15 mai 2011

Tìm hiểu TM Mc: “Bí mật công khai.” Cấm không được nói mà ai cũng biết!



Nội dung

Dẫn nhập
1. Đức Giê-su cấm thần ô uế và quỷ nói về Người
2. Cấm những người được chữa lành nói về Đức Giê-su
3. Cấm các môn đệ nói về Đức Giê-su
Kết luận


Dẫn nhập

Người đọc sẽ ngạc nhiên trong cách trình bày của Tin Mừng Mác-cô về đề tài tương phản và nghịch lý: “Bí mật công khai.” Làm thế nào “bí mật” lại có thể đi với sự đối lập là “công khai”? Điều lạ lùng là Đức Giê-su đã nhiều lần cấm các nhân vật trong Tin Mừng Mác-cô nói về Người, nhưng lệnh cấm đó thường là không được tuân giữ. Một đàng thì “càng cấm càng nói” (x. Mc 7,36); một đàng thì điều Đức Giê-su cấm, mọi người đều biết. Đây có thể là điểm độc đáo và riêng biệt của Tin Mừng Mác-cô: Dùng cách trình bày nghịch lý để chuyển tải những mặc khải thần học thú vị.   

Trong Tin Mừng Mác-cô, một số đoạn văn nói đến việc Đức Giê-su cấm thính giả nói về Người: Mc 1,25.44; 3,12; 5,43; 7,36; 8,30; 9,9. Người ta thường gọi đây là đề tài “Bí mật về tư cách Mê-si-a của Đức Giê-su trong Tin Mừng Mác-cô” và giải thích rằng: Đức Giê-su cấm không cho tiết lộ về tư cách Mê-si-a để tránh hiểu lầm. Người cần thời gian để làm rõ vai trò Mê-si-a của Người.

Cách hiểu này có tính lịch sử và nếu chỉ hiểu như thế thì chưa lột tả hết ý nghĩa thần học của Tin Mừng Mác-cô liên quan đến đề tài “bí mật công khai”. Khi Tin Mừng Mác-cô trình bày cách nghịch lý: “Bí mật nhưng ai cũng biết”, “càng cấm càng loan truyền về Đức Giê-su”, có thể đề tài này muốn nói với độc giả điều gì đó.

Để phân tích đề tài “bí mật công khai”, phần sau trả lời các câu hỏi: Đức Giê-su đã cấm những đối tượng nào nói về Người? Cấm trong hoàn cảnh nào? Cấm điều gì? Lệnh cấm có được thực hiện hay không? Để từ đó có thể tìm ra ý nghĩa thần học của đề tài “bí mật công khai” trong Tin Mừng Mác-cô. Đức Giê-su cấm ba nhóm nhân vật nói về Người:
1. Thần ô uế và quỷ.
2. Những người được chữa lành.
3. Các môn đệ.

1. Đức Giê-su cấm thần ô uế và quỷ nói về Người

Ngay từ lần rao giảng đầu tiên trong hội đường, Đức Giê-su đã trục xuất thần ô uế và cấm thần ô uế nói về Người. Câu chuyện Đức Giê-su giảng dạy và trục xuất thần ô uế (Mc 1,21-28) được trình bày cách lạ lùng và nghịch lý như sau:

(Bản văn Tin Mừng Mác-cô trong bài viết này lấy trong: Giu-se Lê Minh Thông, Tin Mừng Mác-cô, Hy Lạp – Việt, 2011, sắp xuất bản).

Mc 1,21-28
1,21 Đức Giê-su và các môn đệ đi vào Ca-phác-na-um, và tức khắc, đi vào trong hội đường ngày sa-bát, Người giảng dạy. 22 Họ sửng sốt về lời giảng dạy của Người, vì Người giảng dạy họ như một Đấng có uy quyền, chứ không như các kinh sư. 23 Lập tức, trong hội đường của họ, có một người bị thần ô uế nhập, người ấy la lên 24 nói rằng: “Nào có gì giữa chúng tôi và Ông, Ông Giê-su Na-da-rét? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ông là ai, là Đấng Thánh của Thiên Chúa.” 25 Nhưng Đức Giê-su quát mắng nó và nói: “Hãy câm đi và hãy xuất khỏi người này.” 26 Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét một tiếng lớn và xuất khỏi người ấy. 27 Mọi người đều kinh ngạc đến nỗi bàn tán với nhau rằng: “Điều này là gì? Giáo huấn mới mẻ, kèm theo uy quyền. Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng tuân lệnh Ông ta.”

Tại sao Đức Giê-su ra lệnh cho thần ô uế “câm đi” (1,25), không được nói, trong khi thần ô uế nói đúng về Người: “Tôi biết Ông là ai, là Đấng Thánh của Thiên Chúa”? (1,24). Tại sao Đức Giê-su ra lệnh “câm đi” khi thần ô uế đã nói rồi? Nghĩa là cử toạ trong trình thuật và độc giả đều biết rõ thần ô uế nói gì. Đức Giê-su cấm thần ô uế nói điều mà ai cũng đã nghe, đã biết, điều này có ý nghĩa gì?

Đức Giê-su ra lệnh cho thần ô uế câm đi, vì tự bản chất, thần ô uế đối lập với Đấng Thánh. Thần ô uế không có tư cách để nói sự thật về Đức Giê-su. “Thần ô uế” (to pneuma to akatharton) ở đây thuộc về “quỷ” (ho diabolos), vì trong trình thuật song song giữa Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca (Mc 1,23 // Lc  4,33), Lu-ca ghép chung “thần ô uế”  (to pneuma to akatharton) với “quỷ” (to daimonion) khi viết Lc 4,33 viết: “Trong hội đường, có một người bị quỷ thần ô uế nhập (pneuma daimoniou akathartou).” Tin Mừng Gio-an định nghĩa về quỷ như sau: “Quỷ không đứng trong sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói, nó nói theo bản tính của nó là sự gian dối, vì nó là kẻ nói dối, và là cha của sự gian dối” (Ga 8,44). Bởi vì quỷ không có sự thật nơi mình, nên thần ô uế không có khả năng nói sự thật, nhất là sự thật về Đức Giê-su.

Hơn nữa, thần ô uế tự cho mình “biết” khi nó nói với Đức Giê-su: “Tôi biết Ông là ai” (Mc 1,24b). Thực ra, chỉ có người của Thiên Chúa, chỉ có người thuộc về Thiên Chúa mới thực sự “biết” Đức Giê-su. Thần ô uế không thuộc về Thiên Chúa, thần ô uế nhập vào con người, làm cho con người bị tha hoá và xa rời Thiên Chúa, nên nó không thực sự biết Đức Giê-su. Vì thế, Người ra lệnh “hãy câm đi”. Thần ô uế không được nói, vì nó không thể nói sự thật. Đúng hơn, nó không có sự thật để nói. Sâu xa hơn, thần ô uế không có “lời” để nói, không có phương tiện để nói, vì nó phải nhập vào con người và mượn tiếng con người để nói.

Đặc biệt trong đoạn văn 1,21-28, thần ô uế phải câm, vì nó không thể là nhân vật đầu tiên nói về Đức Giê-su trong Tin Mừng Mác-cô. Đối với độc giả, lời của thần ô uế (1,24) là một thông tin quan trọng và đúng, nhưng tư cách của người nói lại không xứng đáng. Qua lời của thần ô uế, người thuật chuyện cung cấp cho độc giả một thông tin chính xác về Đức Giê-su, nhưng sau đó lại phủ nhận tư cách của người cung cấp thông tin đó. Qua cách hành văn như thế, người thuật chuyện muốn cho độc giả biết rằng chỉ có thông tin đúng mà thôi thì chưa đủ, điều quan trọng là tuyên xưng điều đó với lòng tin vào Đức Giê-su.

Nói đúng về Đức Giê-su với lòng tin là một hành trình dài. Con người cần học hỏi và lắng nghe giáo huấn của Đức Giê-su để dần dần khám phá ra Người là ai, từ đó sám hối và tin vào Người. Nói cách khác, chỉ con người mới có cơ may thực sự biết Đức Giê-su và nói đúng về Người.

Để nói đúng sự thật về Đức Giê-su, Người đã chọn một con đường khác. Đó là Đức Giê-su giải thoát con người khỏi thần ô uế, và mặc khải cho con người biết Người là ai. Cho dù, đối với con người, tiến trình học biết Đức Giê-su không đơn giản. Sự không hiểu của các môn đệ trong suốt Tin Mừng cho thấy rõ điều đó. Trong thực tế, loài người không biết rõ Đức Giê-su như thần ô uế, nhưng nếu con người đón nhận và tin vào Người thì có thể biết đúng và nói đúng về Người.

Tiến trình  “quỷ nói rồi cấm” như trên được lặp lại ở Mc 3,11-12 như một lời tóm kết: “11 Còn các thần ô uế, hễ thấy Người thì sấp mình dưới chân của Người và kêu lên rằng: ‘Ông là Con Thiên Chúa.’ 12 Và Người cấm ngặt chúng để chúng không làm Người bị lộ.” Nhiều lần Đức Giê-su cấm thần ô uế nói, nhưng nội dung điều cấm thì ai cũng biết: “Đức Giê-su là Con Thiên Chúa” (3,11). Lối hành văn độc đáo của Tin Mừng Mác-cô vừa cho độc giả biết Đức Giê-su là ai, vừa mời gọi độc giả đón nhận và tin vào Đức Giê-su để có thể nói về Người.

2. Cấm những người được chữa lành nói về Đức Giê-su

Một số trường hợp, Đức Giê-su cấm những người được chữa lành nói về Người. Tuy nhiên, sự cấm đoán này không thành công, vì Đức Giê-su càng cấm, họ càng loan truyền (1,44-45; 7,36). Vậy ý nghĩa của việc “không vâng lời” này là gì?
   
Sau khi chữa người phong hủi, Đức Giê-su nghiêm giọng đuổi anh ta đi ngay và nói: “Coi chừng, đừng nói gì với ai, nhưng anh hãy đi trình diện với tư tế, và vì anh đã được sạch, anh hãy tiến dâng những gì Mô-sê đã truyền, để làm chứng trước mặt họ” (1,44). Người thuật chuyện kể tiếp: “Nhưng vừa đi khỏi, anh ta đã bắt đầu rao giảng khắp nơi và loan truyền lời ấy, đến nỗi Người không thể công khai đi vào thành, Người đành ở những nơi hoang vắng bên ngoài và người ta từ khắp nơi đến với Người” (1,55).

Câu chuyện Đức Giê-su chữa người điếc và ngọng cũng tương tự như trường hợp trên. Người thuật chuyện kể ở 7,34-36: “34 Đức Giê-su ngước mắt lên trời, thở dài và nói với anh ta: ‘Ép-pha-tha’, nghĩa là ‘Hãy mở ra!’ 35 Và ngay Lập tức tai của anh ta mở ra, sự trói buộc lưỡi của anh ta được tháo ra, và anh ta nói được rõ ràng. 36 Người căn dặn họ là không được nói với ai. Nhưng Người càng căn dặn họ, họ càng loan truyền hơn nữa.” 

Một vài trường hợp khác, Đức Giê-su cấm những người được chữa lành nói về Người, nhưng chỉ nói cấm mà không cho biết người ta có tuân giữ hay không (5,43; 8,26). Người thuật chuyện kể việc Đức Giê-su cứu sống con gái ông trưởng hội đường ở 5,41-43 như sau: “41 Người cầm lấy tay đứa bé và nói với nó: ‘Ta-li-tha kum’, dịch ra là ‘Này cô bé, Thầy bảo con: Hãy trỗi dậy!’ 42 Và lập tức cô bé đứng dậy và đi lại, vì nó đã mười hai tuổi. Và lập tức, người ta sửng sốt kinh ngạc vô cùng. 43 Người căn dặn họ nhiều lần là không được để một ai biết việc ấy, và Người nói cho con bé ăn.” Trong câu chuyện chữa anh mù (8,24-26), Đức Giê-su chỉ dặn anh ta: “Anh đừng có vào làng” (8,26).

Tóm lại, cách trình bày độc đáo của Tin Mừng Mác-cô là kiểu hành văn nói về việc “không vâng lời Đức Giê-su”. Thực vậy, khi Người dặn đừng nói với ai về phép lạ Người đã làm thì họ lại “rao giảng khắp nơi” (1,55) và “Người càng căn dặn họ, họ càng loan truyền hơn nữa” (7,36). Lối hành văn độc đáo về sự “không vâng lời” này nói lên nhiều điều thú vị. Qua sự “không vâng lời”, người được chữa lành và những người chứng kiến phép lạ đã đề cao Đức Giê-su vì họ nhận ra việc Đức Giê-su làm là quá lớn lao, quá sức tưởng tượng. Niềm vui và hạnh phúc lớn đến nỗi họ không thể giữ kín và chỉ còn một cách duy nhất để diễn tả niềm vui  đó là “Càng cấm càng nói.” Họ làm thế để ca tụng Thiên Chúa và để nói cho mọi người biết Đức Giê-su là ai và Người đã làm gì. Họ mời gọi mọi người đến với Đức Giê-su để đón nhận sự sống đích thực ở nơi Người.

Kiểu hành văn lạ lùng như trên muốn nói với độc giả rằng khi tin vào Đức Giê-su, khi đón nhận sự sống từ nơi Người, khi được Người yêu thương và chữa lành các bệnh tật của tâm hồn và chữa lành con người khỏi cội rễ bệnh tật thân xác là sự chết, liệu độc giả có cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc lớn lao như những nhân vật trong Tin Mừng hay không? Liệu độc giả có dám thực hiện điều họ đã làm: “Càng cấm càng nói” để ca tụng Thiên Chúa và chia sẻ niềm vui lớn lao cho mọi người hay không? Như thế, trong Tin Mừng Mác-cô, “cấm” không phải để “giữ kín”, không phải để “không nói” mà là để làm cho “bí mật” trở thành “công khai”, và “rao giảng” cho mọi người biết điều Đức Giê-su “cấm nói”. Lối hành văn độc đáo và nghịch lý của Tin Mừng Mác-cô tạo sức mạnh cho bản văn và nói được nhiều điều thú vị với độc giả.    

3. Cấm các môn đệ nói về Đức Giê-su

Đức Giê-su cấm các môn đệ nói về Người ở 8,30; 9,9. Lần thứ nhất ở Mc 8,29-30: “29 Đức Giê-su hỏi các môn đệ: ‘Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?’ Phê-rô lên tiếng nói với Người: ‘Thầy là Đấng Ki-tô.’ 30 Đức Giê-su căn dặn các ông để các ông không nói với ai về Người.” Tiếp theo là trình thuật biến hình (9,2-8), sau khi ba môn đệ Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an được chứng kiến Đức Giê-su biến đổi hình dạng ở trên núi cao, người thuật chuyện kể: “9 Trong khi họ xuống núi, Người căn dặn họ để họ đừng kể lại cho ai những điều họ thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. 10 Các ông giữ lời dặn, tuy họ tranh luận với nhau: ‘Từ cõi chết sống lại’ nghĩa là gì” (Mc 9,9-10).

Theo bối cảnh của mạch văn, Đức Giê-su căn dặn các môn đệ đừng nói về Người, bởi lẽ, chính các môn đệ cũng chưa biết rõ Đức Giê-su là ai. Chỉ sau biến cố Thương Khó – Phục Sinh và khi các môn đệ đã lãnh nhận Thánh Thần, họ mới biết Đức Giê-su và biết tư cách Mê-si-a của Người. Đây là lúc họ rao giảng cho mọi người biết điều trước đây Đức Giê-su dặn họ đừng nói.

Như thế, Đức Giê-su căn dặn các môn đệ không được nói với ai, không phải là để giữ “bí mật” mà là để đến lúc thuận tiện thì “công khai” ra cho mọi người biết. Mục đích của “bí mật” là để “công khai”, để công bố, để rao giảng cho mọi người viết về căn tính của Đức Giê-su. 

Kết luận 

Đối với độc giả, trong tất cả các nơi Đức Giê-su cấm nói về Người trong Tin Mừng Mác-cô, độc giả đều biết nội dung điều cấm là gì, kể cả biến cố Đức Giê-su biến đổi hình dạng trên núi (9,2-8), độc giả cũng “có mặt” với ba môn đệ trên núi cao, được “chiêm ngưỡng” những gì ba môn đệ thấy và được “nghe” tiếng phát ra từ trời như ba môn đệ. Và lời Đức Giê-su dặn “đừng kể lại cho ai những điều đã thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại” cũng dành cho độc giả để mời gọi độc giả nối kết hoạt động công khai của Đức Giê-su với biến cố Thương Khó – Phục Sinh của Người. 

Qua câu chuyện, người thuật chuyện đã cho độc giả tham dự vào những gì riêng tư nhất trong câu chuyện về Đức Giê-su. Chẳng hạn, chuyện mà không một nhân vật nào trong Tin Mừng biết, chỉ có người thuật chuyện và độc giả biết, đó là lúc Đức Giê-su cầu nguyện một mình trong vườn Ghết-sê-ma-ni (14,36). Khi ấy ba môn đệ đang ở đằng kia và đang ngủ (14,37).

Trong tương quan tác giả – độc giả, không có “bí mật” trong Tin Mừng Mác-cô. Khi mà mọi người đều biết nội dung điều “bí mật”, thì không còn là “bí mật” nữa. Nói theo kiểu hành văn nghịch lý của Tin Mừng Mác-cô, đó là “bí mật công khai”. Các cách trình bày đề tài “bí mật công khai” trong Tin Mừng Mác-cô đều liên quan đến căn tính của Đức Giê-su. Đề tài này nhằm cho độc giả biết: Đức Giê-su là ai và Người đến trần gian để làm gì. Kiểu hành văn lạ lùng và độc đáo này trình bày ba ý nghĩa sau đây cho độc giả:

-   Thần ô uế và quỷ nói đúng về Đức Giê-su nhưng bị Người cấm không được nói. Điều này vừa cho độc giả biết Đức Giê-su là ai. “Người là Con Thiên Chúa”, nhưng để có thể nói điều đó thì cần đón nhận và tin vào Đức Giê-su. Quỷ biết đúng về Đức Giê-su nhưng không có tư cách để nói về Đức Giê-su vì quỷ chống lại Thiên Chúa và làm con người bị tha hoá. Như thế, chỉ các môn đệ mới có đủ tư cách để nói sự thật về Đức Giê-su.

-   Khi niềm vui và hạnh phúc của những người được Đức Giê-su chữa lành là quá lớn, lớn đến nỗi phải diễn tả bằng kiểu nói tương phản: “càng cấm, càng nói”, “càng cấm, càng rao giảng” về Đức Giê-su và về những gì Người đã thực hiện cho mình. Qua đó độc giả được mời gọi hãy sống niềm vui ấy, hãy làm theo cách thức của mình để tôn vinh Thiên Chúa, loan báo cho mọi người biết Đức Giê-su là ai và nói cho mọi người biết những gì Đức Giê-su đã làm cho mình.

-   Đức Giê-su căn dặn các môn đệ không được nói với ai là vì lúc đó các môn đệ chưa thực sự biết Đức Giê-su là ai. Đây cũng là lời căn dặn dành cho độc giả để độc giả đừng vội đánh giá Đức Giê-su theo bề ngoài, hay chỉ dựa vào những phép lạ của Đức Giê-su trong sứ vụ công khai của Người, cần đọc Tin Mừng cho đến biến cố Thương Khó – Phục Sinh. Chính biến cố nền tảng này sẽ bày tỏ sự thật về tư cách Mê-si-a của Đức Giê-su. Để từ đó, điều được “giữ kín” sẽ được công bố, được rao giảng “công khai”. Độc giả được mời học biết về Đức Giê-su, biết đúng, hiểu đúng, nói đúng về Người; từ đó, lên đường rao giảng về Đức Giê-su như các môn đệ đã làm.

Có thể nói, trong Tin Mừng Mác-cô không có đề tài “bí mật”. Tin Mừng Mác-cô không muốn giữ bí mật điều gì cả, ngược lại, điều Tin Mừng Mác-cô nhắm tới là “sự công khai”. Nhưng ai là người có đủ tư cách để “công khai” và “công khai điều gì? Qua lối hành văn độc đáo của Tin Mừng Mác-cô về đề tài “bí mật công khai”, độc giả nhận ra ba điều kiện để rao giảng về Đức Giê-su: 
1) Tư cách của người nói (tin và đón nhận Đức Giê-su).
2) Nhận ra niềm vui và hạnh phúc sâu xa trong tâm hồn để không thể im lặng, mà ra đi loan báo điều Đức Giê-su đã làm cho mình.
3) Đón nhận biến cố Thương Khó và Phục Sinh của Đức Giê-su như là cách duy nhất để thực sự biết Đức Giê-su là ai. Đồng thời, độc giả cũng được mời gọi sống biến cố Vượt Qua đó.

“Bí mật công khai” là đề tài độc đáo riêng của Tin Mừng Mác-cô, được mệnh danh là Tin Mừng của “sự ngạc nhiên”, “lạ lùng” và “nghịch lý”. Qua đó Tin Mừng Mác-cô đã chuyển tải được những nét thần học đặc sắc và thú vị cho độc giả./.


Ngày 15 tháng 05 năm 2011
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

5 mai 2011

Tìm hiểu TM Mc: “Anh em ngu muội như thế sao?” (7,18) “Hành trình của các môn đệ” nói gì với độc giả?




Nội dung

Dẫn nhập
1. “Người ở trong” và “kẻ ở ngoài” (4,11) là ai? 
2. Đức Giê-su trách các môn đệ điều gì?
3. Hành trình “đi xuống” của Phê-rô, Tông Đồ trưởng.
4. Các môn đệ “đi xuống” để độc giả có cơ may “đi lên”.
Kết luận


Dẫn nhập

Trong Tin Mừng Mác-cô, Đức Giê-su kêu gọi các môn đệ từ những chương đầu tiên (ch. 1–2): Si-môn và An-rê (1,16-18); Gia-cô-bê và Gio-an (1,19-20); Lê-vi (2,14). Sau đó Người thiết lập Nhóm Mười Hai (3,13-19) “để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng” (3,14). Theo mạch văn, Mc 4,11 đánh dấu một bước tiến triển mới. Sau khi Đức Giê-su giảng dạy đám đông bằng dụ ngôn “gieo giống”, Người nói với các môn đệ: “Mầu nhiệm Nước Thiên Chúa được ban cho anh em; nhưng những người kia là những kẻ ở ngoài, thì mọi sự xảy đến trong dụ ngôn” (4,11). Như thế, các môn đệ được Đức Giê-su đưa “vào trong”, các ông được Đức Giê-su tuyển chọn và huấn luyện để sai đi rao giảng (3,14). 

Nhưng khi đọc Tin Mừng, độc giả ngạc nhiên vì nhận thấy càng về cuối Tin Mừng các môn đệ càng không hiểu Đức Giê-su. Đức Giê-su đã trách các môn đệ “nặng lời” bằng những từ: “ngu muội”, “không hiểu”, “không biết” nhất là các môn đệ là những người “có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe” (8,18). Tại sao các môn đệ lại được trình bày theo chiều hướng “thụt lùi” như vậy? Tại sao Đức Giê-su lại trách các môn đệ nặng lời đến thế?

Khi bản văn Tin Mừng Mác-cô được viết ra cuối thập niên 60 (khoảng năm 67–69), Nhóm Mười Hai đã là những cột trụ trong Hội Thánh. Cùng với Phê-rô và Phao-lô, tất cả các Tông Đồ đã xác tín niềm tin vào Đức Giê-su, các ngài ra đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi. Các ngài đã can đảm làm chứng cho Tin Mừng và đã trung tín với Đức Giê-su cho đến chết. Vậy, câu chuyện về các môn đệ trong Tin Mừng Mác-cô có ý nghĩa gì?

Trình thuật Tin Mừng được viết ra cho cộng đoàn vào cuối thế kỷ I, những gì xảy ra cho các môn đệ trong Tin Mừng Mác-cô là nhằm gửi đến độc giả một sứ điệp. Vậy, sự “ngu muội” của các môn đệ nói gì với độc giả? “Sự cứng lòng tin của các môn đệ” có thể ám chỉ đến “sự cứng lòng tin của của độc giả” hay không? Có thể bản văn muốn nói nhiều điều quan trọng với độc giả qua nhóm nhân vật “các môn đệ” trong Tin Mừng Mác-cô.

Chúng ta cùng tìm hiểu “mặt tối” của nhóm các môn đệ trong Tin Mừng Mác-cô (cứng lòng, không biết, không hiểu) để may ra độc giả được “sáng lên” đôi điều chăng? (tin, biết, hiểu…). Để tìm hiểu hành trình “tụt dốc” của các môn đệ trong Tin Mừng Mác-cô, phần sau sẽ phân tích các mục:
1. “Người ở trong” và “kẻ ở ngoài” (4,11) là ai? 
2. Đức Giê-su trách các môn đệ điều gì?
3. Hành trình “đi xuống” của Phê-rô, Tông Đồ trưởng.
4. Các môn đệ “đi xuống” để độc giả có cơ may “đi lên”.

1. “Người ở trong” và “kẻ ở ngoài” (4,11) là ai? 

Theo trình thuật Tin Mừng Mác-cô, kể từ Mc 4,11-12, các môn đệ trở thành “những người ở trong”. Thực vậy, sau khi thuật lại việc Đức Giê-su nói với đám đông (có các môn đệ hiện diện) dụ ngôn gieo giống (Mc 4,1-9), người thuật chuyện tạm ngưng việc Đức Giê-su giảng dạy đám đông để thuật lại một câu chuyện khác, liên quan đến một nhóm nhỏ hơn: Các môn đệ và những kẻ ở chung quanh Đức Giê-su (không có đám đông dân chúng).

Người thuật chuyện kể ở Mc 4,10-12:
(Bản văn Tin Mừng Mác-cô trong bài viết này lấy trong: Giu-se Lê Minh Thông, Tin Mừng Mác-cô, Hy Lạp – Việt, 2011, sắp xuất bản).
4,10 Khi Người ở một mình, những kẻ ở chung quanh Người cùng với Nhóm Mười Hai, hỏi Người về các dụ ngôn.
11 Người nói với họ: “Mầu nhiệm Vương Quốc Thiên Chúa được ban cho anh em; nhưng những người kia là những kẻ ở ngoài thì mọi sự xảy đến trong các dụ ngôn,
12 để họ nhìn đi nhìn lại mà không thấy, nghe đi nghe lại mà không hiểu, kẻo họ trở lại và được tha thứ.”

Đoạn văn Mc 4,10-12 là phần chuyển tiếp giữa dụ ngôn gieo giống (4,1-9) và áp dụng dụ ngôn gieo giống (4,10-20). Đoạn văn 4,10-12 được đặt trong một khung cảnh khác: “Khi Người ở một mình, những kẻ ở chung quanh Người cùng với Nhóm Mười Hai, hỏi Người về các dụ ngôn” (4,10). Như thế, 4,10-12 là đoạn văn ở ngoài khung cảnh và thời gian của câu chuyện, vì việc Đức Giê-su giảng dạy dụ ngôn đặt trong bối cảnh Đức Giê-su ở trên thuyền và Người nói với đám đông ở trên bờ Biển Hồ (4,1). Đoạn văn chèn vào từ 4,10 sẽ kéo dài cho đến 4,25, trong phần này không có sự hiện diện của dân chúng. Sau đó, tiếp nối việc Đức Giê-su lại giảng dạy đám đông bằng dụ ngôn ở 4,26-32.

Theo mạch văn, phần nói với đám đông gồm ba dụ ngôn: Dụ ngôn gieo giống (4,1-9), dụ ngôn về đất tự sinh hoa trái (4,26-29) và dụ ngôn hạt cải (4,30-32). Phần nói riêng được chèn vào (4,10-25) nói với Nhóm Mười Hai và những kẻ ở chung quanh Người gồm có các phần: Áp dụng dụ ngôn gieo giống (4,10-20), hình ảnh cái đèn (4,21-23) và hình ảnh đấu đong (4,24-25).

Kiểu “hành văn chèn vào” này nhằm mục đích minh hoạ cho hoạt động của Đức Giê-su gồm hai giai đoạn được nói đến trong phần kết chương 4 ở Mc 4,33-34: “33 Với nhiều dụ ngôn tương tự, Người nói Lời cho họ theo như họ có thể nghe. 34 Người không nói với họ nếu không dùng dụ ngôn. Nhưng khi ở riêng, Người giải thích mọi điều cho các môn đệ của Người.” Như thế, hoạt động giảng dạy của Đức Giê-su gồm hai bước: (1) “Giảng dạy dân chúng bằng dụ ngôn” và (2) “Giải thích cho các môn đệ các dụ ngôn đó khi các môn đệ ở riêng với Người”. 

Câu hỏi đặt ra: Đại từ “anh em” (ngôi thứ hai số nhiều) tạm gọi là “những người ở trong” (4,11a) và những kẻ bản văn gọi là “những người kia là những kẻ ở ngoài” (4,11b) là ai? Ai là “những người ở trong”? Ai là “những kẻ ở ngoài”?

Có sự phân biệt giữa hai nhóm ở 4,11: (1) “Những kẻ ở chung quanh Người cùng với Nhóm Mười Hai” thì được ban cho “mầu nhiệm của Vương Quốc Thiên Chúa”. (2) “Những kẻ ở ngoài” thì mọi sự xảy đến trong dụ ngôn. Những kẻ ở ngoài có phải là đám đông hay không? Các nhà phê bình lịch sử cho rằng “những kẻ ở ngoài” ám chỉ những kẻ chống đối Đức Giê-su (phân biệt với đám đông). J. Lagrange cho rằng phân biệt “bên trong”, “bên ngoài” ở đây có tính nguyên tắc, đó là phân biệt giữa những kẻ thuộc về Đức Giê-su và tất cả những người không thuộc về Đức Giê-su.

Theo Tin Mừng Mác-cô, có thể hiểu “những kẻ ở ngoài” vào thời Đức Giê-su là các kinh sư, những người Pha-ri-sêu, gia đình Đức Giê-su đã chống lại và  không đón nhận Người. Vào thời cộng đoàn Mác-cô, “những kẻ ở ngoài” là tất cả những người ngoài cộng đoàn Ki-tô hữu (chống đối hay dửng dưng).

Điều lạ trong Tin Mừng Mác-cô là “các môn đệ” là “những người ở trong”, những người được chọn, được Đức Giê-su huấn luyện cách đặc biệt: Người giảng dạy đám đông bằng dụ ngôn “nhưng khi ở riêng, Người giải thích mọi điều cho các môn đệ của Người” (4,34). Được ở với Đức Giê-su, được huấn luyện riêng, nhưng càng về cuối Tin Mừng, các môn đệ càng “không hiểu”. Càng ngày Đức Giê-su càng trách các môn đệ nặng lời hơn. Những điều Đức Giê-su trách các môn đệ trong Tin Mừng Mác-cô theo dòng trình thuật là gì?

2. “Điểm yếu” của các môn đệ trong Tin Mừng Mác-cô.

a) Không hiểu (4,13)

Ngay trong chương 4 của Tin Mừng Mác-cô, vừa sau khi Đức Giê-su đã “ban cho các môn đệ mầu nhiệm của Vương Quốc Thiên Chúa” (4,11), Người lại nói về sự “thiếu hiểu biết” của các môn đệ. Đức Giê-su nói với họ: “Anh em không hiểu biết (ouk oidate) dụ ngôn này (dụ ngôn người gieo giống), thì làm sao hiểu được tất cả các dụ ngôn?” (4,13)

b) Nhát đảm, chưa có lòng tin (4,40)

Đến cuối chương 4, sự không hiểu biết của các môn đệ đã trở nên trầm trọng hơn. Câu chuyện xảy ra khi Đức Giê-su và các môn đệ đi thuyền ngang qua Biển Hồ.
Người thuật chuyện kể ở Mc 4,37-40:
37 Và xảy đến một trận cuồng phong lớn, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đã bị đầy ngập. 38 Còn Người, Người đang ở đàng lái, dựa vào chiếc gối mà ngủ. Các ông đánh thức Người và nói với Người: “Thưa Thầy, Thầy không lo là chúng ta chết sao?” 39 Người thức dậy, ngăm đe gió, và Người nói với biển: “Im đi. Câm đi.” Gió liền ngưng và biển hoàn toàn yên lặng. 40 Và Người bảo các ông: “Tại sao anh em nhát đảm (deiloi)? Anh em chưa có lòng tin sao (oupô ekhete pistin)?”

c) Ngu muội, không hiểu (7,18)

Đến chương 7, Đức Giê-su dạy đám đông và các môn đệ dụ ngôn liên quan đến điều làm cho con người ra ô uế, Người nói: “Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm ô uế người ấy, nhưng những gì từ trong con người ra mới làm cho người ta ô uế” (7,15). Người thuật chuyện kể tiếp: “Khi Người rời khỏi đám đông về nhà, các môn đệ của Người hỏi Người về dụ ngôn ấy” (7,17). Đức Giê-su trả lời họ: “18 Cả anh em nữa, anh em cũng ngu muội (asunetoi) như thế sao? Anh em không hiểu (ou noeite) rằng: Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm ô uế người ấy, 19 bởi vì nó không đi vào trong lòng người ấy, nhưng vào bụng và được thải ra ngoài?” (7,18).

d) Chưa hiểu, chưa nhận ra, lòng chai đá

Sang chương 8, trong câu chuyện liên quan đến “bánh” và “men Hê-rô-đê”, Đức Giê-su đã trách các môn đệ nặng lời. Trong đoạn văn đã có bảy câu hỏi (8,17.18.19.20.21) dành cho các môn đệ. Đọc đoạn văn 8,14-21 sẽ thấy “khả năng tri thức” của các môn đệ ở mức nào. Đức Giê-su đã hỏi các môn đệ đến bảy câu hỏi trong đó chỉ có hai câu được các môn đệ trả lời ngắn ngủi bằng những con số: 12 (8,19) và 7 (8,20). Đây là lối hành văn rất ngắn gọn và sinh động của Tin Mừng Mác-cô.

Mc 8,14-21
14 Và các ông quên đem bánh theo; chỉ có một cái bánh với các ông trên thuyền. 15 Người căn dặn các ông rằng: “Anh em hãy chú ý, hãy coi chừng men của những người Pha-ri-sêu và men của Hê-rô-đê.” 16 Các ông bàn tán với nhau là các ông không có bánh. 17 Biết thế, Người nói với họ: “Sao anh em lại bàn tán là anh em không có bánh? Anh em chưa nhận biết cũng chẳng hiểu ư? Sao lòng anh em vẫn còn chai đá thế? 18 Anh em có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe ư? Anh em không nhớ sao, 19 khi Thầy bẻ năm cái bánh cho năm ngàn người, anh em đã thu lại được bao nhiêu giỏ đầy mảnh vụn?” Các ông nói với Người: “Mười hai.” 20 “Và với bảy cái bánh cho bốn ngàn người, anh em đã thu lại được bao nhiêu thúng đầy mảnh vụn?” Các ông nói [với Người]: “Bảy.” 21 Người nói với các ông: “Anh em chưa hiểu ư?”

Đức Giê-su trách các môn đệ bằng bốn câu hỏi:
Anh em chưa nhận biết cũng chẳng hiểu ư? (8,17b)
Sao lòng anh em vẫn còn chai đá thế? (8,17c)
Anh em có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe ư? (8,18)
Anh em chưa hiểu ư? (8,21)

Điều lạ trong bản văn là người thuật chuyện “không cho các môn đệ trả lời” hay “thanh minh” về sự không hiểu biết của họ. Có lẽ bản văn muốn người khác trả lời chứ không phải các môn đệ. Vậy ai có thể trả lời những câu hỏi này? Chúng ta sẽ bàn tới trong phần sau.
     
Đặc biệt, câu trách nặng lời: “Có mắt không thấy, có tai mà không nghe” (8,18) làm cho các môn đệ trở thành “những người ở ngoài” như Đức Giê-su đã nói với các môn đệ ở 4,11-12: “11 Mầu nhiệm Vương Quốc Thiên Chúa được ban cho anh em; nhưng những người kia là những kẻ ở ngoài thì mọi sự xảy đến trong các dụ ngôn, 12 để họ nhìn đi nhìn lại mà không thấy, nghe đi nghe lại mà không hiểu, kẻo họ trở lại và được tha thứ.”

Điều châm biếm và hài hước là sự đảo lộn từ “bên trong” ra “bên ngoài” nơi nhóm nhân vật “các môn đệ”. Thực vậy, các môn đệ được Đức Giê-su lựa chọn, được đưa “vào trong”, “để các ông ở với Đức Giê-su và để Người sai các ông đi rao giảng” (3,14). Điều phân biệt “người ở trong” với “những kẻ ở ngoài là vì “Họ nhìn đi nhìn lại mà không thấy, nghe đi nghe lại mà không hiểu” (4,12). Nhưng đến chương 8, thì các môn đệ lại bị trách giống như “những kẻ ở ngoài”: “Anh em có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe ư?” (8,18). Điều trớ trêu là sau một hành trình dài 4 chương (Mc 4–8), các môn đệ là “người ở trong” đã trở thành “người ở ngoài” vì “không nghe”, “không thấy”, “không hiểu”, “ngu muội”, “nhát đảm” và “cứng lòng”.

Tin Mừng Mác-cô đã vẽ nên một bức tranh tương phản mạnh mẽ và độc đáo về nhóm nhân vật “các môn đệ”. Trước khi bước qua phần tìm hiểu ý nghĩa của bức tranh này, chúng ta cùng quan sát khuôn mẫu của sự đảo ngược từ “biết” thành “không biết” nơi môn đệ Phê-rô, người đứng đầu Nhóm Mười Hai.

3. Hành trình “đi xuống” của Phê-rô, Tông Đồ trưởng.

Nếu nhìn từ góc độ “điểm yếu” của Phê-rô, thì có thể nói hành trình của nhân vật Phê-rô trong Tin Mừng Mác-cô là hành trình đi xuống, đi từ “trong” ra “ngoài”, đi từ “biết” đến “không biết”, với những nét tương phản mạnh mẽ.

a) “Hãy đi sau Thầy, Xa-tan” (8,33).

Nhân vật Phê-rô được Đức Giê-su kêu gọi từ chương 1 và được Người giáo huấn đến chương 8. Ở 8,29, khi Phê-rô vừa tuyên xưng: “Thầy là Đấng Ki-tô” (8,29) thì lại bị Đức Giê-su quở trách: “Hãy đi sau Thầy, Xa-tan, vì anh không suy nghĩ  theo suy nghĩ của Thiên Chúa, nhưng theo suy nghĩ của loài người” (8,33). Phản ứng của Phê-rô sau lời Đức Giê-su báo trước biến cố Thương Khó và Phục Sinh (8,31) là “kéo Người ra và bắt đầu trách Người” (8,32). Hành động này cho thấy Phê-rô không hiểu đúng về tư cách Mê-si-a (Ki-tô) của Đức Giê-su. Lời mắng của Đức Giê-su rất nặng vì Phê-rô Tông Đồ trưởng đang làm việc của Xa-tan và được đồng hoá với Xa-tan, vì Đức Giê-su gọi Phê-rô là Xa-tan.

b) Quả quyết không chối nhưng lại chối Thầy.

Điểm yếu thứ hai của Phê-rô là ông quả quyết không bỏ Thầy, nhưng lại chối Thầy. Phê-rô quả quyết mạnh mẽ với Đức Giê-su trước các môn đệ khác: “Dù tất cả sẽ vấp ngã, nhưng con thì không” (14,29). Nhưng Đức Giê-su báo cho ông biết trước: “A-men, Thầy nói cho anh: Hôm nay, nội đêm nay, trước khi gà gáy hai lần, chính anh, anh đã chối Thầy ba lần” (14,30). Cứ sự thường, khi đã được báo trước thì sẽ không chối, nhưng Phê-rô lại chối Thầy ba lần đúng như Đức Giê-su đã báo trước (14,66-72). Người đọc có cảm giác là lời cảnh báo của Đức Giê-su không có tác dụng.

Nếu liệt kê hết các điểm yếu của các môn đệ trong Tin Mừng Mác-cô thì vẫn còn nhiều chi tiết cho thấy các môn đệ “chưa biết”, “chưa hiểu” Đức Giê-su là ai. Điều quan trọng hơn cần tìm hiểu là tất cả những phân tích trên liên quan đến những điểm yếu của các môn đệ có ý nghĩa gì cho độc giả. Tình trạng các môn đệ trong Tin Mừng Mác-cô nói gì với độc giả vào cuối thế kỷ I, và nói gì với độc giả qua mọi thời đại, là tất cả chúng ta?

4. Các môn đệ “đi xuống” để độc giả có cơ may “đi lên”.

Qua những “điểm yếu” của nhóm nhân vật “các môn đệ”  trong Tin Mừng Mác-cô như trên, độc giả đừng vội chê các môn đệ và tự hỏi: Tại sao các môn đệ lại chậm hiểu và cứng lòng tin như thế? Thực ra, việc người thuật chuyện trình bày các môn đệ từ “ở trong” thành “ở ngoài”, từ “biết Đức Giê-su” trở thành “không biết”, “không hiểu”, cũng như việc Phê-rô chối Thầy, là muốn nhắn gửi đến độc giả một điều gì đó. Có thể rút ra những ý nghĩa quan trọng qua cách trình bày độc đáo và tương phản của Tin Mừng Mác-cô về các môn đệ qua hai ý như sau:

1) Qua hành trình “đi xuống” của các môn đệ, độc giả nhận ra rằng: Không phải trở thành môn đệ Đức Giê-su là đương nhiên hiểu được Người. Qua đó, độc giả đừng tưởng rằng mình đã hiểu được Đức Giê-su rồi, không cần phải tìm hiểu hay học hỏi gì thêm nữa. Các môn đệ sống với Đức Giê-su, được Người dạy dỗ, mà chưa hiểu đúng về Người, thì độc giả cần cố gắng suốt cả đời để hiểu Đức Giê-su, để hiểu giáo huấn của Người. Đừng bao giờ nghĩ là mình đã biết, đã hiểu Đức Giê-su. Như thế, sự không biết, không hiểu của các môn đệ vừa là lời cảnh báo độc giả: Không dễ dàng để biết Đức Giê-su; vừa là lời mời gọi độc giả không ngừng học hỏi và suy gẫm để thấm nhuần giáo huấn của Người.

2) Con người và căn tính của Đức Giê-su là một huyền nhiệm. Những gì các môn đệ đã hiểu lầm, hiểu sai, đã bị Đức Giê-su trách, là để độc giả tránh và không hiểu như thế, không suy nghĩ như thế. Như vậy, hành trình “đi xuống” của các môn đệ là để độc giả có cơ may “đi lên”, nghĩa là biết đúng và hiểu đúng về Đức Giê-su.

Sự không hiểu của các môn đệ mời gọi độc giả đọc kỹ bản văn, tránh những cách hiểu sai đã bị Đức Giê-su quở trách.
Nhờ các môn đệ không hiểu, nên độc giả có những lời giải thích của Đức Giê-su. Những gì Đức Giê-su soi sáng cho các môn đệ cũng là điều Người soi sáng cho độc giả. Nhờ đó, độc giả có thể hiểu đúng về Đức Giê-su và hiểu đúng giáo huấn của Người.

Cách trình bày độc đáo của Tin Mừng Mác-cô về các môn đệ là các môn đệ từ chỗ “người ở trong” (insider) bị thành “người ở ngoài (outsider)”. Như vậy, độc giả có cơ may trở thành “người ở trong”, nghĩa là độc giả có thể hiểu đúng về Đức Giê-su. Nói cách khác, “những điểm yếu” của các môn đệ trở thành “những điểm mạnh” cho độc giả, vì nhờ đó độc giả có thể hiểu được Đức Giê-su, đón nhận Người và trở thành môn đệ của Người, nghĩa là thực sự trở thành “người ở trong”, được “ở với Đức Giê-su” và được “Người sai đi rao giảng” (3,14). Có thể minh hoạ tiến trình “ở trong” và “ở ngoài” theo sơ đồ sau:


Các môn đệ được Đức Giê-su chọn, trở thành môn đệ của Người, các ông được đưa vào trong từ 4,11, nhưng càng đọc Tin Mừng độc giả nhận ra các môn đệ càng ngày càng không hiểu Đức Giê-su. Đến chương 8, độc giả nhận thấy các môn đệ hoàn toàn bị đưa ra ngoài vì các môn đệ “có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe” (8,18). Điều này cũng là định nghĩa về “những kẻ ở ngoài” mà Đức Giê-su đã nói ở 4,12: “Họ nhìn đi nhìn lại mà không thấy, nghe đi nghe lại mà không hiểu”. 

Kiểu hành văn độc đáo này trong Tin Mừng Mác-cô là dành cho độc giả. Khi bắt đầu học Tin Mừng độc giả là “người ở ngoài”, vì chưa biết Đức Giê-su, nhưng nhờ sự không biết, không hiểu của các môn đệ, độc giả có cơ may biết đúng và hiểu đúng về Đức Giê-su để từ đó trở thành môn đệ của Người, nghĩa là trở thành “người ở trong”.
 
Kết luận

Khi nói về “điểm yếu” của các môn đệ trong trong Tin Mừng Mác-cô chúng ta không đánh giá thấp sự hiểu biết của các môn đệ. Chúng ta biết các môn đệ, nhất là Nhóm Mười Hai, đã sống trọn vẹn niềm tin vào Đức Giê-su, đã can đảm làm chứng đến hy sinh mạng sống mình, kể từ ngày Lễ Ngũ Tuần (Cv 2). Chúng ta không quên chính các Tông Đồ đã đặt nền tảng cho Hội Thánh tiên khởi và niềm tin của chúng ta dựa trên lời chứng của các Tông Đồ. Tuy nhiên, cách trình bày nhân vật các môn đệ trong Tin Mừng Mác-cô rất độc đáo, vì qua sự không hiểu của các môn đệ, bản văn nói với độc giả hai điều:

1) Đừng bao giờ nghĩ mình đã biết hết về Đức Giê-su, cần không ngừng tìm hiểu và học hỏi để hiểu đúng về Đức Giê-su và hiểu đúng về giáo huấn của Người, nghĩa là cần học hỏi suốt cả đời để làm môn đệ và để được ở với Người.

2) Tin Mừng Mác-cô không cho biết sau khi Đức Giê-su khiển trách, các môn đệ có hiểu hơn hay không. Chắc chắn là có hiểu hơn, nhưng bản văn không nói ra điều đó để độc giả tự trả lời. Vì trình thuật được viết ra cho độc giả, nên câu hỏi đặt ra cho độc giả: Qua sự không hiểu của các môn đệ, liệu độc giả có hiểu được Đức Giê-su hơn hay không? Liệu qua đó độc giả có hiểu đúng giáo huấn của Người hay không? Trong viễn cảnh này, có thể tóm kết “sự không hiểu của các môn đệ trong Tin Mừng Mác-cô” muốn nói với độc giả rằng:
 
-   Các môn đệ “không hiểu” dụ ngôn (4,13), để độc giả có thể “hiểu dụ ngôn”.
-   Các môn đệ “nhát đảm, chưa có lòng tin” (4,40), để độc giả đừng sợ hãi và hãy tin.
-   Các môn đệ “ngu muội” và “chưa thấu hiểu” (7,18), để độc giả có thể bớt ngu muội và thấu hiểu giáo huấn của Đức Giê-su (7,18).
-   Lòng các môn đệ còn “chai đá” (7,17), để lòng độc giả đừng chai đá.
-   Các môn đệ “có mắt mà không thấy, có tai mà không nghe” (8,18), để độc giả có thể thực sự thấy Đức Giê-su và có thể nghe giáo huấn của Người.
-   Phê-rô trở thành Xa-tan (8,33), để độc giả đừng là Xa-tan, nhưng hãy là môn đệ thực sự của Đức Giê-su.    
-   Phê-rô chối Thầy (14,68), để độc giả đừng chối Đức Giê-su dù phải chịu bắt bớ vì Người.

Với những gợi ý trên đây, sự kiện các môn đệ “đi xuống”, “đi ra ngoài” trong Tin Mừng Mác-cô thật sự đáng để độc giả suy gẫm để có thể “đi lên” và “đi vào trong”, nghĩa là để sống với Đức Giê-su và đón nhận giáo huấn của Người. Cách Tin Mừng Mác-cô trình bày nhóm nhân vật “các môn đệ” thực sự độc đáo và thú vị cho độc giả, nhưng chưa hết, hãy còn nhiều điểm độc đáo và thú vị khác nữa trong Tin Mừng Mác-cô đang chờ được khám phá và thưởng thức..../.      


Ngày 06 tháng 05 năm 2011
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.