, chứ không bàn đến nguyên nhân của việc đi lạc.

Vấn đề đặt ra trong dụ ngôn là mục tử đối xử thế nào với con chiên bị lạc đường. Giữa 99 con chiên không bị lạc và 1 con chiên bị lạc lối, mục tử chọn đứng về phía nào? Liệu trong cộng đoàn, mục tử có ưu tư và lo lắng cho con chiên bị lạc đường không? Mục tử có đi tìm và đưa chiên lạc lối trở về hay không? Trong dụ ngôn (18,12-13), xem ra đương nhiên là mục tử sẽ để lại 99 con chiên và đi tìm con chiên lạc, nhưng thực tế lịch sử Ít-ra-en cho thấy vấn đề không đơn giản như thế. Dụ ngôn Đức Giê-su kể ở Mt 18,12-14 gợi lại cho độc giả những gì ngôn sứ Ê-dê-ki-en đã viết về cách ứng xử của các mục tử:

Ed 34,1-6: “1Có lời ĐỨC CHÚA phán với tôi rằng: 2Hỡi con người, hãy tuyên sấm hạch tội các mục tử chăn dắt Ít-ra-en, hãy tuyên sấm. Hãy nói với chúng, với các mục tử đó: ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Ít-ra-en, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? 3Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt các ngươi làm thịt; nhưng các ngươi lại không lo chăn dắt đàn chiên. 4Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. 5Chiên của Ta tán loạn vì thiếu mục tử và biến thành mồi cho mọi dã thú, chúng tán loạn. 6Chiên của Ta tản mác trên các ngọn núi, trên mọi đỉnh đồi. Chiên của Ta tản mác trên khắp mặt đất, thế mà chẳng ai chăm sóc, chẳng ai kiếm tìm.”

Tương phản với các mục tử không chu toàn trách nhiệm của mình như trên, ngôn sứ Ê-dê-ki-en cho biết ĐỨC CHÚA chăn dắt đàn chiên của Người như thế nào:
Ed 36,13b-16: “13bTa sẽ chăn dắt chúng trên các núi Ít-ra-en, trong các thung lũng và tại mọi nơi trong xứ có thể ở được. 14Ta sẽ chăn dắt chúng trong đồng cỏ tốt tươi và chuồng của chúng sẽ ở trên các núi cao Ít-ra-en. Tại đó chúng sẽ nằm nghỉ trong chuồng êm ái, sẽ đi ăn trong đồng cỏ mầu mỡ trên núi non Ít-ra-en. 15Chính Ta sẽ chăn dắt chiên của Ta, chính Ta sẽ cho chúng nằm nghỉ – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng. 16Con nào bị mất, Ta sẽ đi tìm; con nào đi lạc, Ta sẽ đưa về; con nào bị thương, Ta sẽ băng bó; con nào bệnh tật, Ta sẽ làm cho mạnh; con nào béo mập, con nào khoẻ mạnh, Ta sẽ canh chừng. Ta sẽ theo lẽ chính trực mà chăn dắt chúng.”

Thay vì đi tìm con chiên lạc như ở Mt 18,12-14, mục tử có thể lý luận rằng: Tại sao lại có thể bỏ lại 99 con chiên không có người chăm sóc để đi tìm một con chiên bị lạc? 99 con không hơn 1 con hay sao? Ai sẽ lo cho 99 con chiên kia, trong khi không chắc sẽ tìm được con chiên lạc?.v.v... Bằng nhiều chi tiết tương phản mạnh mẽ, dụ ngôn cho biết mục tử đích thực phải làm gì. Trước hết là tương phản giữa 99 con chiên không đi lạc so với 1 con chiên bị lạc đường (tỷ lệ 1/100). Kế đến là nhấn mạnh ý tưởng không chắc sẽ tìm được con chiên lạc khi dùng kiểu nói: “Nếu may mà tìm được...” (18,13a), nghĩa là không chắc tìm được nhưng vẫn để 99 con chiên lại trên núi để đi tìm con chiên bị lạc. Cuối cùng là đề cao niềm vui khi tìm được con chiên lạc, bằng cách so sánh với 99 con chiên không bị lạc: “Người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc” (18,13b). Rõ ràng dụ ngôn ám chỉ sứ vụ của Đức Giê-su, Người là mục tử đích thực, Người đến trần gian “để cứu cái gì đã hư mất”  (18,11). Người lo lắng cho đàn chiên như ĐỨC CHÚA chăn dắt đàn chiên của Người (Ed 36,13b-16).

Qua dụ ngôn, Đức Giê-su đề cao một trong những nhiệm vụ của mục tử đích thực là “tìm kiếm những con chiên lạc đường”. Đó là sứ vụ của Đức Giê-su (18,11) và Người mời gọi tất cả các mục tử trong cộng đoàn Hội Thánh thi hành sứ vụ này. Dẫn đưa những kẻ lầm đường lạc lối trở về là điều Cha trên trời mong đợi, vì Người không muốn bất cứ kẻ bé mọn nào trong cộng đoàn bị hư mất. Cách cư xử đúng đắn của người mục tử là dành sự ưu ái và tình thương cho những thành viên trong cộng đoàn bị lạc đường. Tuy vậy, dường như trong cộng đoàn Mát-thêu nói riêng và trong cộng đoàn người tin qua mọi thời đại nói chung, “những kẻ bé mọn”, “những kẻ lầm đường lạc lối” vẫn chưa được các mục tử đối xử đúng mức. Giáo huấn của Đức Giê-su vẫn cần được học hỏi và áp dụng vào hoàn cảnh cụ thể của từng cộng đoàn.

Kết luận

Giáo huấn của Đức Giê-su trong bài Tin Mừng Mt 18,12-14 mãi mãi là một thách đố cho các mục tử trong cộng đoàn người tin. Dựa trên giáo huấn của Đức Giê-su: “Chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn” (18,10) và ý của Cha trên trời là “Không muốn một ai trong những kẻ bé mọn phải hư mất” (18,14), người mục tử được Đức Giê-su mời gọi bày tỏ lòng ưu ái và cảm thông đối với những con chiên lạc trong cộng đoàn. Dù con chiên đó cố tình hay vô ý đi lạc, dù con chiên đó lạc đường về đạo lý hay lạc đường về luân lý, người mục tử vẫn được mời gọi lên đường tìm kiếm con chiên lạc. Cho dù tỷ lệ là 1/100, người mục tử trong dụ ngôn vẫn đứng về phía 1 con chiên bị lạc lối. Tình thương và trách nhiệm của mục tử dành cho con chiên bị lạc đường trong dụ ngôn được diễn tả mạnh mẽ qua tỷ lệ 1/100, nghĩa là nếu có 10 con chiên lạc lối trong cộng đoàn, thì tỉ lệ đó là 10/1000. Người mục tử sẽ để 990 con chiên không đi lạc để đi tìm 10 con chiên đi lạc...
Hình ảnh mục tử trong Mt 18,12-14 có thể được mở rộng đến mọi thành phần trong cộng đoàn dân Chúa. Đức Giê-su là mục tử duy nhất của đàn chiên. (Xem bài viết: “Ai là mục tử? Đàn chiên thuộc về ai?”, http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2010/11/chia-se-tm-ga-1011-18-muc-tu-la-ai.html). Chính Đức Giê-su đã trao quyền chăn dắt đàn chiên của Người cho các môn đệ: Đầu tiên là Nhóm Mười Hai, rồi đến các đấng kế vị Thánh Phê-rô. Các Giám mục, các linh mục, là những vị có nhiệm vụ trực tiếp chăn dắt đàn chiên được giao phó. Đồng thời vai trò mục tử có thể được mở rộng đến những người có trách nhiệm trong cộng đoàn; các bậc phụ huynh trong vai trò giáo dục con cái; các thầy cô, các giáo lý viên trong vai trò giáo dục đức tin. Ngay cả các anh chị lớn đối với các em nhỏ. Nói cách khác, tất cả mọi người tin trong cộng đoàn được Đức Giê-su mời gọi dành sự ưu ái và tình thương cho “những kẻ bé mọn”, “những kẻ lầm đường lạc lối”.
Thực tế cho thấy, tình thương là sức mạnh lớn lao có khả năng cảm hoá và làm biến đổi con người, giúp con người sống tốt hơn, sống mạnh mẽ hơn và sống có lý tưởng hơn. Dẫn một con chiên lạc đường trở về, thực sự là một niềm vui lớn lao, và điều này chỉ có thể thực hiện được nhờ những hành động thiết thực và nhờ tình thương. Hai yếu tố nền tảng: “Giáo huấn của Đức Giê-su” và “lòng mến” sẽ hướng dẫn mục tử và những người có trách nhiệm biết ứng xử thích hợp trong hoàn cảnh cụ thể. Bằng cách tìm hiểu và suy niệm Tin Mừng Mt 18,10-14, các mục tử nói riêng và từng thành viên trong cộng đoàn nói chung, sẽ biết cần làm gì trước hiện trạng “99 con chiên không bị lạc đường” và “1 con chiên đi lạc”. Thực tế này vẫn còn đó trong cộng đoàn người tin qua mọi thời đại./.

Ngày 04 tháng 12 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P. 
email: josleminhthong@gmail.com 

26/11/2011

H/Đ.PP. Có đoạn văn hay nhất trong Kinh Thánh không?


Hỏi:
Sau khi phân tích một đoạn văn, độc giả có thể nói đây là đoạn văn hay nhất được không?


Để đưa ra nhận định: “Đây là đoạn văn hay nhất”, chắn chắn độc giả đã dày công làm việc, áp dụng phương pháp học hỏi để phân tích đoạn văn. Từ đó độc giả đã khám phá ra những nét hay, nét độc đáo của bản văn, đã tìm ra phần nào ý nghĩa của bản văn, đã áp dụng chúng vào hoàn cảnh cụ thể trong cuộc sống của độc giả và cảm thấy điều đó là thú vị.

Cảm nhận đoạn văn mình đang phân tích là “đoạn văn hay nhất” là một bước tiến lớn trong quá trình ứng dụng phương pháp phân tích thuật chuyện và cấu trúc vào việc đọc Kinh Thánh. Có thể hiểu “hay nhất” ở đây là so với những gì độc giả đã đọc và đã hiểu từ trước cho đến lúc bấy giờ. Tuy nhiên, xét về phương pháp có thể mở rộng cái “hay” đến các đoạn văn khác. Nhờ đó độc giả sẽ cảm nhận được rằng: Đọc Kinh Thánh là một tiến trình suốt cả cuộc đời và còn nhiều điều hay, thú vị và độc đáo khác đang chờ đợi mình. Sau đây là hai ý giúp mở rộng cái “hay” của bản văn:

1) Có ba cấp độ so sánh: so sánh bằng (A = B), so sánh hơn (A cao/thấp hơn B), so sánh cấp cao nhất (A cao/thấp nhất). Nếu chưa phân tích kỹ các đoạn văn khác thì làm sao có thể so sánh được?

2) Thực ra không thể nói đoạn văn này hay hơn đoạn văn khác, vì mỗi đoạn văn vẽ lên một bức tranh độc đáo riêng. Mỗi đoạn văn đều có những chi tiết, những ý tưởng, những từ ngữ, và nhất là cách kể câu chuyện riêng biệt. Không một đoạn nào hoàn toàn giống một đoạn văn khác.

Chẳng hạn, năm đoạn văn về Đấng Pa-rác-lê trong Ga 14–16 là năm bức tranh độc đáo riêng. Năm bức tranh ấy làm nên đề tài “Đấng Pa-rác-lê trong Tin Mừng Gio-an”. Đây là đề tài hay và độc đáo riêng của Tin Mừng Gio-an, nhưng không thể nói đề tài này “hay hơn” hoặc “hay nhất” so với các đề tài khác. Bởi vì đề tài khác như “yêu và ghét”, “ánh sáng và bóng tối”… đều là những đề tài “rất quan trọng” và “rất hay” trong Tin Mừng Gio-an.

Tóm lại, có thể nói tất cả các đoạn văn đều hay, đều độc đáo. Còn có nhiều điều “hay” đang chờ độc giả khám phá. Tuy nhiên, có thể nói “thích đoạn văn này hơn đoạn văn khác”. Sở thích mang tính chủ quan, nên có thể so sánh để diễn tả sở thích riêng của mình. Tôi thích đoạn văn này hơn đoạn văn kia vì đoạn văn này phù hợp với ưu tư và tìm kiếm của tôi hơn...

Ước mong độc giả sau khi khám phá ra “nét hay”, “nét đẹp” của một đoạn văn sẽ mong muốn lên đường tìm hiểu và phân tích những đoạn văn khác. Dần dần độc giả sẽ nhận thấy rằng Kinh Thánh là một kho tàng và mỗi đoạn văn là một viên ngọc quý trong kho tàng ấy./.      


Ngày 27 tháng 11 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.