18/09/2011

Phương pháp đọc Kinh Thánh: Bối cảnh và cấu trúc Mt 21,28-32.



Nội dung
Dẫn nhập
I.   Mt 21,23-27: Trình thuật trước đoạn văn Mt 21,28-32
II.  Mt 21,33-44: Trình thuật sau đoạn văn Mt 21,28-32
III. Kết luận ba trình thuật Mt 21,23-27; 21,28-32; 21,33-44
IV. Cấu trúc đoạn văn Mt 21,23-46
Kết luận




Dẫn nhập

Bài viết bàn về tầm quan trọng của việc đặt một đoạn văn vào “bối cảnh văn chương” và tìm hiểu “cấu trúc” để hiểu ý nghĩa của đoạn văn ấy. Đây là những bước quan trọng của phương pháp đọc Kinh Thánh. Bài viết chọn đoạn văn Mt 21,28-32 (Chúa Nhật XXVI thường niên, năm A) làm ví dụ. Có thể tạm gọi đoạn văn Mt 21,28-32 là “dụ ngôn về nói và làm của hai người con”. Tuy nhiên, tựa đề này chưa lột tả hết nội dung của đoạn văn Mt 21,28-32. Cần đặt đoạn văn này vào bối cảnh văn chương của nó và tìm hiểu cấu trúc mới có thể khám phá ra những nét hay, những nét tương phản mạnh mẽ trong bản văn. Các trích dẫn bản văn Tin Mừng Mát-thêu trong bài viết được lấy từ bản dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Bản văn Mt 21,28-32 như sau:

[Mt 21,28-32] 28 Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai. Ông ta đến nói với người thứ nhất: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho." 29 Nó đáp: "Con không muốn đâu!" Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. 30 Ông đến gặp người thứ hai, và cũng bảo như vậy. Nó đáp: "Thưa ngài, con đây!" nhưng rồi lại không đi. 31 Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?" Họ trả lời: "Người thứ nhất." Đức Giê-su nói với họ: "Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. 32 Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy."

Đoạn Tin Mừng Mt 21,28-32 kể câu chuyện về hai người con. Người con thứ nhất “nói không đi làm” nhưng sau đó hối hận và “đi làm”. Người con thứ hai bày tỏ thái độ sẵn sàng, nhưng rồi lại không đi làm vườn nho. Đức Giê-su dùng câu chuyện này để đưa ra nhận định về những người đang nghe, Người nói với họ: “Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (21,31). Nếu mở sách Tin Mừng Mát-thêu và chỉ đọc đoạn văn Mt 21,28-32 như trích dẫn trên đây, độc giả sẽ thấy khó hiểu vì bản văn bắt đầu bằng: “Các ông nghĩ sao: Một người kia có hai con trai…” Độc giả không biết ai đang nói và nói với ai. Mãi đến câu 21,31b bản văn cho biết là Đức Giê-su đang nói với “họ”, nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi liên quan đến đoạn văn Mt 21,28-32, chẳng hạn:

  1. Tại sao Đức Giê-su kể dụ ngôn “nói và làm của hai người con” và kể với mục đích gì?
  1. Nhân vật “họ” trong bản văn được Đức Giê-su nói đến ở ngôi thứ hai số nhiều: “Các ông”. Nhân vật này là ai?
  1. Tại sao câu chuyện đặt song song “người con thứ nhất” với “những người thu thuế và những cô gái điếm” và “người con thứ hai” với “các ông”?
  1. Tại sao Đức Giê-su nhắc đến nhân vật Gio-an Tẩy Giả và nói đến “tin vào ông ấy” trong đoạn văn 21,28-32?
  1. Dựa vào đâu để Đức Giê-su có thể nhận định: Những người nghe (các ông) không chịu hối hận mà tin vào Gio-an Tẩy Giả (21,32)?
  1. Dựa vào đâu để gọi câu chuyện Mt 21,28-32 là một dụ ngôn, trong khi không có từ “dụ ngôn” (parabolê) trong đoạn văn Mt 21,28-32?
  1. Trình thuật 21,28-32 có giọng văn tranh luận và kết án. Tại sao có giọng văn này và tranh luận khởi đầu và kết thúc như thế nào?
Tóm lại, khi đọc đoạn văn Mt 21,28-32, độc giả gặp nhiều câu hỏi do bản văn gợi lên. Độc giả có thể trả lời những câu hỏi trên nếu đặt đoạn văn Mt 21,28-32 trong bối cảnh văn chương của trình thuật trước và sau câu chuyện này. Tìm hiểu cấu trúc của đoạn văn lớn hơn Mt 21,23-46 sẽ góp phần thiết thực trong việc tìm hiểu ý nghĩa của đoạn văn 21,28-32. Phần sau đây sẽ đặt trình thuật Mt 21,28-32 trong bối cảnh văn chương và tìm hiểu cấu trúc đoạn văn này qua bốn mục: (I) Mt 21,23-27: Trình thuật trước đoạn văn Mt 21,28-32. (II) Mt 21,33-44: Trình thuật sau đoạn văn Mt 21,28-32. (III) Mt 21,45-46: Kết luận chung cho Mt 21,23-44. (IV) Cấu trúc đoạn văn Mt 21,23-46.

I. Mt 21,23-27: Trình thuật trước đoạn văn Mt 21,28-32

Trình thuật trước đoạn văn Mt 21,28-32 là Mt 21,23-27. Đoạn văn này cho biết cuộc tranh luận xảy ra trong hoàn cảnh nào, tranh luận về đề tài gì và tranh luận với ai. Người thuật chuyện kể:

[Mt 21,23-27] 23 Đức Giê-su vào Đền Thờ, và trong khi Người giảng dạy, các thượng tế và kỳ mục trong dân đến gần Người và hỏi: "Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?" 24 Đức Giê-su đáp: "Còn tôi, tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi; nếu các ông trả lời được cho tôi, thì tôi cũng sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. 25 Vậy, phép rửa của ông Gio-an do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?" Họ mới nghĩ thầm: "Nếu mình nói: "Do Trời", thì ông ấy sẽ vặn lại: "Thế sao các ông lại không tin ông ấy?" 26 Còn nếu mình nói: "Do người ta", thì mình sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an là một ngôn sứ." 27 Họ mới trả lời Đức Giê-su: "Chúng tôi không biết." Người cũng nói với họ: "Tôi cũng vậy, tôi không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy."

Trình thuật Mt 21,23-27 trên đây có nhiều điểm soi sáng cho trình thuật tiếp theo Mt 21,28-32 (dụ ngôn “nói và làm của hai người con”). Có thể liệt kê sáu chi tiết sau đây:

    1) “Các ông” là “các thượng tế và các kỳ mục”

Trước hết, bối cảnh chung của trình thuật là Đức Giê-su đang giảng dạy ở Đền Thờ: “Đức Giê-su vào Đền Thờ, và trong khi Người giảng dạy, các thượng tế và kỳ mục trong dân đến gần Người và hỏi:…” (Mt 21,23a). Bản văn cho biết Đức Giê-su đang giảng dạy, nhưng không cho biết nội dung giảng dạy. Điều quan trọng là “Đức Giê-su giảng dạy” và sự kiện “Đức Giê-su giảng dạy” là mối bận tâm của giới lãnh đạo Do Thái. Vì thế, đoạn văn đi thẳng vào vấn đề tranh luận liên quan đến quyền giảng dạy của Đức Giê-su. Các thượng tế và các kỳ mục chất vấn Đức Giê-su: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?” (Mt 21,23b) Những người đặt câu hỏi là “các thượng tế” (hoi arkhiereis) và “các kỳ mục” (hoi presbuteroi).

Như thế, nhờ chi tiết trong đoạn văn 21,32-27 mà độc giả biết Đức Giê-su nói dụ ngôn “nói và làm của hai người con” (Mt 21,27-32) với ai và cho ai. Đại từ ngôi thứ hai số nhiều “Các ông” trong đoạn văn Mt 21,28-31 là “các thượng tế” và “các kỳ mục”. Tuy nhiên, không chỉ có hai nhóm nhân vật này. Phần kết luận của các trình thuật (21,45-46) sẽ cho biết còn có nhóm nhân vật “ những người Pha-ri-sêu” (21,45) hiện diện ở đó nữa. Nhóm nhân vật này sẽ được bàn đến trong phần kết luận (21,45-46) của đoạn văn 21,23-44.

    2) Nhân vật Gio-an Tẩy Giả

Đức Giê-su nói đến nhân vật Gio-an Tẩy Giả trong câu hỏi Người đặt ra cho các thượng tế và kỳ mục: “Phép rửa của ông Gio-an do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?” (21,25). Đề tài “phép rửa của Gio-an Tẩy Giả”, được trình bày ở Mt 3,1-12, nối kết với đề tài “hối hận”, “hối cải” của người con thứ nhất và “không hối hận” của nhân vật “các ông” trong đoạn văn Mt 21,28-32. Như thế, Mt 21,28-32 vừa nối đến với đoạn văn trước nó (Mt 21,23-27), vừa gợi lại việc rao giảng của Gio-an Tẩy Giả đầu Tin Mừng Mát-thêu. Đặt 21,28-32 vào bối cảnh văn chương của đoạn văn và bối cảnh chung của sách Tin Mừng giúp hiểu ý nghĩa của việc “tin vào Gio-an Tẩy Giả” được nói đến hai lần ở 21,25b và 21,32a.

    3) Đề tài “Tin vào Gio-an Tẩy Giả”

Những điều “nghĩ thầm” của “các thượng tế và kỳ mục trong dân” được thuật lại ở 21,25b: “Họ mới nghĩ thầm: Nếu mình nói: ‘Do Trời’, thì ông ấy sẽ vặn lại: ‘Thế sao các ông lại không tin ông ấy?’” Câu này quan trọng vì chính “các thượng tế và kỳ mục” xác nhận là Đức Giê-su biết họ không tin vào Gio-an Tẩy Giả. Nhờ những chi tiết trong “ý nghĩ của họ”, được người thuật chuyện kể ra, mà độc giả biết được  lời nói của Đức Giê-su trong đoạn văn sau là có cơ sở: “Phần các ông [các thượng tế và kỳ mục], khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy [Gio-an Tẩy Giả]” (Mt 21,32). Một trong những đề tài nối kết hai đoạn văn 21,28-32 và 21,23-37 là “tin vào Gio-an Tẩy Giả”.

    4) Bối cảnh tranh luận và xung đột

Trong trình thuật “câu hỏi về quyền của Đức Giê-su” (Mt 21,23-27), bản văn đặt tương quan giữa Đức Giê-su với “các thượng tế và kỳ mục” (giới lãnh đạo Do Thái) trong bối cảnh tranh luận và xung đột khá căng thẳng. Cụ thể là lời chất vấn của các thượng tế và kỳ mục (21,23b) được Đức Giê-su trả lời bằng một lời chất vấn khác (21,24-25a). Kết quả là các thượng tế và kỳ mục đã không có câu trả lời vì Đức Giê-su đã dồn họ vào chân tường. Họ hiểu rõ câu hỏi của Đức Giê-su khi nghĩ rằng: “25 Nếu mình nói: ‘Do Trời’, thì ông ấy sẽ vặn lại: ‘Thế sao các ông lại không tin ông ấy?’ 26 Còn nếu mình nói: ‘Do người ta’, thì mình sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gio-an là một ngôn sứ” (21,25b-26). Trong tình trạng tiến thoái lưỡng nan, họ đành chịu thua và trả lời Đức Giê-su: “Chúng tôi không biết” (Mt 21,27). Điều độc đáo của bản văn là họ trả lời “không biết” nhưng thực ra họ biết rất rõ. Về hình thức thuật chuyện, họ không trả lời cho Đức Giê-su, nhưng độc giả lại biết có hai cách trả lời: “Phép rửa của Gio-an Tẩy Giả do Trời” và “phép rửa của Gio-an Tẩy Giả do người ta” (21,25b-26). Dầu vậy, theo điều kiện Đức Giê-su đặt ra trước đó, Người cũng không trả lời câu hỏi của họ liên quan đến quyền bính của Người.

Nếu trình thuật kết thúc ở đây thì chưa trọn vẹn, vì độc giả cũng muốn biết những điều liên quan đến quyền của Đức Giê-su. Độc giả được mời gọi đọc tiếp phần sau và mạch văn cho phép hiểu như sau: Trong đoạn văn 21,23-27, Đức Giê-su không trả lời câu hỏi về quyền của Người bằng lời nói, nhưng trong hai đoạn văn tiếp theo (21,27-32 và 21,33-44), Đức Giê-su thi hành quyền của Người. Chính trong bối cảnh tranh luận khá căng thẳng trong đoạn văn 21,23-27 mà Đức Giê-su kể trình thuật “nói và làm của hai người con” (Mt 21,28-32). Trong dụ ngôn này, Đức Giê-su bày tỏ quyền phán quyết của Người khi Người nói với họ: “31b Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông. 32 Vì ông Gio-an đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy” (21,31b-32).

    5) “Hối hận”, “sám hối” và “tin”

Bối cảnh tranh luận và chống đối trong đoạn văn Mt 21,23-27 giúp độc giả hiểu tại sao trong đoạn văn tiếp theo (Mt 21,28-32), Đức Giê-su đặt song song “người con thứ nhất” với “những người thu thuế và những cô gái điếm” và đặt song song “người con thứ hai” với “các ông”, tức là “các thượng tế và kỳ mục trong dân”.

Hình ảnh song song này nối kết với đề tài “hối hận” (metamelomai) và lời rao giảng sám hối (metanoeô) của Gio-an Tẩy Giả đầu Tin Mừng Mát-thêu. Gio-an Tẩy Giả mời gọi: “Anh em hãy sám hối (metanoeite), vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2). Để có thể “sám hối” (động từ metanoeô), con người cần “hối hận”, “hối tiếc” (động từ metamelomai) về những gì mình đã nói, đã làm. Cả hai động từ metanoeô (sám hối) metamelomai (hối hận) đều có gốc từ meta- và đều có nghĩa “sám hối” (repent). Như thế, khi đặt đoạn văn 21,38-32 vào bối cảnh văn chương và nối kết với đoạn văn trước (21,23-28) cho phép độc giả hiểu rằng: Nếu không “hối cải” và “tin” thì tranh luận chỉ là vô ích. Chính vì thế mà trong đoạn văn Mt 21,23-27, Đức Giê-su không trả lời cho những kẻ không tin và chống đối Người. Thay vì trả lời, trong đoạn văn tiếp theo (21,28-32), Đức Giê-su cho biết tại sao Người không trả lời những kẻ chất vất. Đó là vì họ không sám hối và không tin.     

    6) “Các thượng tế và các kỳ mục” là “người con thứ hai”

Nhờ trình thuật trong đoạn văn trước (Mt 21,23-27) mà độc giả xác định được đối tượng đang nghe Đức Giê-su trong đoạn văn 21,28-32 là những kẻ chống đối và không tin vào lời rao giảng sám hối của Gio-an Tẩy Giả. Khi đọc trình thuật 21,28-32 trong bối cảnh tranh luận và xung đột, độc giả hiểu ý nghĩa câu Đức Giê-su hỏi những kẻ chất vấn Người ở 21,31a: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” Họ (các thượng tế và các kỳ mục) trả lời: “Người thứ nhất” (21,31b).

So sánh với trình thuật trước đó độc giả sẽ thấy điều tương phản thú vị: Các thượng tế và kỳ mục trong dân hỏi Đức Giê-su về quyền giảng dạy của Người, Đức Giê-su trả lời bằng cách chất vấn họ và Người không cho họ lời giải đáp (Mt 21,23-27). Ngược lại, trong trình thuật tiếp theo (Mt 21,28-32), Đức Giê-su kể một câu chuyện và Người đặt một câu hỏi mà câu trả lời đã có trong câu chuyện. Cách kể dụ ngôn đòi buộc bất cứ ai muốn trả lời đúng đều phải nói: “Người thứ nhất” (21,31).

Như thế, tuy không trả lời về nguồn gốc quyền bính của Đức Giê-su trong đoạn văn 21,23-27, nhưng chính Người đang thi hành quyền bính trong đoạn văn tiếp theo (21,27-32) qua hai chi tiết: 1) Đức Giê-su dẫn dắt câu chuyện và buộc những người chống đối phải trả lời theo hướng đã được gợi ý trong dụ ngôn. 2) Câu trả lời đúng của họ lại trở thành lời tố cáo họ. Bởi vì “các thượng tế và kỳ mục trong dân” không ở trong địa vị của người con thứ nhất, nghĩa là họ là những người không hối cải và không thực thi ý định của Thiên Chúa. Điều trớ trêu là câu trả lời của các thượng tế và các kỳ mục: “Người thứ nhất” (21,31b) là đúng, nhưng họ không phải là người con thứ nhất!

Tóm lại, đoạn văn 21,27-32 chỉ bộc lộ hết ý nghĩa và sức mạnh của nó khi được nối kết với đoạn văn trước nó: 21,23-27. Có thể nói hai đoạn văn Mt 21,23-27 (chất vấn về quyền bính của Đức Giê-su) và Mt 21,28-32 (dụ ngôn “nói và làm của hai người con”), vừa nối kết vừa soi sáng cho nhau, giúp độc giả hiểu được ý nghĩa và sức mạnh của bản văn. Câu hỏi: Tại sao gọi trình thuật “nói và làm của hai người con” (21,28-32) là một “dụ ngôn” sẽ được làm rõ khi nối kết đoạn văn 21,28-32 với đoạn văn tiếp theo 21,33-44.

II. Mt 21,33-44: Trình thuật sau đoạn văn Mt 21,28-32

Trình thuật tiếp theo dụ ngôn “nói và làm của hai người con” (Mt 21,28-32) là dụ ngôn “những tá điền sát nhân” (Mt 31,33-44). Kế đến là phần kết (21,45-46) cho cả ba đoạn văn trước đó: Mt 21,23-37; 21,28-32; 21,33-44.

Dàn bài dụ ngôn thứ hai ở Mt 21,33-44 cũng giống dàn bài dụ ngôn thứ nhất: “lời nói và việc làm của hai người con”  (21,28-32). Dàn ý dụ ngôn “những tá điền sát nhân” (Mt 31,33-44) gồm bốn bước: (1) Đức Giê-su kể dụ ngôn, (2) Dựa vào dụ ngôn, Đức Giê-su đặt một câu hỏi, (3) Dụ ngôn đã gợi ý để thính giả có câu trả lời đúng, (4) Đức Giê-su dựa vào câu trả lời của họ để tuyên bố lời phán quyết. Sau đây là bốn phần của dụ ngôn “những tá điền sát nhân” (Mt 21,33-44).

    1) Đức Giê-su kể một dụ ngôn, 21,33-39:

[Mt 21,33-39] 33 Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác: "Có gia chủ kia trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa. 34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi. 35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ. 36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy. 37 Sau cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: "Chúng sẽ nể con ta." 38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau: "Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!" 39 Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi.

    2) Đức Giê-su đặt một câu hỏi cho người nghe, 21,40:

[Mt 21,40] Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?"

    3) Thính giả được dẫn đắt để có câu trả lời đúng, 21,41:

[Mt 21,41] Họ đáp: "Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông."

    4) Đức Giê-su dựa vào câu trả lời để kết án họ, 21,42-44:

[Mt 21,42-44] 42 Đức Giê-su bảo họ: "Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. 43 Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. (44 Ai ngã xuống đá này, kẻ ấy sẽ tan xương; đá này rơi trúng ai, sẽ làm người ấy nát thịt)."

Dụ ngôn về “nói và làm của hai người con” (21,28-32) cũng trình bày qua bốn bước trên trong cùng một bối cảnh tranh luận. Trong cả hai dụ ngôn, Đức Giê-su cũng kể cho cùng một đối tượng: “các thượng tế, các kỳ mục của dân” và “những người Pha-ri-sêu” sẽ được nói đến ở 21,45. Cả hai dụ ngôn đều kết thúc bằng một lời kết án nhằm cảnh tỉnh giới lãnh đạo Do Thái, vì họ không tin và đang tìm cách làm hại Đức Giê-su.

Cả hai dụ ngôn đều nói về đề tài “vườn nho” (ampelôn), từ này xuất hiện 5 lần trong hai dụ ngôn (21,28.33.39.40.41). Dụ ngôn thứ nhất là “đi làm vườn nho”, dụ ngôn thứ hai là “tá điền canh tác vườn nho”. Lời phán quyết của Đức Giê-su trong cả hai dụ ngôn đều nói đến Nước Thiên Chúa. Trong dụ ngôn thứ nhất Đức Giê-su nói: “Những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (21,31b); trong dụ ngôn thứ hai Đức Giê-su nói: “Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi” (21,43). Những điểm song song trên cho thấy, ý nghĩa của hai dụ ngôn bổ túc và soi sáng cho nhau. Hai dụ ngôn này liên kết chặt chẽ với nhau vì có chung phần kết luận.

III. Kết luận ba trình thuật Mt 21,23-27; 21,28-32; 21,33-44

Mt 21,45-46 là phần kết luận cho đoạn văn lớn: Mt 21,23-44. Người thuật chuyện kết thúc đoạn văn 21,23-44 như sau: 

[Mt 21,45-46] 45 Nghe những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ. 46 Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ.

Hai câu kết luận này (21,45-46) nói đến nhóm nhân vật mới: “Những người Pha-ri-sêu (hoi Pharisaioi)” (21,45). Họ là những người đã nghe “những dụ ngôn (tas parabolas)” Đức Giê-su kể. Từ “dụ ngôn” ở số nhiều: “các dụ ngôn”, nên nhóm nhân vật “những người Pha-ri-sêu” đã nghe cả hai dụ ngôn: 1) “Nói và làm của hai người con” (21,28-32); 2) “Các tá điền sát nhân” (21,33-44).

Nhờ nối kết trình thuật “nói và làm của hai người con” (21,28-32) với dụ ngôn “các tá điều sát nhân” (21,33-44) và hai câu kết luận (21,45-46) mà độc giả biết trình thuật “nói và làm của hai người con” (21,28-32) là một “dụ ngôn”. Cho dù từ “dụ ngôn” (parabolê) không xuất hiện trong đoạn văn 21,28-32, nhưng Đức Giê-su mở đầu dụ ngôn “các tá điền sát nhân” như sau: “Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác (allên papabolên): ‘Có gia chủ kia trồng được một vườn nho…’” (21,33). Nói đến “dụ ngôn khác” (allos parabolê) đã hàm ẩn trình thuật kể trước đó (21,28-32) là một “dụ ngôn”. Hơn nữa, câu kết luận trình thuật 21,23-44 viết: “Nghe những dụ ngôn (tas parabolas) Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ” (21,45). Từ “dụ ngôn” trong câu này ở số nhiều, ám chỉ hai câu chuyện Đức Giê-su vừa kể. Như thế, trình thuật “nói và làm của hai người con” (21,28-32) là một trong hai dụ ngôn.   

Lời kết luận ở Mt 21,45-46 cho phép phân biệt đoạn văn 21,23-46 với dụ ngôn tiếp theo ở Mt 22,1-14 (dụ ngôn tiệc cưới). Dụ ngôn này nối kết với phần trước khi mở đầu như sau: “1 Đức Giê-su lại dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng: ‘2 Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình…’” (Mt 22,1-2). Tuy nhiên, giáo huấn của dụ ngôn tiệc cưới rộng hơn và có cấu trúc khác với hai dụ ngôn trong đoạn văn 21,23-46. Những phân tích về bối cảnh đoạn văn 21,23-46 như trên cho phép thiết lập cấu trúc của đoạn văn này.

IV. Cấu trúc đoạn văn Mt 21,23-46

Phân tích bối cảnh văn chương như trên cho thấy dụ ngôn “nói và làm của hai người con” (Mt 21,28-32) liên kết chặt chẽ với các đoạn văn trước và sau nó làm thành một khối thống nhất: 21,23-46. Đoạn văn này được cấu trúc thành ba phần (I, II, III), trong đó hai dụ ngôn thuộc phần II.


Bảng trên cho thấy đoạn văn 21,23-46 được cấu trúc chặt chẽ qua ba phần lớn. Phần I, mở đầu cuộc tranh luận cho biết hoàn cảnh trình thuật: Đức Giê-su giảng dạy trong Đền Thờ và các thượng tế và kỳ mục đến hỏi Đức Giê-su về quyền của Người (21,23). Lời chất vấn của giới lãnh đạo Do Thái mang sắc thái chất vấn và tranh luận, Đức Giê-su trả lời cũng bằng một lời thẩm vấn có điều kiện. Người chỉ trả lời nếu những kẻ chất vấn giải đáp được câu hỏi Người đặt ra. Bầu khí tranh luận được nhấn mạnh ngay từ đầu trình thuật. Các thượng tế và kỳ mục đã thua, họ không dám trả lời, vì cách trả lời nào cũng không có lợi cho họ (21,25b-26). Trình thuật 21,23-27 kết thúc mà không có câu trả lời. Các thượng tế và kỳ mục, cũng như độc giả, không biết quyền của Đức Giê-su  đến từ đâu. Như thế, phần I (21,23-27) mới chỉ là phần mở đầu đề tài tranh luận, độc giả cần đọc tiếp phần II để biết tranh luận diễn tiến thế nào và Đức Giê-su có nói hay làm gì để bày tỏ quyền của Người hay không.

Phần II gồm hai dụ ngôn, tiếp nối phần tranh luận và qua hai dụ ngôn này, Đức Giê-su bày tỏ quyền và thi hành quyền của Người. Hai dụ ngôn được trình bày song song với nhau cùng một dàn bài (a, b, c, d, a’, b’, c’, d’). Mỗi dụ ngôn đầy đủ ý nghĩa tự nó, nhưng khi đặt song song hai dụ ngôn, độc giả thấy sự tiến triển của đề tài tranh luận. Hai dụ ngôn này, bổ túc và soi sáng cho nhau vì đều nói về hậu quả của những gì mà giới lãnh đạo Do Thái đang làm. Phần III là phần kết luận cho cả đoạn văn dài 21,23-46.

Phần III kết luận cho cả ba đoạn văn: 21,23-27; 21,28-32; 21,33-44. Phần này nói đến hai dụ ngôn vừa kể, đồng thời cho độc giả biết ý nghĩa của hai dụ ngôn: Đức Giê-su ám chỉ đến các thượng tế, các kỳ mục và những người Pha-ri-sêu, tức là giới lãnh đạo Do Thái thời đó. Họ tìm cách bắt và giết Đức Giê-su, như trường hợp “con trai của gia chủ” (của) trong dụ ngôn “các tá điền sát nhân”. Vì thế, Nước Thiên Chúa sẽ bị lấy đi khỏi họ. Tương phản mạnh mẽ trong bản văn là bên ngoài xem ra họ vâng nghe và phụng thờ Thiên Chúa, nhưng thực ra họ đã không thực thi ý muốn của Thiên Chúa. Những người thu thế và những cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước những người lãnh đạo tinh thần của dân!
  
Những phân tích trên cho thấy độc giả có thể thưởng thức được kiểu hành văn tương phản mạnh mẽ và độc đáo nếu đặt dụ ngôn “nói và làm của hai người con” (21,28-32) trong mạch văn dài hơn: Mt 21,23-46. Nhờ đặt 21,28-32 vào bối cảnh văn chương, độc giả mới biết nhân vật “các ông” trong dụ ngôn 21,28-32 là “các thượng tế, các kỳ mục” và “những người Pha-ri-sêu” (21,45). Trong các sách Tin Mừng, ba nhóm “các thượng tế”, “các kỳ mục” và “những người Pha-ri-sêu” phân biệt với nhau, nhưng có đặc điểm chung là chống lại Đức Giê-su.

Kết luận

Những phân tích về bối cảnh văn chương một đoạn văn như trên cho thấy tầm quan trọng của bối cảnh để hiểu ý nghĩa một đoạn văn. Nếu chỉ đọc đoạn văn Mt 21,28-32, độc giả sẽ không biết dụ ngôn được kể ra trong bối cảnh nào và Đức Giê-su kể dụ ngôn cho ai và nhằm đến ai. Khi đặt Mt 21,28-32 trong bối cảnh chung của đoạn văn lớn hơn (Mt 21,23-46), độc giả sẽ cảm nhận được sức mạnh của đoạn văn Mt 21,28-32 và biết các chi tiết giúp hiểu thần học của đoạn văn:

-    Biết lý do Đức Giê-su kể dụ ngôn “nói và làm của hai người con” (Mt 21,38-32). Trong đoạn văn trước, “các thượng tế và kỳ mục” chất vấn về quyền hành của Đức Giê-su (21,23) nên Người trả lời cho họ bằng cách thực thi quyền phán quyết trong hai dụ ngôn tiếp theo.

-    Biết Đức Giê-su nói dụ ngôn với ai. Những người nghe Đức Giê-su là “các thượng tế, các kỳ mục” (21,23) và “những người Pha-ri-sêu” (21,45). Họ là những kẻ tranh luận và chống đối Đức Giê-su. Cuối mỗi dụ ngôn Đức Giê-su tuyên bố tình trạng hiện tại của họ.

-    Biết dụ ngôn đặt trong bầu khí tranh luận và biết tranh luận kết thúc như thế nào. Những kẻ chống đối tìm bắt Đức Giê-su, nhưng lại sợ dân chúng (21,46).

-   Biết trình thuật “nói và làm của hai người con” (Mt 21,38-32) là một dụ ngôn, và biết dụ ngôn thứ nhất nối kết chặt chẽ với dụ ngôn thứ hai (những tá điền sát nhân).

-    Biết diễn tiến và nối kết giữa các đề tài liên quan đến Gio-an Tẩy Giả: “hối hận”, “sám hối” và “tin” vào lời rao giảng của Gio-an Tẩy Giả. Chỉ những ai “sám hối” và “tin” mới biết quyền hành của Đức Giê-su đến từ đâu và Đấng nào đã ban quyền cho Người.

Sau khi tìm hiểu bối cảnh văn chương của đoạn văn 21,28-32, độc giả có thể dựa vào đó để tìm hiểu ý nghĩa của đoạn văn, chẳng hạn tìm hiểu các đề tài: Tương quan giữa “nói” và “làm”. Hiểu về quyền hành của Đức Giê-su trong tương quan với “sám hối” và “tin”. Tương phản giữa “những người thu thuế và những cô gái điếm” và “giới lãnh đạo Do Thái”… Trình thuật Mt 21,28-32 mở đầu bằng động từ “hối hận” (metamelomai) và kết thúc bằng phủ định động từ này “không hối hận” (oude metamelomai) trong liên hệ với lời giảng của Gio-an Tẩy Giả (21,32). Chi tiết này buộc độc giả phải trở về đầu Tin Mừng Mát-thêu để biết Gio-an Tẩy Giả rao giảng điều gì, mời gọi người nghe làm gì. Đây cũng là cách thức đặt nhân vật Gio-an Tẩy Giả vào trong bối cảnh văn chương của Tin Mừng Mát-thêu, nhưng ở cấp độ rộng lớn hơn (Mt 3,1-12). Có thể xem thêm trình bày về bối cảnh, cấu trúc và những yếu tố khác của phương pháp đọc Kinh Thánh, như tương quan “tác giả - độc giả”, các loại nhân vật, yếu tố không gian, thời gian v.v… trong tập sách: Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, Nxb. Phương Đông, 2010, 228 trang.

Để tránh nguy cơ hiểu lệnh lạc bản văn, hay đưa ra những kết luận mà bản văn không nói tới, độc giả cần chú trọng đến bối cảnh văn chương và cấu trúc đoạn văn trên nhiều cấp độ bản văn dài ngắn khác nhau. Trong phương pháp đọc Kinh Thánh, “bối cảnh” và “cấu trúc” góp phần quan trọng vào việc hiểu ý nghĩa của đoạn văn. Nhờ “bối cảnh” và “cấu trúc” đoạn văn, độc giả sẽ khám phá ra những nét thần học độc đáo của đoạn văn, nhận ra sức mạnh của bản văn và biết đoạn văn góp phần thế nào để xây dựng thần học chung của sách Tin Mừng. Tôn trọng bản văn và quan sát kỹ bản văn sẽ mở ra cho độc giả một kho tàng vô tận trong việc tìm hiểu, suy niệm và sống Lời mặc khải./.

Ngày 18 tháng 09 năm 2011.
Email: josleminhthong@gmail.com

24/07/2011

Mt 14,13-21: “Hãy tìm đến” với Đức Giê-su và “hãy cộng tác” với Người



Như đám đông dân chúng, hãy tìm đến với Đức Giê-su
để được yêu thương, được chữa lành và được nuôi dưỡng.
Như các môn đệ, hãy cộng tác với Đức Giê-su
để phân phát của ăn đích thực cho mọi người.


Bản văn Mt 14,13-21 (NPD/CGKPV)

13 Nghe tin ấy (Gio-an Tẩy Giả bị chém đầu, Mt 14,3-12), Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ. 15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: "Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn." 16 Đức Giê-su bảo: "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn." 17 Các ông đáp: "Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá!" 18 Người bảo: "Đem lại đây cho Thầy!" 19 Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.


1. Dẫn nhập

Đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21 kể lại việc Đức Giê-su lánh đến nơi hoang vắng sau khi nghe biết ông Gio-an Tẩy Giả đã bị Hê-rô-đê giết chết (Mt 14,3-12). Điều đáng chú ý là Đức Giê-su đã gây được ảnh hưởng nơi dân chúng. Hình như nhân vật chính của bài Tin Mừng không phải là Đức Giê-su mà là đám đông dân chúng và các môn đệ. Chúng ta cùng tìm hiểu vai trò của đám đông và của các môn đệ trong đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21.

2. Dân chúng tìm đến với Đức Giê-su

Bản văn cho biết Đức Giê-su muốn lánh đi một nơi hoang vắng riêng biệt. Nghĩa là Ngài không có ý định đến với đám đông, Người cũng không có ý định giảng dạy dân chúng. Điểm độc đáo của bản văn là thay vì Đức Giê-su đến với dân chúng thì dân chúng lại “tìm gặp”, “đi theo” và “đến với” Đức Giê-su. Tin Mừng kể: “Nghe biết vậy, đám đông dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người.”

Dân chúng đến với Đức Giê-su không phải từ một nơi, từ một thành phố, mà là từ nhiều thành phố. Câu 14,13b: “Đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người” dịch sát: “Từ các thành phố (apo tôn poleôn), các đám đông (hoi okhloi) đi theo Người bằng cách đi bộ.” Hình ảnh “các đám đông”, từ “các thành phố” khác nhau, dường như cùng lúc biết tin là “Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt” (14,13) cho thấy tầm ảnh hưởng sâu rộng của Đức Giê-su trong dân chúng. Người đã thu hút được dân chúng, nên từ khắp nơi, họ tự nguyện, nhanh chóng và hăng hái tìm đến với Người.

Đức Giê-su thực hiện dự định “lánh khỏi nơi đó” bằng cách “đi thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt”. Người không biết là có nhiều đám đông đang đi bộ theo mình, nhưng độc giả thì biết, vì qua bản văn, tác giả cho độc giả biết là kẻ đi bộ, người đi thuyền đang tiến về cùng một nơi. Chi tiết được đề cao là dân chúng chủ động loan tin, họ cho nhau biết hành trình của Đức Giê-su để cùng nhau tìm đến với Người. Có lẽ họ đã vội vã bước đi không trì hoãn, vì khi Đức Giê-su xuống khỏi thuyền thì “một đám đông lớn” đã hiện diện ở đó.

3. Phản ứng của Đức Giê-su khi gặp dân chúng

Đối với Đức Giê-su, đây là cuộc gặp gỡ bất ngờ. Đức Giê-su muốn lánh ra một nơi hoang vắng không có ai, nhưng khi ra khỏi thuyền thì Người lại thấy “một đám đông lớn” (polun okhlon).” “Đám đông lớn” này là do “các đám đông” từ nhiều thành phố đổ về. Chính họ đã làm cho nơi hoang vắng trở thành nơi quy tụ và gặp gỡ. Đức Giê-su đã phản ứng thế nào và Người làm gì với đông đảo dân chúng trong nơi hoang vắng này?

Một đàng Đức Giê-su “muốn” lánh vào nơi hoang vắng, một đàng dân chúng “muốn” gặp Đức Giê-su, hai “ý muốn ngược nhau” này đã tạo nên một cuộc gặp gỡ độc đáo. Có thể ví đây là một cuộc gặp gỡ bất ngờ và thú vị giữa một bên là “những người hâm mộ Đức Giê-su” (họ nhận ra quyền năng và lòng thương xót của Người) và một bên là “người được hâm mộ” (Đức Giê-su là Người đem đến sự sống và sức sống cho dân chúng). Đây là cuộc gặp gỡ của lòng mến, của lòng ái mộ. Vì thế, cho dù không chờ đợi và bất ngờ, Đức Giê-su đã “chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ” (14,14).

Ở nơi hoang vắng, cuộc gặp gỡ đề cao sự thân mật và chia sẻ. Điều lạ là những gì Đức Giê-su làm cho dân chúng trong ngày hôm đó chỉ tóm gọn trong mấy chữ: “Chữa lành các bệnh nhân của họ” (14,14), bởi vì câu tiếp theo đã nói đến chia tay vì đã xế chiều. Tác giả kể: “Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người: ‘Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn’” (14,15). Như thế, theo mạnh văn, suốt ngày hôm đó Đức Giê-su “sống với” và “chia sẻ” với dân chúng bằng cách bày tỏ “lòng thương xót” và “chữa lành bệnh nhân của họ”.

Có thể nói, điều dân chúng cần là “chia sẻ” và “ở với” họ chứ không phải là “nghe giảng”. Đức Giê-su trong đoạn Tin Mừng hôm nay không giảng dạy. Bản văn không trình bày Đức Giê-su như một thầy dạy, nhưng như một mục tử. Người thực hiện vai trò mục tử: Yêu thương chăm sóc đoàn chiên, cụ thể là nuôi ăn qua trình thuật hoá bánh ra nhiều trong phần chính của bài Tin Mừng (14,15-21).

4. Phép lạ bánh hoá nhiều và vai trò của các môn đệ

Nếu như việc đám đông đến với Đức Giê-su là sáng kiến của chính họ, thì các môn đệ là những người đã lo lắng đến của ăn cho đám đông. Chính các môn đệ đi bước trước, các ông đã đề nghị với Đức Giê-su một giải pháp khi nói: “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn” (14,15). Lời đề nghị này cho thấy các môn đệ trong bản văn giữ vai trò chủ động. Nhờ gợi ý của họ mà Đức Giê-su thực hiện phép lạ bánh hoá nhiều. Sau lời đề nghị của các môn đệ, Đức Giê-su nói với họ: “Họ không cần đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn” (14,16).

Qua câu nói trên, Đức Giê-su đề cao vai trò của các môn đệ khi nói khẳng định chính các môn đệ sẽ cho dân chúng ăn. Thật vậy, sau khi Đức Giê-su cần lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, Người bẻ bánh ra, trao cho môn đệ và “môn đệ trao cho dân chúng” (14,19). Mạch văn cho phép hiểu: Đức Giê-su làm phép lạ, nhưng chính các môn đệ “cho dân chúng ăn”. Trình thuật đề cao sự cộng tác tích cực của các môn đệ vào vai trò mục tử của Đức Giê-su.

5. Những con số trong phép lạ

Cuối trình thuật phép lạ bánh hoá nhiều, Tin Mừng nói trực tiếp đến dân chúng và các môn đệ qua những con số: “Ai nấy đều ăn và được no nê. Người ta thu lại những miếng còn thừa được 12 giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con” (14,20-21). Quyền năng của Đức Giê-su tỏ lộ cách gián tiếp qua các chi tiết liên quan đến đám đông và các môn đệ: “Mọi người ăn no nê”, “dư 12 giỏ đầy” với một số lượng lớn người ăn: “5.000 người đàn ông không kể đàn bà và trẻ.”

Độc giả có thể liên tưởng con số 12 với 12 Tông Đồ. 12 giỏ bánh có hai đặc tính: “đầy” và “dư”. “Dư” không phải là thứ bỏ đi mà là thứ còn lại sau khi đã ăn và ăn no nê. Trong mạch văn, “12 giỏ đầy bánh còn dư” vừa là bằng chứng hiển nhiên về phép lạ bánh hoá nhiều, vừa ám chỉ sự dồi dào của lương thực Đức Giê-su ban tặng, vừa gợi ý đến sự cộng tác của Nhóm 12 Tông Đồ vào vai trò mục tử của Đức Giê-su là Đấng có khả năng làm no thoả khát vọng của con người.

Bài Tin Mừng kết thúc với con số 5.000 người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con (14,21). Chi tiết này cho biết cụ thể “các đám đông” từ “các thành phố” (14,13), đi theo Đức Giê-su là bao nhiêu. Con số: “hơn 5.000 thực khách” tạo ra tương phản mạnh mẽ trong phép lạ bánh hoá nhiều. Một bên là “nơi hoang vắng”, không có người qua lại, không có của ăn, một bên là “một bữa ăn no thoả” cho một đám đông hơn 5.000 người. Đồng thời, tạo nên tương phản giữa “ít” (5 chiếc bánh và 2 con cá) và “nhiều”, dồi dào, phong phú (hơn 5.000 người ăn no nê và còn dư 12 giỏ đầy).

Ẩn phía sau câu chuyện, Đức Giê-su là nhân vật chính của bài Tin Mừng, tuy nhiên, trong cách kể chuyện, tác giả đề cao sáng kiến tìm gặp Đức Giê-su của đám đông, và đề cao vai trò của các môn đệ. Sau một thời gian thi hành sứ vụ rao giảng và chữa lành, đoạn văn Mt 14,13-21 cho thấy phần nào sự thành công của Đức Giê-su. Cụ thể là đám đông dân chúng tự nguyện tìm đến với Người và các môn đệ đã tích cực cộng tác với Người trong sứ vụ mục tử.

Đặc biệt bài Tin Mừng hôm nay không nói đến nội dung giáo huấn của Đức Giê-su, Người không giảng dạy trong đoạn Tin Mừng này. Trình thuật đề cao nhu cầu của dân chúng: “tìm đến” và “gặp gỡ” Đức Giê-su, để được Người chữa lành và được Người nuôi dưỡng bằng lương thực tâm linh dồi dào phong phú mà phép lạ bánh hoá nhiều là hình ảnh.

6. Kết luận

Đầu bài Tin Mừng, dân chúng chủ động đến với Đức Giê-su, giữa bài Tin Mừng các môn đệ giữ vài trò quan trọng trong việc cho dân chúng ăn. Cuối bài Tin Mừng các môn đệ và dân chúng được đề cập đến: “Ai nấy đều ăn và được no nê.” Những gì được thuật lại trong bài Tin Mừng Mt 14,13-21 cho thấy sự trưởng thành của đám đông và của các môn đệ. Đám đông dân chúng nhanh chóng loan tin cho nhau và cùng nhau tìm đến với Đức Giê-su. Nhóm các môn đệ đã giữ vai trò chủ động khi họ đề nghị Đức Giê-su tìm cách cho dân chúng ăn. Đức Giê-su đã đề cao sự cộng tác của các môn đệ khi Người nói: “Chính anh em hãy cho họ ăn”. Các môn đệ đã góp phần đắc lực vào sứ vụ mục tử của Đức Giê-su.

Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su giữ vai trò thụ động, nhưng trình thuật cho thấy Người đã thành công trong sứ vụ rao giảng và Người đang thi hành sứ vụ mục tử qua những hành động yêu thương, chăm sóc và nuôi dưỡng đàn chiên. Tuy nhiên, sự chủ động của các nhân vật “đám đông dân chúng” và “các môn đệ” làm cho các nhân vật này trở thành nhân vật chính của đoạn Tin Mừng Mt 14,13-21. Độc giả có thể rút ra hai lời mời gọi từ bản văn:

-   Tin Mừng Mt 14,13-21 mời gọi độc giả hãy như đám đông: Loan tin cho cho mọi người biết Đức Giê-su để trở thành “các đám đông” từ “các thành phố” cùng nhau tìm đến với Người. Nhờ đó, chúng ta được gặp gỡ Người, được ở với Người, được chia sẻ, được chữa lành và được Người nuôi dưỡng.

-   Tin Mừng Mt 14,13-21 mời gọi độc giả hãy như các môn đệ: Tích cực tham gia vào sứ vụ mục tử của Đức Giê-su. Chính Đức Giê-su làm phép lạ bánh hoá nhiều, nhưng Người muốn các môn đệ “hãy cho dân chúng ăn”, hãy phân phát bánh và cá cho mọi người. Độc giả được mời gọi trở thành những người cộng tác viên để tiếp nối sứ vụ của Đức Giê-su./.


Ngày 24 tháng 07 năm 2011.

19/07/2011

Kỹ thuật hành văn: “Ý nghĩa câu chuyện” bộc lộ qua “cách thức kể chuyện” (Lc 7,36-50)




Bản văn Lc 7,36-50 (NPD/CGKPV)

36 Có người thuộc nhóm Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su dùng bữa với mình. Đức Giê-su đến nhà người Pha-ri-sêu ấy và vào bàn ăn.
37 Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm.
38 Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.
39 Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: "Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!"
40 Đức Giê-su lên tiếng bảo ông: "Này ông Si-môn, tôi có điều muốn nói với ông!" Ông ấy thưa: "Dạ, xin Thầy cứ nói."
41 Đức Giê-su nói: "Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục.
42 Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?"
43 Ông Si-môn đáp: "Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn." Đức Giê-su bảo: "Ông xét đúng lắm."
44 Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Si-môn: "Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau.
45 Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi.
46 Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi.
47 Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít."
48 Rồi Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Tội của chị đã được tha rồi."
49 Bấy giờ những người đồng bàn liền nghĩ bụng: "Ông này là ai mà lại tha được tội?"
50 Nhưng Đức Giê-su nói với người phụ nữ: "Lòng tin của chị đã cứu chị. Chị hãy đi bình an."

1. Dẫn nhập

Cách sắp xếp các chi tiết trong bài Tin Mừng Lc 7,36-50 là một ví dụ về ý nghĩa câu chuyện được chuyển tải qua cách thức kể chuyện. Qua cách kể chuyện, tác giả có thể muốn nói với độc giả rằng: Những giá trị, những điều được đánh giá cao và được nhiều người chấp nhận theo tiêu chuẩn trong xã hội, thì Đức Giê-su lại đảo ngược thang giá trị đó. Ngược lại, những điều mà tiêu chuẩn chung xem là không thích hợp, không xứng đáng thì Đức Giê-su lại đánh giá cao theo một chuẩn mực khác. Trình thuật có khả năng chuyển tại được thông điệp này nhờ cách sắp xếp các tình tiết trong câu chuyện. Trong đoạn văn Lc 7,36-50, nếu theo thứ tự thời gian thì những gì đã xảy ra trải qua 6 bước:

1. Người Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su đến dùng bữa.
2. Ông ta bỏ qua những việc làm để bày tỏ sự đón tiếp Đức Giê-su.
3. Một phụ nữ tội lỗi đi vào và thực hiện những cử chỉ tiếp đón lạ thường.
4. Người Pha-ri-sêu lên tiếng phản đối.
5. Đức Giê-su không đồng ý với ông ta và Người giải thích.
6. Người phụ nữ được tha tội vì yêu mến nhiều.

Chúng ta cùng tìm hiểu cách thức kể chuyện trong đoạn văn Lc 7,36-50 để xem tác giả kể theo thứ tự nào và thông điệp của bản văn là gì?

2. Phần đầu câu chuyện (Lc 7,36-39)

Tác giả không kể câu chuyện theo thứ tự thời gian qua các bước như trên. Bước thứ 2: “Người Pha-ri-sêu không đón tiếp Đức Giê-su” được kể ở cuối câu chuyện để so sánh hai ý tưởng: “những gì người phụ nữ đã làm” và “những gì ông Si-môn đã không làm”. Cách kể chuyện bỏ qua bước thứ 2 ở đầu câu chuyện làm cho độc giả, khi đọc phần đầu câu chuyện, sẽ đánh giá cao người Pha-ri-sêu và đồng ý với nhận định của ông ấy về người phụ nữ tội lỗi.

Chuyện kể như sau: “Có người thuộc nhóm Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su dùng bữa với mình. Đức Giê-su đến nhà người Pha-ri-sêu và vào bàn ăn” (7,36). Nếu chỉ có thế, thì đây là một người tốt. Người Pha-ri-sêu quý trọng Đức Giê-su và mời Người đến nhà dùng bữa. Đức Giê-su đã “vào bàn ăn” với ông ấy như thể mọi chuyện diễn tiến tốt đẹp.

Tiếp đến, câu chuyện kể về người phụ nữ: “Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên” (7,37-38). Theo quy ước của xã hội thời đó, người đọc có thể kết luận: Người phụ nữ này không tốt vì là “người tội lỗi trong thành” và đã xử sự không phải phép. Đức Giê-su đang ăn mà lại khóc lóc và làm những hành động bày tỏ tình cảm không bình thường.

Cứ lẽ thường, khi đọc phần đầu câu chuyện, độc giả đồng ý với nhận định của ông Si-môn: Nếu Đức Giê-su là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai: “một người tội lỗi” (7,39). Người đọc có thể đồng ý, vì cho đến lúc này, bản văn cho phép đánh giá ông Si-môn là người tốt. Như thế, cách kể phần đầu câu chuyện làm cho người đọc hiểu rằng: Người Pha-ri-sêu là hiếu khách; còn người phụ nữ là người vừa tội lỗi, vừa làm những hành động chướng tai gai mắt. Nhưng phần sau câu chuyện đã làm đảo lộn hoàn toàn nhận định này.

3. Phần cuối câu chuyện (Lc 7,40-50)

Trong phần cuối câu chuyện (Lc 7,40-50), Đức Giê-su làm đảo lộn mọi thứ. Điều độc đáo trong cách kể chuyện là những thiếu sót của người Pha-ri-sêu mà theo thứ tự thời gian là bước thứ 2 (thuộc phần đầu câu chuyện), thì tác giả lại kể trong phần sau và đặt song song để so sánh “những gì người phụ nữ đã làm” (tiếp đón Đức Giê-su) và “những gì người Pha-ri-sêu không làm” (không tiếp đón Đức Giê-su).

Câu nói của Đức Giê-su có nét châm biếm khi Người nói với Si-môn: “Ông thấy người phụ nữ này chứ?” Trong khi ông ta đang chăm chú nhìn người phụ nữ và đánh giá chị ta, hơn nữa sự hiện diện của người phụ nữ làm ông ấy khó chịu và trách luôn cả Đức Giê-su, thì Đức Giê-su lại hỏi: “Ông thấy người phụ nữ này chứ?” Thực ra, dường như có cái gì đó nơi người phụ nữ mà ông Si-mon đã không thấy, không nhận ra, không biết. Đồng thời, câu hỏi: “Ông thấy người phụ nữ này chứ?” cũng dành cho độc giả. Tác giả mời gọi độc giả hãy chú ý để “thấy” người phụ nữ, hãy “nhìn kỹ lại” những gì chị ta đã làm để đánh giá đúng hành động của chị. Chính Đức Giê-su đã chỉ ra cho ông Si-môn và độc giả cách hiểu đúng về “hành động” của người phụ nữ và hiểu đúng về “con người” của chị.

Sau khi kể dụ ngôn tình thương của hai con nợ được tha (Lc 7,41-43) để làm cơ sở cho cách lượng giá, Đức Giê-su so sánh từng điểm một giữa “những gì người phụ nữ đã làm cho Người” và “những gì ông Si-môn đã không làm cho Người.” Nhận định của Đức Giê-su đã lật ngược cách đánh giá bình thường theo tiêu chuẩn xã hội và tiêu chuẩn tôn giáo thời đó. Người nói với ông Si-môn: “Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi” (7,44-46).

Kiểu so sánh mạnh mẽ của Đức Giê-su qua cách thức kể chuyện đã làm đảo lộn thang giá trị. Bởi vì phần đầu bản văn cho phép người đọc nghĩ tốt về người Pha-ri-sêu thì đến lúc này, ông ấy không còn là người hiếu khách nữa và bị Đức Giê-su khiển trách. Còn người phụ nữ, phần đầu câu chuyện làm cho người đọc nghĩ đây là người phụ nữ không tốt, thì đến lúc này độc giả biết rằng chị ấy thực sự là người hiếu khách, người đã đón tiếp Đức Giê-su đúng mức và hành động của chị được Đức Giê-su đánh giá cao.

Đức Giê-su kết luận: “Tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều” (Lc 7,47). Đức Giê-su không xí xóa hay xem nhẹ tội của chị ta vì Người nói rõ: “Tội của chị ấy rất nhiều”. Điều quan trọng là cách hành động của chị mà trước đây người Pha-ri-sêu và cả độc giả đánh giá là chướng mắt thì Đức Giê-su lại đề cao, bởi vì hành động của chị được hiểu như là cách bộc lộ tình yêu chân chính, cách bày tỏ lòng sám hối quay trở về. Vì thế, Đức Giê-su tuyên bố: “Tội của chị đã được tha rồi” (Lc 7,48).

Ý nghĩa của bài Tin Mừng là chúng ta (độc giả) nên thận trọng với những đánh giá về người khác theo tiêu chuẩn giá trị trong xã hội mình đang sống, kể cả những tiêu chuẩn tôn giáo có sẵn, bởi vì người Pha-ri-sêu đã đánh giá thấp người phụ nữ tội lỗi theo văn hóa tôn giáo thời đó. Bằng cách sắp xếp các tình tiết, Đức Giê-su trong trình thuật đã đảo ngược cách đánh giá của xã hội đương thời để làm nổi bật lên sự lượng giá của Thiên Chúa: Lấy tình yêu và sự sống làm tiêu chuẩn, đồng thời đề cao sự hối cải quay trở về của con người. Ngày nay, nhiều lúc độc giả cũng dựa vào những tiêu chuẩn có sẵn để đánh giá người khác. Trình thuật Lc 7,36-50 mời gọi chúng ta biết cách nhìn và cách lượng giá theo đề nghị của Đức Giê-su.

4. Kết luận

Chỉ cần thay đổi thứ tự trong cách kể chuyện, tác giả đã làm nên một trình thuật độc đáo, tạo nên sức mạnh cho bản văn và chuyển tải được ý nghĩa câu chuyện.

Nếu theo thứ tự thời gian thì câu chuyện gồm các bước:
Phần đầu câu chuyện:
1. Người Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su đến dùng bữa.
2. Ông ta không làm cử chỉ tiếp đón tiếp Đức Giê-su.
3. Một phụ nữ tội lỗi đi vào và làm những hành động không bình thường theo cách lượng giá của nhiều người.
4. Người Pha-ri-sêu lên tiếng phản đối.
Phần cuối câu chuyện:
5. Đức Giê-su không đồng ý với ông ta và Người giải thích.
6. Người phụ nữ được tha tội vì yêu mến nhiều.

Nhưng tác giả kể câu chuyện theo thứ tự sau:
Phần đầu câu chuyện:
1. Người Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su đến dùng bữa.
2. Không kể bước thứ hai này.
3. Một phụ nữ tội lỗi đi vào và làm những cử chỉ xem ra chướng tai gai mắt.
4. Người Pha-ri-sêu lên tiếng phản đối.
Phần cuối câu chuyện:
5 + 2. Đức Giê-su không đồng ý với ông Si-môn và Người giải thích. Tác giả kể bước thứ 2 trong phần giải thích này và đặt song song “cử chỉ đón tiếp của người phụ nữ” với “thiếu sót của ông Si-môn”. Cách kể chuyện này đề cao hành động của người phụ nữ và làm lộ ra điểm yếu của người Pha-ri-sêu.
6. Người phụ nữ được tha tội vì yêu mến nhiều.

Bằng cách đảo lộn thứ tự câu chuyện theo thời gian (kể bước thứ hai trong phần sau), tác giả đã vẽ lên một bức tranh độc đáo với những tương phản mạnh mẽ, vừa châm biếm, vừa hài hước, vừa chuyển tải được ý tưởng thần học quan trọng của bản văn.

Giáo huấn của Đức Giê-su mời gọi độc giả thận trọng khi đánh giá người khác dựa trên những tiêu chuẩn và những giá trị có sẵn trong xã hội. Đức Giê-su đảo lộn cách suy nghĩ theo những giá trị sẵn có để đề cao Tình yêu. Đó là tình yêu từ cả hai phía: Tình yêu từ phía con người, vì người phụ nữ tội lỗi đã yêu mến nhiều nên được tha nhiều. Tình yêu từ phía Thiên Chúa, vì Đức Giê-su đã đón nhận và đánh giá cao cách bày tỏ tình yêu chân chính của chị ấy./.

Ngày 19 tháng 07 năm 2011.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
Email: josleminhthong@gmail.com


10/07/2011

Bản văn Kinh Thánh




Dưới đây là một số đường link các trang web cung cấp 
BẢN VĂN KINH THÁNH tiếng gốc Híp-ri, Hy Lạp và các bản dịch.
Các trang web này giúp đọc bản văn và học hỏi Kinh Thánh.


I. BẢN VĂN TÂN ƯỚC HY LẠP

II. BẢN VĂN CỰU ƯỚC HÍP-RI VÀ HY LẠP (BẢN LXX)

III. CÔNG CỤ HỌC HỎI KINH THÁNH ONLINE
Công cụ học hỏi Kinh Thánh. [biblos].




17/06/2011

Mt 5,43-48: “Hãy yêu kẻ thù”, nhưng “kẻ thù” là ai và “yêu” như thế nào?



Nội dung

Dẫn nhập
1. Luật “yêu người thân cận và ghét kẻ thù” 
2. “Yêu” và “ghét” trong Tin Mừng Nhất Lãm 
3. “Kẻ thù” là ai?
a. “Kẻ thù” (ekhthros) có thể là người nhà
b. “Kẻ thù” (ekhthros) là quân thù, quân đối nghịch
c. “Kẻ thù” (ekhthros) là quỷ
4. “Yêu kẻ thù” là yêu ai?
a. Yêu thương kẻ chống lại niềm tin của mình
b. Yêu thương kẻ thù nghịch vì xung đột quyền lợi
5. “Yêu kẻ thù” là yêu như thế nào?
a. “Yêu kẻ thù” là yêu người người thân cận
b. “Yêu kẻ thù” là hoạ lại tình yêu của Cha trên trời 
c. “Yêu kẻ thù” là tin tình yêu sẽ chiến thắng hận thù
d. “Yêu kẻ thù” là cầu nguyện cho kẻ ngược đãi mình   
e. “Yêu kẻ thù” là hành động đức tin
Kết luận