11 novembre 2012

Lc 12,10. Chống lại Con Người và chống lại Thánh Thần




[The article in English]

Ngày 11 tháng 11 năm 2012


Nội dung

I. Bản văn trong Tin Mừng Nhất Lãm
1) Bản văn Lc 12,8-12 (NPD/CGKPV)
2) Bản văn Mc 3,28-30
3) Bản văn Mt 12,31-32 (NPD/CGKPV)  
II. Bối cảnh lời Đức Giê-su trong các Tin Mừng
1) Bối cảnh Mc 3,28-30
2) Bối cảnh Mt 12,31-32
3) Bối cảnh Lc 12,10
III. Phân tích
1) Cấu trúc Lc 12,8-12
2) “Nói lời chống lại Con Người” (12,10a)
3) “Nói phạm thượng chống lại Thánh Thần” (12,10b)
IV. Kết luận
Tài liệu tham khảo




I. Bản văn trong Tin Mừng Nhất Lãm

Nội dung lời Đức Giê-su nói với các môn đệ ở Lc 12,10: “Bất cứ ai nói phạm đến Con Người, thì còn được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì sẽ chẳng được tha” được thuật lại trong các Tin Mừng Nhất Lãm (Mc, Mt, Lc). Đề tài này không xuất hiện trong Tin Mừng Gio-an. Phần sau sẽ trình bày lời nói của Đức Giê-su liên quan đến “nói phạm đến Con Người” và “nói phạm đến Thánh Thần” trong Tin Mừng Nhất Lãm: Lc 12,8-12; Mc 3,28-30 và Mt 12,31-32. Đặt lời Đức Giê-su vào trong bối cảnh văn chương của các Tin Mừng giúp hiểu giáo huấn của Đức Giê-su trong Tin Mừng Lu-ca (Lc 12,10) về đề tài “Chống lại Con Người và Thánh Thần.”

1) Bản văn Lc 12,8-12 (NPD/CGKPV)

8 “Thầy [Đức Giê-su] nói cho anh em [các môn đệ] biết: Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa. 9 Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì sẽ bị chối trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa. 10 “Bất cứ ai nói phạm đến Con Người, thì còn được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì sẽ chẳng được tha. 11 “Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước mặt những người lãnh đạo và những người cầm quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa làm sao, hoặc phải nói gì, 12 vì ngay trong giờ đó, Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói.”

2) Bản văn Mc 3,28-30

(Bản văn lấy trong Tin Mừng Mác-cô Hy Lạp – Việt. Mc 3,28-30 tiếp nối dụ ngôn Xa-tan trừ Xa-tan, Mc 3,22-27).
28 “A-men, Tôi [Đức Giê-su] nói cho các ông [các kinh sư]: Những tội lỗi và những lời phạm thượng, dù nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, tất cả sẽ được tha cho con cái loài người. 29 Nhưng người nói phạm thượng đến Thánh Thần thì không có sự tha thứ cho đến đời đời, người ấy mắc tội muôn đời.” 30 Vì họ nói: “Ông ấy có thần ô uế.”

3) Bản văn Mt 12,31-32 (NPD/CGKPV)  

(Mt 12,31-32 tiếp nối dụ ngôn Xa-tan trừ Xa-tan, Mt 12,22-30).
31 Vì thế, tôi [Đức Giê-su] nói cho các ông [những người Pha-ri-sêu] hay: mọi tội, kể cả tội nói phạm thượng, cũng sẽ được tha cho loài người, chứ tội nói phạm đến Thần Khí sẽ chẳng được tha. 32 Ai nói phạm đến Con Người thì được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau.

II. Bối cảnh lời Đức Giê-su trong các Tin Mừng

Lời nói của Đức Giê-su về “nói phạm đến Con Người” và “nói phạm đến Thánh Thần” trong Tin Mừng Nhất Lãm được đặt trong bối cảnh khác nhau. Đề tài này trong Tin Mừng Mác-cô và Tin Mừng Mát-thêu có bối cảnh gần giống nhau, trong khi Tin Mừng Lu-ca đặt lời nói trên trong bối cảnh văn chương khác với Tin Mừng Mác-cô và Mát-thêu. Quan sát dưới đây cho thấy sự khác nhau này.

1) Bối cảnh Mc 3,28-30

Mc 3,28-30 thuộc về đoạn văn lớn: Mc 3,20-35. Đề tài chính của đoạn văn này là “thuộc về Xa-tan hay thuộc về Thiên Chúa”.  Đoạn văn Mc 3,20-35 được chia thành 3 tiểu đoạn và có cấu trúc như sau:


Đoạn văn Mc 3,28-30: “Nói phạm thượng đến Thánh Thần” mở đầu với lời Đức Giê-su: “A-men, Tôi nói cho các ông :…” Đại từ ngôi thứ hai số nhiều “các ông” ở Mc 3,28 là các kinh sư đã được nói đến ở 3,22. Người thuật chuyện kể: “Các kinh sư, những người xuống từ Giê-ru-sa-lem, thì nói rằng: Ông ấy có Bê-en-dê-bun và rằng: Ông ấy dựa vào thủ lãnh của quỷ mà trừ quỷ” (3,22). Như thế, lời nói của Đức Giê-su về “người nói phạm thượng đến Thánh Thần” (Mc 3,29a) được đặt trong bối cảnh tranh luận giữa các kinh sư và Đức Giê-su liên quan đến quyền trừ quỷ. Khi các kinh sư cho rằng Đức Giê-su dựa vào thủ lãnh của quỷ mà trừ quỷ (3,22) thì Đức Giê-su trả lời cho họ bằng dụ ngôn Xa-tan trừ Xa-tan (3,23-27) và hậu quả của việc “nói phạm thượng đến Thánh Thần” (3,28-30).

2) Bối cảnh Mt 12,31-32

Trong Tin Mừng Mát-thêu, đoạn văn Mt 12,31-32: “Nói phạm đến Con Người” và “nói phạm đến Thánh Thần” đặt trong bối cảnh một chuỗi những lời của Đức Giê-su. Cấu trúc đoạn văn Mt 12,15-37 cho thấy vị trí và bối cảnh của Mt 12,31-32.


Đề tài “nói phạm đến Thánh Thần” trong Tin Mừng Mát-thêu (Mt 12,31-32) có cùng bối cảnh với Tin Mừng Mác-cô (Mc 3,28-30). Trong hai Tin Mừng này, ý tưởng “nói phạm đến Thánh Thần” là phần kết của trình thuật: Đức Giê-su bị vu khống là dựa vào thế quỷ vương Bê-en-dê-bun để trừ quỷ (Mc 3,22 // Mt 12,24). Trình thuật song song (Mc 3,22-30 // Mt 12,22-32) có một số chi tiết khác nhau (xem cấu trúc trên). Điểm khác biệt đáng chú ý là trong Tin Mừng Mác-cô, Đức Giê-su nói với các kinh sư (Mc 3,22), còn trong Tin Mừng Mát-thêu, Đức Giê-su nói với những người Pha-ri-sêu (Mt 12,24). Tuy người nghe khác nhau, nhưng cả hai nhóm này đều chống đối Đức Giê-su. Riêng Tin Mừng Lu-ca, đề tài “nói phạm đến Con Người và Thánh Thần” được đặt trong bối cảnh khác với Tin Mừng Mác-cô và Mát-thêu.

3) Bối cảnh Lc 12,10

Lời Đức Giê-su nói ở Lc 12,10 được đặt trong bối cảnh những lời giáo huấn của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Đức Giê-su dạy các môn đệ nhiều điều trong đoạn văn lớn: Lc 12,1-12. Cấu trúc đoạn văn này cho thấy vị trí của Lc 12,10 trong bối cảnh văn chương của nó.


Trong đoạn văn (1) Lc 12,1-15, Đức Giê-su nói với các môn đệ, sang đoạn văn (2) Lc 12,13-15, Đức Giê-su nói với đám đông. Đức Giê-su giáo huấn các môn đệ nhiều điều trong đoạn văn 12,1-15. Trước hết, Người nói với các môn đệ: “Anh em phải coi chừng men Pha-ri-sêu, tức là thói đạo đức giả” (12,1b). Kế đến là lời nói về “Không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết” (12,2). Phần tiếp theo gợi đến hoàn cảnh bách hại, Đức Giê-su mời gọi các môn đệ: “Đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa” (12,4) nhưng “hãy sợ Đấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào hoả ngục” (12,5). Đức Giê-su khích lệ các môn đệ: “Anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ” (12,7), vì thế hãy tin tưởng Thiên Chúa sẽ gìn giữ con cái của Người. Ở Lc 12,8-9, Đức Giê-su mời gọi mọi tín hữu can đảm tuyên xưng niềm tin vào Người trước mặt thiên hạ, cho dù bị bắt bớ và chịu thiệt thòi. Tiếp đến là vấn đề “nói phạm đến Con Người” và “nói phạm đến Thánh Thần” (Lc 12,10). Đoạn văn kết thúc với lời Đức Giê-su khích lệ các môn đệ trong hoàn cảnh bị bách hại: “11 Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước mặt những người lãnh đạo và những người cầm quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa làm sao, hoặc phải nói gì, 12 vì ngay trong giờ đó, Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói” (Lc 12,11-12).

Quan sát mạch văn Lc 12,10 trên đây cho thấy đề tài “chống lại Con Người và Thánh Thần” (Lc 12,10) được đặt trong bối cảnh những lời giáo huấn và khích lệ của Đức Giê-su dành cho các môn đệ. Như thế, đề tài “nói phạm thượng chống lại Thánh Thần” trong Tin Mừng Lu-ca (Lc 12,10) có bối cảnh khác với Tin Mừng Mác-cô và Mát-thêu. Ở Lc 12,1-12, Đức Giê-su cho biết các môn đệ phải làm gì khi bị bách hại. Còn ở Mc 3,28-30 và Mt 12,31-32 Đức Giê-su trả lời cho câu hỏi: Người dựa vào đâu để trừ quỷ. Thính giả trong ba Tin Mừng cũng khác nhau: Trong Tin Mừng Mác-cô (Mc 3,28-30), Đức Giê-su nói với các kinh sư; trong Tin Mừng Mát-thêu (Mt 12,31-32), Đức Giê-su nói với những người Pha-ri-sêu; còn trong Tin Mừng Lu-ca (Lc 12,1-12) Đức Giê-su nói với các môn đệ của Người. Phần phân tích chỉ tìm hiểu lời nói của Đức Giê-su trong Tin Mừng Lu-ca (Lc 12,10).  

III. Phân tích

1) Cấu trúc Lc 12,8-12

Tiểu đoạn Lc 12,8-12 gồm ba lời của Đức Giê-su: (1) 12,8-9, (2) 12,10, (3) 12,11-12 và được cấu trúc như sau:


Trong lời thứ nhất (Lc 12,8-9), Đức Giê-su nói với các môn đệ về việc đón nhận hay khước từ Đức Giê-su trước mặt thiên hạ, dẫn đến kết quả là được đón nhận hay bị khước từ trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa. Kiểu nói song song: “trước mặt thiên hạ” và “trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa” gợi đến điều Đức Giê-su nói đến trước đó: “sự xét xử ở trần gian” (trước mặt thiên hạ) của “những kẻ chỉ giết thân xác, mà sau đó không làm gì hơn được nữa” (Lc 12,4) và “sự xét xử ở trên trời” (trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa) của “Đấng đã giết rồi, lại có quyền ném vào hoả ngục” (Lc 12,5).

Lời thứ hai của Đức Giê-su: “Bất cứ ai nói phạm đến Con Người, thì còn được tha; nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần, thì sẽ chẳng được tha” (Lc 12,10, NPD/CGKPV). Câu này dịch sát bản văn Hy Lạp: “Bất cứ ai nói lời chống lại Con Người (pas hos erei logon eis ton huion tou anthrôpou), sẽ được tha cho người ấy (aphethêsetai autô); nhưng ai nói phạm thượng chống lại Thánh Thần (tô de eis to hagion pneuma blasphêmêsanti), sẽ chẳng được tha (ouk aphethêsetai)” (Lc 12,10). Lời này có hai yếu tố song song: (1) “nói lời chống lại Con Người” (12,10a) và (2) “nói phạm thượng chống lại Thánh Thần” (12,10c), với hệ quả tương ứng: (1’) “sẽ được tha” (12,10b) và “sẽ chẳng được tha” (12,10d).

Lời thứ ba của Đức Giê-su (Lc 12,11-12) là lời khích lệ và lời hứa dành cho các môn đệ. Trong hoàn cảnh bị bách hại, Thánh Thần sẽ dạy cho các môn đệ những điều phải nói, khi họ bị đưa ra trước toà án thế gian. Thánh Thần sẽ hiện diện với các môn đệ và giúp họ làm chứng cho Đức Giê-su. Hoạt động của Thánh Thần ở Lc 12,12, nối kết với lời liên quan đến “nói phạm thượng chống lại Thánh Thần” ở 12,10b.

2) “Nói lời chống lại Con Người” (12,10a)

Trong mạch văn, ý tưởng: “nói lời chống lại Con Người” gợi đến việc những kẻ chống đối kết tội Đức Giê-su. Chẳng hạn, khi Đức Giê-su nói với người bại liệt nằm trên giường: “Này anh, anh đã được tha tội rồi” (Lc 5,20), các kinh sư và những người Pha-ri-sêu bắt đầu suy nghĩ: “Ông này là ai mà nói phạm thượng như thế? Ai có quyền tha tội, ngoài một mình Thiên Chúa?” (Lc 5,21). Trong một hoàn cảnh khác ở Lc 11,14-15, khi Đức Giê-su trục xuất một quỷ câm ra khỏi con người, thì có mấy người bảo: “Ông ấy dựa thế quỷ vương Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ” (Lc 11,15).

Trong bối cảnh văn chương Tin Mừng Lu-ca, có thể hiểu lời nói của Đức Giê-su: “Bất cứ ai nói lời chống lại Con Người, sẽ được tha cho người ấy” (Lc 12,10a) trong liên hệ với toàn bộ sứ vụ của Đức Giê-su. Khi nói lời này, Đức Giê-su chưa hoàn thành sứ vụ của Người, vì biến cố nền tảng: Biến cố Thương Khó và Phục Sinh chưa xảy ra. Vì thế, kẻ nói lời chống lại Con Người sẽ được tha nếu như họ đón nhận lời rao giảng của các môn đệ sau khi Đức Giê-su lên trời. Đây là giai đoạn các môn đệ ra đi rao giảng về Đức Giê-su, dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần, được thuật lại trong sách Công vụ Tông Đồ.

3) “Nói phạm thượng chống lại Thánh Thần” (12,10b)

Tại sao “nói phạm thượng chống lại Thánh Thần, sẽ không được tha?” (Lc 12,10b). Hai câu tiếp theo (Lc 12,11-12) cho thấy các môn đệ đang ở trong hoàn cảnh khó khăn, đến từ phía “những người lãnh đạo và những người cầm quyền” (Lc 12,11). Trong hoàn cảnh này, lời nói của Đức Giê-su ở Lc 12,10 gợi đến cách cư xử của những người bách hại Đức Giê-su và các môn đệ của Người.

Tương phản giữa “sẽ được tha” và “sẽ không được tha” ở Lc 12,10 tương ứng với hai tác phẩm của Lu-ca: Tác phẩm thứ nhất là sách Tin Mừng, tác phẩm thứ hai là sách Công vụ Tông Đồ. Các ý tưởng ở Lc 12,8-12 cho độc giả thấy trong quá trình biên soạn Tin Mừng Lu-ca, tác giả đã nối kết với những gì sẽ xảy ra trong sách Công vụ Tông Đồ. Thực vậy, câu Đức Giê-su nói ở Lc 12,12: “Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói” sẽ được thực hiện trong sách Công vụ Tông Đồ. Trong sách này, Thánh Thần hiện diện thường xuyên như là quyền năng đáng tin cậy để hướng dẫn sứ vụ của các môn đệ, đồng thời Thánh Thần là nguồn khích lệ lớn lao trong hoàn cảnh các môn đệ bị bách hại.

Trong viễn cảnh này, ý tưởng “nói phạm thượng chống lại Thánh Thần” (Lc 12,10b) gợi đến giai đoạn sứ vụ của các môn đệ sau biến cố Thăng Thiên. Hoạt động rao giảng của các Tông Đồ được kể lại trong sách Công vụ Tông Đồ. Sách này cũng cho biết thái độ thù nghịch của giới lãnh đạo Do Thái (x. Cv 5,21b-33, NPD/CGKPV). Khi các Tông Đồ bị điệu ra trước Thượng Hội Đồng và bị thượng tế chất vấn, Phê-rô và các Tông Đồ đáp lại rằng: “29b Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm. 30 Đức Giê-su đã bị các ông treo lên cây gỗ mà giết đi; nhưng Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã làm cho Người trỗi dậy, 31 và Thiên Chúa đã ra tay uy quyền nâng Người lên, đặt làm thủ lãnh và Đấng Cứu Độ, hầu đem lại cho Ít-ra-en ơn sám hối và ơn tha tội. 32 Về những sự kiện đó, chúng tôi xin làm chứng, cùng với Thánh Thần, Đấng mà Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng lời Người” (Cv 5,29b-32). Người thuật chuyện cho biết thái độ của giới lãnh đạo Do Thái trong câu tiếp theo: “Nghe vậy, họ giận điên lên và muốn giết các ông” (Cv 5,33). Cách phản ứng thù nghịch và chống đối của họ có thể xem là “chống lại Thánh Thần”. Trong bối cảnh này, “nói phạm thượng chống lại Thánh Thần” (Lc 12,10b), không chỉ giới hạn trong cách dùng “lời nói phạm thượng” mà còn bao gồm cả những “hành động chống lại” Thánh Thần.

Trong đoạn văn Lc 11,14-22, khi người ta nói về Đức Giê-su: “Ông ấy dựa thế quỷ vương Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ” (Lc 11,15), Đức Giê-su nói với họ rằng: “19 Nếu tôi dựa thế Bê-en-dê-bun mà trừ quỷ, thì con cái các ông dựa thế ai mà trừ? Bởi vậy, chính họ sẽ xét xử các ông. 20 Còn nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỷ, thì quả là Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Lc 11,19-20). Trong câu này, có thể so sánh Thánh Thần với “ngón tay của Thiên Chúa”. Đây là kiểu nói diễn tả sự can thiệp của Thiên Chúa trong trần gian để cứu độ con người. Vậy, nếu đối nghịch với Thánh Thần bằng cách “nói phạm thượng chống lại Thánh Thần” (Lc 12,10b) là đối nghịch và chống lại chính Thiên Chúa. Ơn cứu độ của Thiên Chúa sẽ không dành cho những người phạm thượng như thế (xem J. A. FITZMYER, The Gospel According to LUKE (X – XXIV), 1986, p. 966).

IV. Kết luận

Tương phản giữa “được tha” và “không được tha” ở Lc 12,10 gợi đến hai giai đoạn của sứ vụ: (1) Giai đoạn thứ nhất là sứ vụ rao giảng của Đức Giê-su, được thuật lại trong Tin Mừng Lu-ca. (2) Giai đoạn thứ hai là sứ vụ rao giảng của các môn đệ, được thuật lại trong sách Công vụ Tông Đồ. Hai tác phẩm (sách Tin Mừng và sách Công vụ) trình bày hai giai đoạn rao giảng, được đánh dấu bởi biến cố nền tảng: Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su. Với biến cố này, Đức Giê-su đã hoàn thành sứ vụ, và qua đó, Đức Giê-su mặc khải căn tính của Người: Người là Con Thiên Chúa và Chúa của người tin. Từ nay Đức Giê-su là Đấng ban sự sống đời đời cho tất cả những ai tin vào Người.

Lời Đức Giê-su ở Lc 12,10 có thể hiểu trong viễn cảnh trước và sau biến cố Thương Khó – Phục Sinh. Trước biến cố này, “Bất cứ ai nói lời chống lại Con Người, sẽ được tha cho người ấy” (Lc 12,10a), nếu như người ấy đón nhận lời rao giảng của các Tông Đồ sau khi Đức Giê-su về trời. Kể từ biến cố này, lời rao giảng và lời chứng của các môn đệ được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần. Vì thế “Ai nói phạm thượng chống lại Thánh Thần, sẽ chẳng được tha” (Lc 12,10b), bởi vì “nói phạm thượng chống lại Thánh Thần” có nghĩa là khước từ ơn cứu độ của Thiên Chúa.

Trong bối cảnh Tin Mừng Lu-ca và sách Công vụ Tông Đồ, ý tưởng “sẽ không được tha” (Lc 12,10d) nhấn mạnh vai trò của Thánh Thần trong sứ vụ rao giảng của các môn đệ. Lời của Đức Giê-su về “nói phạm thượng chống lại Thánh Thần” (Lc 12,10c) là lời cảnh báo cho mọi người, đồng thời cũng là lời mời gọi mọi người “đón nhận ân huệ là Thánh Thần”, như đã nói trong sách Công vụ Tông Đồ ch. 2. Sau khi dân chúng nghe Phê-rô giảng trong ngày lễ Ngũ Tuần (Cv 2,14-36), người thuật chuyện cho biết phản ứng của dân chúng: “Nghe thế, họ đau đớn trong lòng, và hỏi ông Phê-rô cùng các Tông Đồ khác: ‘Thưa các anh, vậy chúng tôi phải làm gì?’” (Cv 2,37). Phê-rô nói với họ: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Đức Giê-su Ki-tô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần. 39 Thật vậy, đó là điều Thiên Chúa đã hứa cho anh em, cũng như cho con cháu anh em và tất cả những người ở xa, tất cả những người mà Chúa là Thiên Chúa chúng ta sẽ kêu gọi” (Cv 2,38-39). Vì thế, lời nói của Đức Giê-su ở Lc 12,10 là lời mời gọi mọi người đừng chống lại Thánh Thần nhưng hãy mở lòng mở trí “đón nhận ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2,28b)./.

Tài liệu tham khảo

[1986] Joseph A. FITZMYER, The Gospel According to LUKE (X – XXIV), (Anchor Bible 28A), New York (NY), Doubleday, 1986, xxxvi, 841-1642 p.
[1991] Luke Timothy JOHNSON, The Gospel of Luke, (Sacra Pagina Series 3), Collegeville (MN), The Liturgical Press, 1991, xiv-466 p.
[1997] Joel B. GREEN, The Gospel of LUKE, (The New International Commentary on the New Testament [NICNT]), Grand Rapides, Michigan – Cambridge, U.K., William B. Eerdmans Publishing Company, 1997.


Ngày 11 tháng 11 năm 2012

2 commentaires: