28 décembre 2010

Mt 2,13-23: Sức mạnh trong yếu ớt, niềm vui trong nỗi đau


Cánh đồng Bê-lem ngày nay [24/11/2007]

Mt 2,13-23 (Bản dịch NPDCGKPV)
13 Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giu-se rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy!"
14 Ông Giu-se liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập.
15 Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập.
16 Bấy giờ vua Hê-rô-đê thấy mình bị các nhà chiêm tinh đánh lừa, thì đùng đùng nổi giận, nên sai người đi giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo ngày tháng ông đã hỏi cặn kẽ các nhà chiêm tinh.
17 Thế là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a:
18 "Ở Ra-ma, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ: tiếng bà Ra-khen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa.
19 Sau khi vua Hê-rô-đê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giu-se bên Ai-cập,
20 báo mộng cho ông rằng: "Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi."
21 Ông liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en.
22 Nhưng vì nghe biết Ác-khê-lao đã kế vị vua cha là Hê-rô-đê, cai trị miền Giu-đê, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Ga-li-lê,
23 và đến ở tại một thành kia gọi là Na-da-rét, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng: Người sẽ được gọi là người Na-da-rét.

Chia sẻ
Dẫn nhập
Đoạn Tin Mừng Mt 2,13-23 trình bày hai đề tài chính:
1) Tương phản giữa sức mạnh và sự yếu ớt, giữa quyền lực của vua Hê-rô-đê và không chút quyền lực nào của Thánh Gia. Sự tương phản làm lộ ra cách Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử nhân loại. Phải chăng Thiên Chúa bày tỏ sức mạnh của Người trong chính sự yếu ớt và không quyền hành?
2) Tương phản thứ hai xoay quanh “niềm vui” và “nỗi buồn”. Điều nghịch lý là thay vì Đấng Cứu Tinh xuất hiện đem lại niềm vui cho con người, thì lại dẫn đến đau thương và nước mắt. Làm thế nào để nối kết niềm vui Giáng Sinh với nỗi đau của những người mẹ mất con? (2,18) Đâu là niềm vui đích thực trong biến cố Con Thiên Chúa đến cứu loài người?
Xin chia sẻ hai ý tưởng nghịch lý: “Sức mạnh trong yếu ớt” và “niềm vui trong nỗi đau” để tìm hiểu cách Thiên Chúa can thiệp trong lịch sử và niềm vui lớn lao nơi biến cố Con Thiên Chúa đến với nhân loại.

I. SỨC MẠNH TRONG YẾU ỚT
Tin Mừng Mát-thêu 2,13-23 thoáng cho thấy cách Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử, qua tương phản mạnh mẽ giữa sức mạnh và yếu ớt, giữa quyền lực và không quyền lực.
Thánh Giu-se, Mẹ Ma-ri-a và Hài Nhi Giê-su nổi lên trong trình thuật với nét âm thầm, khó nghèo và không chút quyền lực nào. Cả ba nhân vật đều không lên tiếng trong trình thuật. Thánh Giu-se không nói nhưng mau mắn hành động để bảo vệ sự sống của gia đình. Đầu bài Tin Mừng, khi được báo mộng, thánh Giu-se “liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập” (2,14). Gần cuối bài Tin Mừng, khi được báo mộng, thánh Giu-se “liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en” (2,21). Cuối cùng, thánh Giu-se cũng được báo mộng để đưa Thánh Gia về Na-da-rét thay vì về Giu-đê (2,22).
Bài Tin Mừng thuật lại ba cuộc chạy trốn theo nghĩa rộng. Trình thuật mở đầu: “Khi các nhà chiêm tinh đã ra đi”. Trong mạch văn, đây là một cuộc chạy trốn, vì các nhà chiêm tinh đã thất hứa, không cho vua Hê-rô-đê biết chỗ ở của Hài Nhi, nên họ có nguy cơ bị truy đuổi. Cuộc chạy trốn thứ hai là đang đêm Thánh Gia phải trốn sang Ai Cập. Cuộc chạy trốn thứ ba theo nghĩa lánh nạn: Thay vì về Giu-đê thì lánh về Na-da-rét để thoát khỏi sự bách hại của vua Ác-khê-lao, người kế vị vua cha Hê-rô-đê.
Như thế, Thánh Gia ở trong hoàn cảnh mong manh, yếu ớt và khó nghèo. Khó nghèo vì sinh hạ con đầu lòng trong hang bò lừa giữa mùa đông giá rét. Yếu ớt vì mới sinh hạ đã phải chạy trốn trong đêm tối. Đường đi thì dài và nguy hiểm, nơi đến là đất khách quê người. Bản văn cho thấy đây là cuộc chạy trốn của một gia đình đơn độc, chỉ có ba người. Thế giới ngày nay vẫn xảy ra những cảnh chạy trốn, chạy chốn thiên tai, chạy chốn chiến tranh, chạy trốn bách hại…
Yếu tố thứ hai trong bản văn là vai trò quan trọng của sứ thần Chúa với hai lời tường thuật trực tiếp: Lời thứ nhất: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy” (2,13). Lời thứ hai: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi” (2,20). Lời báo mộng thứ ba thuật lại gián tiếp, cho biết nơi trở về là Ga-li-lê thay vì về Giu-đê.
Tuy nhiên, trong thực tế cuộc sống, không có gì mong manh hơn giấc mơ, chỉ là giấc mơ, chỉ là báo mộng, qua đó cho biết ý định của Thiên Chúa, chứ không phải là bày tỏ uy quyền trong lịch sử. Trình thuật tạo nên tương phản mạnh mẽ giữa báo mộng với thực quyền sinh sát của Hê-rô-đê.
Yếu tố thứ ba trong bản văn là kiểu nói: “để ứng nghiệm lời đã phán”. Lời thứ nhất là “Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập”. Câu trích gợi lại biến cố dân Ít-ra-en thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập. Biến cố Xuất Hành ngày xưa được áp dụng cho Hài Nhi Giê-su như thể báo trước vai trò Mê-si-a của Người. Lời trích thứ hai: “Người sẽ được gọi là người Na-da-rét” giải thích quê hương trần thế của Đức Giê-su (lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a sẽ phân tích trong mục II).
Qua lời trích, như thể các biến cố xảy ra đã được xếp đặt trước. Phải chăng sự bách hại của Hê-rô-đê đã được Thiên Chúa xếp đặt?
Bản văn trình bày hai chiều kích: Chiều kích lịch sử với sự bách hại của Hê-rô-đê và sự khó khăn, thiếu thốn của Thánh Gia. Chiều kích mặc khải là cách Thiên Chúa hành động trong hoàn cảnh cụ thể của lịch sử. Qua bài Tin Mừng có thể rút ra hai kết luận:
1) Những tai hoạ con người gây ra cho nhau không phải là do Thiên Chúa sắp đặt mà là do tội lỗi và tham vọng của con người. Một lời nói của một vị vua tham vọng có thể giết chết hàng trăm người vô tội. Điều Hê-rô-đê đã làm vẫn còn xảy ra đây đó ngày nay.
2) Đứng trước tham vọng của con người, chương trình cứu độ của Thiên Chúa vẫn được thực hiện trong sự mong manh, nhỏ bé, yếu ớt, không quyền hành, qua hình ảnh một Hài Nhi mới sinh, một gia đình không nhà cửa, không tiện nghi và đang chạy trốn. Sự yếu ớt còn thể hiện qua sự âm thầm, im lặng của Thánh Gia trong bản văn.
Tất cả những yếu ớt trên làm tỏ lộ ra sức mạnh của Thiên Chúa. Thực vậy, điều trớ trêu là một thế lực hùng mạnh như vua Hê-rô-đê cũng không làm gì được một trẻ thơ vừa mới sinh hạ. Thế lực bóng tối không tiêu diệt được ánh sáng. Có thể nói, không có gì, không có thế lực đen tối nào trong lịch sử có thể ngăn cản được chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Đó là điều an ủi lớn lao cho người tin vào Đức Giê-su trong hoàn cảnh khó khăn, thử thách như Thánh Gia.
Nhưng Tin Mừng không dừng lại ở đây. Trình thuật hôm nay chuẩn bị một nghịch lý lớn lao hơn. Hôm nay, Thánh Gia thoát khỏi sự bách hại của Hê-rô-đê, nhưng 33 năm sau, Đức Giê-su đã không bảo toàn được mạng sống của mình, Người đã bị bách hại và đã chết trên thập giá. Nhưng Thiên Chúa vẫn không thua thế lực bóng tối. Thập giá là nơi chiến thắng thế lực của sự chết, Thập giá là nơi Đức Giê-su được tôn vinh, là lúc Người đi về với Cha và sống với các môn đệ mãi mãi.
Biến cố Thánh Gia xuất hành từ Ai Cập trở về đất Ít-ra-en là hình ảnh của một cuộc xuất hành khác: Đức Giê-su từ thế gian này đi về với Cha.
Tóm lại, sức mạnh của Thiên Chúa vẫn luôn tỏ lộ trong sự yếu ớt, kể cả sự chết. Như thế, Thiên Chúa bày tỏ “sức mạnh” trong “không có sức mạnh”, bày tỏ “quyền hành” trong “không có quyền hành”. Ước gì chúng ta xác tín rằng sức mạnh của Thiên Chúa vẫn tỏ lộ trong những khó khăn và thách đố thường ngày của chúng ta. Xin cho chúng ta tin tưởng, phó thác và mau mắn hành động như thánh Giu-se dưới sự hướng dẫn của sứ thần Chúa.

II. NIỀM VUI TRONG NỖI ĐAU
Biến cố Giáng Sinh là niềm vui lớn lao cho toàn thể nhân loại. Chương trình cứu độ của Thiên Chúa bước qua một giai đoạn quyết định. Con Thiên Chúa nhập thể mang đến cho loài người sự sống đích thực. Nhưng khởi đầu của niềm vui cũng là khởi đầu của những nỗi đau mất mát và chết chóc. Câu hỏi đặt ra: Niềm vui ở đâu? Phải hiểu niềm vui Giáng Sinh như thế nào trong những nỗi đau mà nguyên nhân là Đấng Cứu Tinh đã ra đời?
Cơn giận của Hê-rô-đê bị các nhà chiêm tinh lừa dẫn đến chuyện “giết tất cả các con trẻ ở Bê-lem và toàn vùng lân cận từ hai tuổi trở xuống” (2,16). Cơn giận của một kẻ có quyền lực thật khủng khiếp.
Nhưng đâu là ý nghĩa của trình thuật. Về lịch sử, phải khởi đi từ cuối Tin Mừng, biến cố lịch sử có thật là biến cố Thương Khó, kế đến là các trình thuật về cuộc đời công khai của Đức Giê-su. Các tác giả sách Tin Mừng đã thu thập tài liệu và truyền thống, sau đó sắp xếp lại để xây dựng thần học riêng của mỗi sách Tin Mừng. Thời thơ ấu của Đức Giê-su ít tính lịch sử hơn cả, nhưng lại đậm nét thần học. Chỉ có Tin Mừng Mát-thêu và Tin Mừng Lu-ca có trình thuật thời thơ ấu, nhưng mỗi Tin Mừng lại có những đặc điểm riêng. Điểm nhấn thần học của trình thuật thời thơ ấu khẳng định: Đấng Cứu Tinh xuất hiện là ứng nghiệm lời Kinh Thánh, là một phần trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa trải dài trong lịch sử dân Ít-ra-en.
Chẳng hạn, chuyện Hê-rô-đê sát hại các con trẻ ở Bê-lem và vùng lân cận là ứng nghiệm lời ngôn sứ Giê-rê-mi-a: “Ở Ra-ma, vẳng nghe tiếng khóc than rền rĩ: tiếng bà Ra-khen khóc thương con mình và không chịu để cho người ta an ủi, vì chúng không còn nữa” (Mt 2,18 // Gr 13,15).
Trong sách Giê-rê-mi-a đây là lời tiên báo thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy năm 587 TCN. Ra-ma là một làng ở phía Bắc Giê-ru-sa-lem, gần Ramala ngày nay. Thời Giê-rê-mi-a, Ra-ma là nơi tập trung dân Giu-đa để bị đưa đi lưu đày ở Ba-by-lon. Tại Ra-ma, bà Ra-khen là một trong hai người mẹ của con cái Ít-ra-en đã khóc thương con cái Ít-ra-en bị đưa đi lưu đày không trở về nữa.
Mát-thêu nối kết tiếng khóc của bà Ra-khen với Bê-lem bởi vì theo St 35,19-20: “Bà Ra-khen qua đời và được chôn trên con đường đi Ép-ra-tha, tức là Bê-lem. Ông Gia-cóp dựng một bia đá trên mộ bà, đó là bia mộ bà Ra-khen, vẫn còn cho đến ngày nay.”
Trong bối cảnh cộng đoàn Tin Mừng Mát-thêu vào cuối thế kỷ I, những dữ liệu trên cho phép hiểu trình thuật các trẻ Bê-lem bị giết gợi lại biến cố Đền Thờ bị phá huỷ năm 70. Một biến cố lịch sử ảnh hưởng sâu đậm tâm thức dân Do Thái, đặc biệt Tin Mừng Mát-thêu được viết cho cộng đoàn tín hữu xuất thân từ Do Thái giáo.
Đền Thờ bị phá huỷ, bị đốt cháy, không chỉ trẻ thơ mà nhiều người Do Thái đã chết để bảo vệ thành Thánh. Đây là một biến cố làm đảo lộn không chỉ một số làng ở Bê-lem mà cả một dân tộc. Từ đó họ phải sống lưu vong trong hai mươi thế kỷ; và ngày nay vẫn còn nhiều khó khăn để có một quê hương yên bình.
Đối với độc giả, câu hỏi đặt ra: Tại sao Đấng Cứu Tinh xuất hiện lại dẫn đến cái chết của những trẻ thơ vô tội. Chúa ở đâu khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá huỷ và dân Do Thái phải tản mác khắp nơi? Đâu là niềm vui, khi chỉ thấy chết chóc, khóc than và nước mắt?
Thiết nghĩ, gương các thánh tử đạo cho chúng ta câu trả lời. Sự sống Thiên Chúa ban quý trọng hơn sự sống thể lý. Ai tin vào Đức Giê-su thì có niềm vui và bình an của Người ngay giữa lúc khó khăn thử thách. Đó là niềm vui không ai lấy mất được. Vì niềm vui và sự sống đích thực được ban tặng, mà các thánh tử đạo đã dám hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho niềm vui lớn lao đó. Có thể nói, các ngài đã chấp nhận chết để sống.
Ước gì chúng ta nhận ra niềm vui sâu xa mà Thiên Chúa đã ban tặng cho loài người để từ đó vượt qua mọi khó khăn thách đố trong hiện tại.
Ước gì chúng ta nhận ra cách Thiên Chúa can thiệp trong lịch sử để từ đó xác tín và đón nhận sự can thiệp của Người trong cuộc đời mình./.

Ngày 28 tháng 12 năm 2010
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

15 décembre 2010

Ga 1,1-18: “Thấy” và “Nghe” Lời Nhập Thể



Bài viết tiếng Pháp:

Email: josleminhthong@gmail.com
Ngày 15 tháng 12 năm 2010.
Cập nhật: Ngày 22 tháng 12 năm 2013.

Nội dung

1. Bản văn và cấu trúc lời tựa Ga 1,1-18.   
   a) Bản văn Ga 1,1-18.
   b) Cấu trúc lời tựa.
2. “Lời đã trở nên người phàm” (1,14a).
3. “Chúng tôi đã thấy vinh quang...” (1,14b).
4. “Chưa ai thấy Thiên Chúa bao giờ” (1,18a).
5. Con Một kể về Thiên Chúa (1,18b).
6. Tương quan “Cha” – “Con Một”. 
7. Kết luận.

Jn 1,1-18: “Voir” et “Entendre” le Logos s'est fait chair



Article en vietnamien:

Email: josleminhthong@gmail.com
Le 15 Décembre 2010.
Mise à jour: Le 22 Décembre 2013.

Contenu

1. Texte et structure du Prologue 1,1-18
   a) Texte de Jn 1,1-18 (La Bible de Jérusalem)
   b) La structure du Prologue
2. “Le Verbe s’est fait chair” (1,14)
3. “Nous avons vu sa gloire” (1,14b)
4. “Personne n'a jamais vu Dieu” (1,18)
5. Le Fils unique nous raconte Dieu
6. Conclusion

13 décembre 2010

Tôn chỉ


Trang web http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/ của Giu-se Lê Minh Thông, tu sĩ linh mục Dòng Đa Minh, tiến sĩ thần học Kinh Thánh tại Université Catholique de Lyon - France, chuyên về Tin Mừng Gio-an (Tin Mừng thứ tư), đã được cha Giu-se Ngô Sỹ Đình O.P., Giám Tỉnh Dòng Đa Minh, xét duyệt và chấp thuận ngày 13 tháng 12 năm 2010.

Chỉ có trong trang web này những bài viết liên quan đến việc học hỏi và chia sẻ Kinh Thánh, đặc biệt là Tin Mừng Gio-an (Tin Mừng thứ tư), nhằm góp phần tìm hiểu sứ điệp mặc khải của bản văn Kinh Thánh.

Ba mục đích của trang web:
(1) Giới thiệu sách đã xuất bản gồm các loại sách: Học hỏi Tin Mừng Gio-an; Bản văn Kinh Thánh; Phương pháp đọc Kinh Thánh; Học tiếng Hy Lạp Tân Ước. 
(2) Chia sẻ Tin Mừng qua gợi ý phân tích những đoạn văn trong bốn sách Tin Mừng.
(3) Tài liệu học tập về cách áp dụng phân tích thuật chuyện (analyse narrative) và phân tích cấu trúc (analyse structurelle) để tìm hiểu ý nghĩa một đoạn văn Kinh Thánh.


5 décembre 2010

Ga 20,1-9: “Ông đã thấy và đã tin” (20,8). Ai thấy? Thấy gì? Tin gì?


Một ngôi mộ cổ ở Giê-ru-sa-lem [19.09.2007]

Email: josleminhthong@gmail.com
Ngày 05 tháng 12 năm 2010.
Cập nhật ngày 20 tháng 04 năm 2014.


Đoạn Tin Mừng Ga 20,1-9 nói về tiến trình “thấy” và “tin” của người môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Xin chia sẻ đôi nét về người môn đệ bí ẩn này và ý nghĩa của việc “thấy” và “tin”.

Người thuật chuyện kể ở Ga 20,1-9: “1 Vào ngày thứ nhất trong tuần, Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ lúc sáng sớm, khi trời còn tối, bà thấy tảng đá đã bị lấy ra khỏi mộ. 2 Bà liền chạy đến với Si-môn Phê-rô và người môn đệ khác người Đức Giê-su thương mến –, bà nói với các ông: ‘Người ta đã lấy Chúa khỏi mộ và chúng tôi không biết họ để Người ở đâu.’ 3 Vậy Phê-rô và người môn đệ khác đi ra và họ đi đến mộ. 4 Cả hai ông cùng chạy, người môn đệ khác nhanh hơn Phê-rô, chạy trước và đã đến mộ trước tiên. 5 Cúi xuống nhìn, ông ấy thấy những băng vải còn để đó nhưng không đi vào. 6 Si-môn Phê-rô theo sau ông ấy cũng đến nơi, đi vào trong mộ và thấy những băng vải còn để đó, 7 và khăn che đầu của Người không để với những băng vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi. 8 Bấy giờ người môn đệ khác cũng đi vào người đã tới mộ trước tiên –, ông ấy đã thấy và đã tin. 9 Thực ra, các ông chưa hiểu theo Kinh Thánh là Người phải trỗi dậy từ giữa những kẻ chết.” (Trích dẫn lấy trong: Bản văn Gio-an, Tin Mừng và ba thư, Hy Lạp – Việt).

Truyền thống đồng hóa môn đệ Đức Giê-su yêu mến với tông đồ Gio-an. Nhưng thực tế không đơn giản. Trong Tin Mừng Nhất Lãm, tông đồ Gio-an thuộc nhóm ba môn đệ thân tín của Đức Giê-su: Phê-rô, Gio-an và Gia-cô-bê. Hình ảnh tông đồ Gio-an, cũng như các môn đệ khác, thường là không hiểu Đức Giê-su. Khi Gio-an và Gia-cô bê xin được ngồi bên hữu và bên tả, Đức Giê-su nói: “Các anh không biết các anh xin gì” (Mc 10,38a). Khi những người Sa-ma-ri không tiếp đón Thầy trò, Gia-cô-bê và Gio-an nói: “Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?” Và Đức Giê-su đã quay lại quở mắng các ông (Lc 9,54-55). Ở vườn Ghết-sê-ma-ni, ba môn đệ thân tín ngủ khi Thầy đang hấp hối (Mc 9,32-42). Trong Tin Mừng Nhất Lãm, Phê-rô đóng vai trò tông đồ trưởng và nổi bật hơn tông đồ Gio-an.

Trong Tin Mừng thứ tư, người môn đệ Đức Giê-su yêu mến có một vị trí đặc biệt và nổi bật hơn Phê rô và các môn đệ khác trong nhiều khía cạnh. Người môn đệ này xuất hiện lần đầu tiên trong bữa tiệc ly (Ga 13,1-32). Phê-rô phải nhờ người môn đệ này hỏi Đức Giê-su xem ai là người sẽ nộp Thầy (Ga 13,23-24). Người môn đệ này có vị trí gần Đức Giê-su hơn Phê-rô và hiểu Đức Giê-su hơn Phê-rô. Trong biến cố Thương Khó, các môn đệ khác sợ sệt bỏ chạy, thì người môn đệ Đức Giê-su yêu mến đứng dưới chân thập giá và được Đức Giê-su trao phó chăm sóc Mẹ của Người (Ga 19,26-27). Trong trình thuật ngôi mộ trống (Ga 20,1-9), người môn đệ Đức Giê-su yêu mến đã thấy và đã tin, còn lòng tin của Phê-rô không được nói đến. Khi Đấng Phục Sinh hiện ra trên bờ biển hồ Ti-bê-ri-a (Ga 21,1-14), người môn đệ này là người đầu tiên nhận ra Đức Giê-su.

Như thế, người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trổi vượt hơn Phê-rô và các môn đệ khác về ba phương diện: (1) Về vị trí, ông ở bên cạnh Đức Giê-su trong bữa tiệc Vượt qua cuối cùng (Ga 13,23), (2) Về lòng tin, ông đã thấy và đã tin trước ngôi mộ trống (Ga 20,8), (3) Về sự hiểu biết, ông nhận ra Chúa trước tất cả các môn đệ khác (Ga 21,7).

Việc người môn đệ Đức Giê-su yêu mến thường hiện diện với Phê-rô trong Tin Mừng thứ tư không đủ để đồng hóa người môn đệ này với tông đồ Gio-an trong Tin Mừng Nhất Lãm. Với sự thân tín đặc biệt và được trình bày cách lạ lùng trong Tin Mừng Gio-an, người môn đệ Đức Giê-su yêu mến là một nhân vật lịch sử đã trở thành nhân vật biểu tượng. Đây là người môn đệ lý tưởng và mẫu mực cho người tin qua mọi thời đại.

Đoạn Tin Mừng Ga 20,1-9 cho biết thế nào là “thấy” và “tin”. Có thể hiểu người môn đệ này không vào mồ trước, vì tôn trọng Phê-rô là trưởng Nhóm Mười Hai; nhưng mạch văn cho thấy, ông trổi vượt hơn Phê-rô về ba khía cạnh: (1) Trước hết, ông chạy trước Phê-rô để tới mộ trước. Việc ông mau mắn hơn Phêrô cho thấy sự gắn bó giữa ông và Đức Giê-su, (2) Thứ đến, ông là người thấy những băng vải trong mộ trước Phê-rô, (3) Cuối cùng, sự thấy của ông có hiệu lực hơn sự thấy của Phê-rô: Những điều Phê-rô thấy chỉ có tính cách thông tin, còn những gì người môn đệ này thấy bằng mắt thể lý đã dẫn tới thấy bằng mắt đức tin, “ông đã thấy và đã tin” (20,8).

Hai động từ “thấy” và “tin” không có bổ túc từ nên có thể hiểu theo nghĩa rộng. Những điều người môn đệ này thấy không chỉ là thấy những băng vải như đã kể ở trên, mà ông còn thấy ngôi mộ trống rỗng, thấy Đức Giê-su không còn đó. Xa hơn, gợi đến những gì ông đã thấy khi đứng dưới chân thập giá. Tuy nhiên, đây không phải là “thấy” bình thường mà là thấy đúng theo ý Thiên Chúa. Nghĩa là “thấy” và “tin” gắn kết với nhau như Đức Giê-su đã nói: “Đây là ý muốn của Cha Tôi: Tất cả những ai thấy người Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời” (6,40).

Động từ “tin” trong câu: “Ông đã thấy và đã tin” (20,8) cũng không có túc từ và cho phép hiểu: Người môn đệ này không chỉ tin vào việc Đức Giê-su sống lại mà còn tin vào những lời Đức Giê-su đã nói, tin Đức Giê-su là Đấng Chúa Cha sai đến, tin là Đức Giê-su có thể ban sự sống đời đời. Và ở mức độ cao nhất: Tin Đức Giê-su là Chúa và là Thiên Chúa như lời Tô-ma tuyên xưng trước Đấng Phục Sinh: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (20,28). “Thấy” và “tin” theo nghĩa tuyệt đối, không có túc từ, cho thấy người môn đệ Đức Giê-su yêu mến đã hiểu ý nghĩa của biến cố Thương Khó.

Tuy nhiên, giữa việc “thấy bằng mắt” và “tin” có một khoảng cách lớn lao. Bởi lẽ ngôi mộ trống và những băng vải không phải là bằng chứng hiển nhiên về việc Đức Giê-su Phục Sinh. Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến đã thấy dấu chỉ, chứ không thấy Đức Giê-su sống lại. Vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi Tin Mừng thứ tư kết thúc với lời động viên các tín hữu thế hệ sau: “Phúc cho những người không thấy mà là những người tin” (20,29).

Thực ra, không ai có bằng chứng hiển nhiên về việc Đức Giê-su sống lại. Dù chúng ta là những người không thấy mà tin, bài Tin Mừng mời gọi chúng ta đạt tới hành động “thấy” đích thực như người môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Từ việc thấy dấu chỉ được kể lại trong Tin Mừng, dẫn tới việc thấy bằng con mắt đức tin, nghĩa là nhận ra sự hiện diện của Đấng Phục Sinh trong cuộc đời.

Việc Đức Giê-su Phục Sinh đã mở ra một giai đoạn mới trong lịch sử cứu độ, xin cho tất cả chúng ta “thấy” và “tin” qua những dấu chỉ thuật lại trong Tin Mừng và qua những dấu chỉ trong cuộc sống hôm nay để đón nhận sự sống, niềm vui và bình an của Đấng Phục sinh ban tặng./.

Nguồn: http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2010/12/ong-thay-va-tin-ai-thay-thay-gi-tin-gi.html


Xem phân tích chi tiết về người môn đệ môn đệ bí ẩn và độc đáo này trong tập sách: Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai?

24 novembre 2010

Ga 10,11-18: Ai là mục tử? Đàn chiên thuộc về ai?



Chăn cừu trong hoang mạc Giu-đê
[ngày 05 tháng 01 năm 2008]

 

Bản văn (Lê Minh Thông dịch sát bản văn Hy Lạp)


Đức Giê-su nói với những người Pha-ri-sêu:
11 Chính Tôi là mục tử tốt. Mục tử tốt hy sinh mạng sống của mình vì đàn chiên.
12 Người làm thuê không phải là mục tử, đàn chiên không thuộc về mình. Thấy sói đến, anh ta bỏ đàn chiên mà chạy - và sói vồ lấy chúng và làm tán loạn -.
13 Vì là kẻ làm thuê, anh ta không lo lắng cho đàn chiên.
14 Chính Tôi là mục tử tốt. Tôi biết chiên của Tôi, và chiên của Tôi biết Tôi,
15 như Cha biết Tôi, và Tôi biết Cha, và Tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên.
16 Tôi còn có những chiên khác, chúng không thuộc ràn này. Tôi cũng phải dẫn dắt chúng và chúng sẽ nghe tiếng Tôi. Và sẽ làm thành một đàn chiên, một mục tử.
17 Vì điều này mà Cha yêu mến Tôi: Tôi hy sinh mạng sống mình để rồi lấy lại nó.
18 Không ai lấy nó khỏi Tôi, nhưng chính Tôi tự ý hy sinh nó. Tôi có quyền hy sinh nó và Tôi có quyền lấy lại nó. Tôi đã nhận mệnh lệnh này từ nơi Cha của Tôi.”




Đức Giê-su là mục tử tốt, Người là mục tử duy nhất của đàn chiên. Khi tham gia nhiệm vụ chăn dắt trên nhiều cấp độ khác nhau trong Hội Thánh, chúng ta dễ quên là chỉ có một mục tử duy nhất là Đức Giê-su. Những người có nhiệm vụ chăn dắt trong cộng đoàn là những người được Đức Giê-su giao phó nhiệm vụ chăn dắt đàn chiên của Người. Đàn chiên đó thuộc về Đức Giê-su. Sở hữu đàn chiên là Đức Giê-su, vì chỉ một mình Người là mục tử tốt, chỉ một mình Người có khả năng “hy sinh và lấy lại mạng sống mình” vì yêu mến đàn chiên. Xin chia sẻ đôi nét về tư cách mục tử của Đức Giê-su và về vai trò người chăn dắt trong cộng đoàn Hội Thánh.

Trước hết, người ta thường gọi Đức Giê-su là “Mục tử nhân lành” cách nói này chưa diễn tả hết ý nghĩa, vì có thể chỉ dừng lại ở nghĩa “hiền lành”, “tốt lành”. Trong khi, bản văn Hy Lạp dùng tính từ “tốt” (kalos). “Mục tử tốt” không chỉ là “tốt lành”, “hiền lành”, mà điều quan trọng hơn là “tốt” về phẩm chất. Người mục tử tốt là người có khả năng đáp ứng những đòi hỏi của nhiệm vụ chăn dắt và chu toàn tốt đẹp vai trò mục tử.

Khẳng định của Đức Giê-su: “Chính Tôi là mục tử tốt” là kiểu nói đặc trưng của thần học Gio-an. Đức Giê-su là ánh sáng, là bánh, là cây nho đích thực, là cửa ràn chiên, là mục tử tốt. Tính từ “tốt” cho phép phân biệt với tất cả các mục tử khác trong Cựu Ước. Trong Tin Mừng thứ tư, Đức Giê-su không so sánh mình với các mục tử khác, bởi vì Người là mục tử duy nhất của đàn chiên.

Đức Giê-su là mục tử tốt, vì Người hy sinh mạng sống của mình vì đàn chiên (10,11). Lời này lạ lùng và nghịch lý. Nếu mục tử chết, đàn chiên cũng chết. Vì không có ai bảo vệ đàn chiên trước sự tấn công của sói dữ. Trên thực tế, người mục tử phải tìm mọi cách để sống còn. Dù phải đối diện với nguy hiểm, người mục tử khôn ngoan là người bảo toàn được mạng sống của mình, như thế mới có thể bảo vệ đàn chiên. Bởi vì, sự sống còn của đàn chiên lệ thuộc vào sự sống còn của mục tử. Người mục tử tốt là người “sống vì đàn chiên”, chứ không phải là người “hy sinh mạng sống mình”, theo nghĩa “chết vì đàn chiên” như Đức Giê-su nói.

Thực ra, cuối đoạn Tin Mừng, sự sống của Đức Giê-su được đề cao. Người khẳng định: “Tôi có quyền hy sinh mạng sống mình và có quyền lấy lại nó”. Lời này ám chỉ Đức Giê-su sẽ chiến thắng sự chết. Biến cố Phục Sinh làm cho Người trở thành mục tử duy nhất. Người đang sống. Chính Người bảo vệ đàn chiên, ban sự sống đích thực cho đàn chiên và làm cho đàn chiên được sống dồi dào (10,10).

Nhưng tại sao Đức Giê-su lại hướng về sự chết khi khẳng định ngay từ đầu đoạn Tin Mừng: “Mục tử tốt hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên” (10,11)? Trong bối cảnh văn chương của Tin Mừng thứ tư, đoạn văn 10,11-18 ở vào cuối sứ vụ công khai, những kẻ chống đối Đức Giê-su đã và đang tìm cách giết Người; sứ vụ công khai của Đức Giê-su đang dần dần khép lại. Vì thế, đoạn văn 10,11-18 nhằm xác định vai trò của Đức Giê-su đối với những ai tin vào Người. Người là mục tử tốt, Người tự ý hy sinh mạng sống mình và Người có quyền lấy lại nó. Nhờ đó, Người có khả năng ban sự sống cho đàn chiên.

Bầu khí xung đột bộc lộ trong cách Đức Giê-su dùng hình ảnh “người làm thuê”. Ai là những kẻ làm thuê? Tin Mừng cho phép hiểu Đức Giê-su ám chỉ giới lãnh đạo Do Thái đang tìm cách giết Người, đó là những người Do Thái, những người Pha-ri-sêu, các thượng tế, họ là những người được giao nhiệm vụ chăn dắt dân. Các sách Cựu Ước gọi họ là mục tử, nhưng Đức Giê-su tước mất quyền đó khi nói: “Người làm thuê không phải là mục tử, đàn chiên không thuộc về mình… Vì là kẻ làm thuê, anh ta không lo lắng cho đàn chiên” (10,12-13).

Chính trong bối cảnh những kẻ chống đối đang tìm cách giết Đức Giê-su mà Người nói đến việc “hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên”. Hoa trái của sự “hy sinh và lấy lại mạng sống” này là phổ quát. Vì qua đó, Đức Giê-su quy tụ tất cả con cái Thiên Chúa tản mác khắp nơi về thành một đàn chiên, một mục tử (10,16; 11,52).

“Một đàn chiên, một mục tử” (10,16) là khẳng định thần học quan trọng, mà nhiều lúc những người có nhiệm vụ chăn dắt xem nhẹ. Cuối Tin Mừng Gio-an (21,15-17), ba lần Đức Giê-su hỏi Phê-rô: “Anh có yêu mến Thầy không?”, chỉ sau khi Phê-rô trả lời “Thầy biết con yêu mến Thầy”, Đức Giê-su mới trao sứ vụ chăn dắt: “Anh hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy”.

Kiểu hành văn này cho thấy: Đàn chiên, bao gồm mọi người tin, là của Đức Giê-su. Các chủ chăn trong Hội Thánh là những người được Đức Giê-su giao phó nhiệm vụ chăn dắt và chăm sóc đàn chiên của Người. Đàn chiên là của Đức Giê-su chứ không phải của bất kỳ ai khác.

Câu hỏi đặt ra: Để có thể chăn dắt đàn chiên của Đức Giê-su phải có điều kiện nào? Ngoài những đòi hỏi mang tính pháp lý như được huấn luyện, lãnh tác vụ, điều cốt lõi là “tình yêu dành cho Đức Giê-su”. Ba lần, Phê-rô tuyên xưng tình yêu dành cho Đức Giê-su trước, sau đó mới được Người giao sứ vụ chăn dắt. Như thế, tình yêu dành cho Đức Giê-su là nền tảng làm nên bản chất của người chăn dắt. Có thể nói, khi người chăn dắt không thực sự yêu mến Đức Giê-su nữa, thì ngay lúc đó, người ấy không còn tư cách để chăn dắt đàn chiên của Đức Giê-su nữa. Bởi vì, chính tình yêu dành cho Đức Giê-su là bản chất và là căn tính của sứ vụ chăn dắt.

Thánh Augustinô diễn giải lời Đức Giê-su nói với Phê-rô ở Ga 21,15-17 như sau: “Nếu anh yêu mến Thầy, anh đừng nghĩ anh là mục tử; nhưng anh hãy chăn dắt đàn chiên của Thầy, như chúng là của Thầy chứ không phải như chúng là của anh; anh hãy tìm kiếm nơi đàn chiên vinh quang của Thầy chứ không phải vinh quang của anh; sở hữu của Thầy, chứ không phải sở hữu của anh, lợi ích của Thầy, chứ không phải lợi ích của anh.”

Xin cho sứ điệp của bài Tin Mừng giúp chúng ta sống đúng vị trí và vai trò của mình khi tham gia vào nhiệm vụ chăn dắt ở nhiều cấp độ khác nhau trong cộng đoàn Hội Thánh. Điều quan trọng hơn cả là “yêu mến Đức Giê-su” và từ đó chăn dắt đàn chiên được giao phó bằng chính tình yêu mà Đức Giê-su là vị mục tử duy nhất đã dành cho mình và dành cho đàn chiên của Người./. 

Ngày 24 tháng 11 năm 2010
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

14 novembre 2010

Lc 19,1-10: Da-kêu vừa cao vừa thấp

Cây sung ở Giê-ri-khô [ngày 11/11/2007]

Da-kêu “cao” mà “thấp”, “thấp” mà “cao”
Lc 19,1-10
Bản văn Lc 19,1-10 (bản dịch NPDCGKPV)
1 Sau khi vào Giê-ri-khô, Đức Giê-su đi ngang qua thành phố ấy.
2 Ở đó có một người tên là Da-kêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có.
3 Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giê-su là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn.
4 Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giê-su, vì Người sắp đi qua đó.
5 Khi Đức Giê-su tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: "Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!"
6 Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người.
7 Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: "Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!"
8 Ông Da-kêu đứng đó thưa với Chúa rằng: "Thưa Ngài, đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn."
9 Đức Giê-su mới nói về ông ta rằng: "Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham.
10 Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất."

Chia sẻ

Câu chuyện Da-kêu quá quen thuộc, nhưng lại là  một bức tranh sống động, phong phú, tinh tế và là lời chất vấn và mời gọi qua mọi thời đại. Trong hành trình lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đi ngang qua Giê-ri-khô và  xảy ra câu chuyện ông Da-kêu với những nét tương phản hài hước và độc đáo. Nhân vật chính được giới thiệu qua bốn chi tiết: (1) Tên gọi: Da-kêu, (2) Nghề nghiệp: Đứng đầu những người thu thuế, (3) Địa vị xã hội: Người giàu có, (4) Ngoại hình: thấp bé, ngôn ngữ bình dân gọi là lùn.

Trong câu chuyện, nhân vật Da-kêu có những nét tương phản vừa theo quan điểm người đời, vừa theo quan điểm tâm linh. Theo người đời, Da-kêu là người có địa vị, có quyền và có tiền, ba yếu tố này làm nên sức mạnh và uy thế của một con người. Ông ở cao hơn những người bình thường, nhưng ông lại thua kém họ về chiều cao, nên tầm nhìn bị thu hẹp và bị hạn chế. Ông muốn thấy Đức Giê-su, nhưng đám đông trở thành chướng ngại cho điều ông ước muốn. Tuy nhiên, con người không hơn nhau ở chiều cao mà hơn nhau ở cái đầu; Da-kêu quyết định thực hiện ước muốn thấy Đức Giê-su bằng cách trèo lên cây sung. Quyết định này tạo nên tương phản giữa việc ông đạt được mục đích là thấy Đức Giê-su, nhưng phải hy sinh thể diện. Một người có quyền hành và địa vị như ông mà lại leo lên cây sung, mượn cây sung để cải thiện chiều cao của mình, thì chẳng gì đề cao cái sự thấp bé của ông trước mọi người.

Đáng chú ý hơn là tương phản theo quan điểm tâm linh. Ông Da-kêu là người quyền thế trong xã hội, nhưng đám đông lại gọi ông là “người tội lỗi”, vì khi Đức Giê-su quyết định ở lại nhà ông, mọi người xầm xì: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” Câu kết của Đức Giê-su: “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” đã xếp Da-kêu vào loại những người đã mất, nhưng được Đức Giê-su cứu.

Tương phản trên bình diện tâm linh và cách xử sự của Da-kêu để xem thấy Đức Giê-su đã được Người đánh giá cao. Việc ông dám trở trên trò cười cho thiên hạ để tiếp cận được Đức Giê-su cho thấy thiện chí của ông. Nhờ hành động này, ông trở thành nhân vật chính của câu chuyện với những chuyển biến tích cực và nhanh chóng. Khi Đức Giê-su nhìn lên và nói với ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (19,5) Bản văn chơi chữ khi viết Đức Giê-su nhìn lên và bảo ông xuống, nghĩa là trở về với chiều cao đích thực của mình, trở về với con người thực của mình, để không những thấy Đức Giê-su mà còn để đối thoại với Người, để quyết định bán nửa tài sản cho người nghèo và đền gấp bốn cho những ai mình đã làm họ bị thiệt.

Điều mới mẻ so với trình thuật người thu thuế Lê-vi ở chỗ Lê-vi đã bỏ nghề thu thuế và đi theo Đức Giê-su, còn ông Da-kêu có bỏ nghề đứng đầu những người thu thuế hay không, bản văn không cho biết. Trình thuật chỉ nhấn mạnh tấm lòng của ông đối với người nghèo và việc ông chú trọng sự công bằng. Có thể hiểu Da-kêu có thể tiếp tục đứng đầu những người thu thuế mà vẫn được cứu. Điều quan trọng là ước muốn gặp Đức Giê-su, thực hiện ước muốn này, và khi gặp thì mừng rỡ đón tiếp Người.

Trình thuật nói đến sự gặp gỡ tốt đẹp giữa hai con người với hai sự tìm kiếm. Da-kêu tìm cách để thấy Đức Giê-su còn Đức Giê-su đang tìm và cứu những gì đã mất. Chính sự gặp gỡ giữa hai con người đang tìm kiếm này làm cho Da-kêu trở thành người được cứu và làm tỏ lộ sứ vụ của Đức Giê-su.

Điểm độc đáo của bản văn ở ngay trong trong cách trình bày nhân vật Da-kêu. Ông là người vừa thấp vừa cao. Cao về địa vị xã hội, nhưng thấp bé về chiều cao. Thấp bé thể lý nhưng cao quý trong thiện chí tìm gặp Đức Giê-su. Ông có quyền hành và giàu có trong xã hội nhưng bị coi là người tội lỗi, là người đã mất, cần được cứu. Nhân vật Da-kêu trở thành điển hình cho hành trình tìm kiếm và gặp gỡ Đức Giê-su là Người mang lại ơn cứu độ cho ông.

Đầu câu chuyện, Da-kêu được giới thiệu như là người có mọi thứ: Chức vị, tiền bạc và quyền hành; nhưng ông đang thiếu và đang đi tìm cái mà tiền bạc và chức quyền không đem lại cho ông. Ông tìm cách để xem cho biết Đức Giê-su là ai, mục đích trước tiên là xem cho biết con người mà ông chưa biết.

Điểm độc đáo thứ hai là Đức Giê-su không dạy giáo lý cho Da-kêu, Người không bày tỏ tư cách Con Thiên Chúa của Người. Ngược lại Người chỉ nói một câu tỏ bày sự thân thiện và ưu ái của Người dành cho ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”.

Bài học cho chúng ta hôm nay là liệu sự ở lại của Đức Giê-su có khả năng làm cho chúng ta hoán cải, có khả năng làm cho chúng ta thuộc về Người, làm cho chúng ta biết chia sẻ với người nghèo và tôn trọng sự công bằng hay không. Câu chuyện Da-kêu vẫn là lời chất vấn, lời mời gọi chúng ta trong cách chúng ta tìm gặp và đón tiếp Đức Giê-su, trong cách chúng ta sống niềm tin và thể hiện niềm tin của mình./.

Ngày 14 tháng 11 năm 2010
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

6 novembre 2010

Ga 11,17-27: Đức Giê-su đem đến cho người tin điều lớn lao hơn cả việc La-da-rô ra khỏi mồ


Làng Bê-ta-ni-a [21.09.2007]

Email: josleminhthong@gmail.com
Ngày 06 tháng 11 năm 2010.
Cập nhật ngày 20 tháng 04 năm 2014.


Đoạn Tin Mừng Ga 11,17-27 là một phần câu chuyện về anh La-da-rô bị bệnh chết, sau đó được Đức Giê-su gọi ra khỏi mồ (11,1-46). La-da-rô cùng với hai chị Mác-ta và Ma-ri-a là gia đình thân thiết với Đức Giê-su. Khi La-da-rô lâm bệnh, hai chị đã cho người đến báo, nhưng Đức Giê-su đã không đến cứu. Mác-ta và Ma-ri-a có ý trách, vì khi Đức Giê-su trở lại Bê-ta-ni-a, câu đầu tiên hai chị em nói với Người: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết” (11,21.32). Câu này nói lên sự tiếc nuối và ước mơ em mình được sống. Đức Giê-su làm cho La-da-rô sống lại là dấu lạ lớn lao và một trong những ý nghĩa của dấu lạ là Đức Giê-su đem đến cho người tin điều lớn lao hơn cả việc La-da-rô ra khỏi mồ. Tìm hiểu đối thoại giữa Đức Giê-su và Mác-ta cho thất điều này.

Người thuật chuyện kể ở Ga 11,17-27: “17 Khi đến nơi, Đức Giê-su nhận thấy anh ấy [La-da-rô] đã ở trong trong mồ bốn ngày rồi. 18 Bê-ta-ni-a cách Giê-ru-sa-lem khoảng 15 dặm [2,8km]. 19 Nhiều người trong những người Do Thái đến với Mác-ta và Ma-ri-a để an ủi các cô về người em. 20 Vậy khi Mác-ta nghe rằng Đức Giê-su đến, cô ấy ra gặp Người. Còn Ma-ri-a ngồi ở nhà. 21 Mác-ta nói với Đức Giê-su: ‘Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết. 22 [Nhưng] bây giờ con biết rằng: Bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ ban cho Thầy.’ 32 Đức Giê-su nói với chị ấy: ‘Em chị sẽ sống lại.’ 24 Mác-ta nói với Người: ‘Con biết rằng em con sẽ sống lại, trong sự sống lại vào ngày sau hết.’ 25 Đức Giê-su nói với chị ấy: ‘Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống, 26 và tất cả những ai sống và tin vào Thầy, muôn đời sẽ không chết. Chị có tin điều đó không?’ 27 Chị ấy nói với Người: ‘Thưa Thầy, có. Con vẫn tin rằng chính Thầy là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian.’” (Trích dẫn lấy trong: Bản văn Gio-an, Tin Mừng và ba thư, Hy Lạp – Việt).

Trong nỗi đau mất mát đang đè nặng trên gia đình Mác-ta và bà con xóm giềng, bản văn thuật lại cuộc đối thoại quan trọng giữa Đức Giê-su và Mác-ta, nhưng lại là cuộc đối thoại “lệch pha”. Lệch pha vì Đức Giê-su nói một đàng, Mác-ta hiểu một nẻo. Tuy nhiên, nhờ sự lệch pha này mà người đọc bản văn hiểu được sứ điệp mặc khải. Có thể nói, sự chết của La-da-rô chỉ tay về cái chết thể lý của người tín hữu qua mọi thời đại, cũng như báo trước cái chết của mỗi người chúng ta. Trước bế tắc của sự chết, Đức Giê-su đem đến cho người tin điều không ai dám nghĩ tới, điều ấy còn lớn lao hơn cả việc La-da-rô sống lại. Điều lớn lao đó là gì?

Cần tìm hiểu sự lệch pha trong cuộc đối thoại để hiểu sứ điệp của bản văn. Mác-ta tuyên xưng niềm tin truyền thống vào sự sống lại ngày sau hết, nhưng đó không phải là điều Đức Giê-su muốn nói tới. Có ba chi tiết cho thấy sự lệch pha trong cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và Mác-ta:

(1) Thứ nhất, Đức Giê-su nói với Mác-ta: “Em chị sẽ sống lại” theo nghĩa “sẽ sống lại ngay bây giờ” thì Mác-ta lại hiểu là “sẽ sống lại trong ngày sau hết”. Mác-ta trả lời: “Con biết rằng em con sẽ sống lại, trong sự sống lại vào ngày sau hết” (11,24).

(2) Chi tiết lệch pha thứ hai là khi Đức Giê-su nói với chị: “Đem phiến đá này đi” (11,39a), Mác-ta từ chối và nói: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì đã bốn ngày” (11,39b). Mác-ta không hề nghĩ em chị sẽ sống lại bây giờ.

(3) Hai chi tiết trên cho thấy sự lệch pha thứ ba. Khi Đức Giê-su nói: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Chị có tin thế không?” (11,25-26), Mác-ta đáp: “Thưa Thầy, có.” Câu trả lời này lệch pha vì Mác-ta không hề nghĩ là người đã chết như La-da-rô lại có sự sống ngay bây giờ.

Để minh chứng cho lời mặc khải: “Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống” (11,25), Đức Giê-su đã gọi La-da-rô ra khỏi mồ. Đây là dấu lạ lớn lao, nhưng không đề cao sự sống thể lý, bởi vì La-da-rô sống lại để rồi lại chết vì sự sống lại của anh. Thực vậy, trong trình thuật tiếp theo, các thượng tế quyết định giết cả La-da-rô vì tại anh mà nhiều người đã tin vào Đức Giê-su (12,10-11).

Tóm lại, dấu lạ La-da-rô ra khỏi mồ là câu trả lời cho sự chết và sự sống của người tin. Bản văn mời gọi chúng ta xác tín hai điều: (1) “Ai sống và tin vào Đức Giê-su, sẽ không bao giờ phải chết” (11,26). (2) “Ai tin vào Đức Giê-su, dù đã chết cũng sẽ được sống” (11,25). Đây là sự sống Đức Giê-su ban tặng, sự sống đời đời, sự sống đích thực. Sự sống này làm cho cái chết trở thành giấc ngủ, như Đức Giê-su đã nói một cách nghịch lý với các môn đệ, sau khi La-da-rô đã chết: “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; nhưng Thầy đi để đánh thức anh ấy.” (11,11).

Ước mong chúng ta xác tín và sống ngay bây giờ sự sống đích thực Đức Giê-su ban tặng cho những ai tin vào Người. Xem phân tích đề tài “chết” và “sống” của La-da-rô, của Đức Giê-su và của người tin (Ga 11,1-54), trong tập sách: Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, trang  147-185./.

 

29 octobre 2010

Giới thiệu sách: CÚ PHÁP Hy Lạp Tân Ước

Nxb. Phương Đông, khổ 14 x 20 cm, 460 trang
Sách học tiếng Hy Lạp Tân Ước (phần nâng cao)


Hình bìa trước:
Hẻm núi Avdat trong hoang mạc Negev, Israel ngày nay




Hình bìa sau:
Sơn dương trên sườn núi Avdat, Israel ngày nay


 
Nội dung: 

Tập sách Cú pháp Hy Lạp Tân Ước bàn về cách hành văn tiếng Hy Lạp. Các sách trong bộ Tân Ước đều viết bằng tiếng Hy Lạp. Hiểu cách hành văn tiếng gốc của bản văn giúp thưởng thức được nét hay, nét đẹp của Lời mặc khải.

Cú pháp (syntaxe) tiếng Hy Lạp: “suntaxis” có nghĩa: “trật tự”. Vì thế, cú pháp tìm hiểu trật tự của câu, các thành phần trong câu như: Danh từ, tính từ, động từ, mạo từ… và ý nghĩa của chúng.

Tập sách Cú pháp Hy Lạp Tân Ước (phần nâng cao) được trình bày chi tiết từng phần, có thể dùng làm giáo trình dạy học tiếng Hy Lạp nâng cao.

Phần CÚ PHÁP này không bàn về NGỮ PHÁP. Phần trình bày về cấu tạo từ, các biến cách và cách chia động từ được trình bày trong tập sách Ngữ pháp Hy Lạp Tân Ước (phần căn bản).


Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả.


Ngày 29 tháng 10 năm 2010
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2010/10/sach-102010-cu-phap-hy-lap-tan-uoc.html
Email: josleminhthong@gmail.com

20 octobre 2010

Địa chỉ nhà sách và các loại sách



Sách có bán tại các địa chỉ:

2. NHÀ SÁCH ĐỨC BÀ HÒA BÌNH (Nhà thờ Đức Bà)
    1, Công Xã Paris, Q. 1, Tp. HCM.
    Đt. (08) 382 507 45

3. NHÀ SÁCH ĐỨC MẸ (Dòng Chúa Cứu Thế)
    38, Kỳ Đồng, Q. 3, Tp. HCM.
    Đt: (08) 384 395 40 – 384 386 07

Các loại sách:

- Sách học tiếng Hy Lạp để đọc Tân Ước bằng tiếng gốc:

- Bản văn Tân Ước

- Các sách tìm hiểu Tin Mừng Gio-an 



Các sách đã xuất bản





Nxb. Phương Đông, 2010, 276 tr. 
Giá bìa: 30.000 đvn






02. [05/2010] TÌNH YÊU và TÌNH BẠN trong Ga 15,9-17, 
Nxb. Phương Đông, 2010, 316 tr. 
Giá bìa: 35.000 đvn





03. [07/2010] KHỦNG HOẢNG và GIẢI PHÁP cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư,  
Nxb. Tôn giáo, 2010, 316 tr. 
Giá bìa: 37.000 đvn





04. [08/2010] Phân tích THUẬT CHUYỆN và CẤU TRÚC áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, 
 Nxb. Phương Đông, 2010, 228 tr. 
Giá bìa: 25.000 đvn






05. [09/2010] Đấng PA-RÁC-LÊ – Thần Khí sự thật – trong Tin Mừng thứ tư, 
Nxb. Tôn Giáo, 2010, 376 tr. 
Giá bìa: 43.000 đvn






06. [09/2010] YÊU và GHÉT trong Tin Mừng Gio-an, Phần I,  
Nxb. Phương Đông, 2010, 400 tr. 
Giá bìa: 45.000 đvn






07. [09/2010] YÊU và GHÉT trong Tin Mừng Gio-an, Phần II,  
Nxb. Phương Đông, 2010, 400 tr. 
Giá bìa: 45.000 đvn






08. [10/2010] CÚ PHÁP Hy Lạp Tân Ước,  
Nxb. Phương Đông, 2010, 460 tr. 
Giá bìa: 45.000 đvn





 
09. [02/2011] NGỮ PHÁP Hy Lạp Tân Ước, 
Nxb. Phương Đông, 2011, 460 tr. 
Giá bìa: 45.000 đvn 




 


10. [04/2011] Bản văn Gio-an, TIN MỪNG và BA THƯ, Hy Lạp – Việt,  
Nxb. Tôn giáo, 2011, 340 tr. 
Giá bìa: 40.000 đvn




Nxb. Phương Đông, 2011, 236 tr.
Giá bìa: 30.000 đvn









Nxb. Tôn Giáo, 2011, 288 tr.
Giá bìa: 35.000 đvn







Giu-se Lê Minh Thông, O.P. 
Email: josleminhthong@gmail.com