18 février 2011

Giới thiệu sách: NGỮ PHÁP Hy Lạp Tân Ước

Nxb. Phương Đông, 2011, 460 tr., khổ 14 x 20 cm
Sách học tiếng Hy Lạp Tân Ước (phần căn bản)


Hình bìa trước: Mitspe Ramon (Crater),
hoang mạc Negev, Israel, ngày 25-10-2007.



Hình bìa sau: Đàn sơn dương tại Mitspe Ramon
trong hoang mạc Negev, ngày 25-10-2007.




Nội dung:

Các sách Tân Ước đều viết bằng tiếng Hy Lạp. Tập sách Ngữ pháp Hy Lạp Tân Ước trình bày phần văn phạm căn bản tiếng Hy Lạp Koinê (Hy Lạp phổ thông) được dùng để viết các sách Tân Ước.

Đây là tập sách tham khảo các điểm văn phạm, vì thế các loại từ như danh từ, tính từ, động từ, mạo từ… được trình bày chi tiết theo từng mục. Phần nội dung tổng quát nội dung chi tiết đầu sách giúp độc giả nhanh chóng tìm ra điểm văn phạm cần tra cứu.

Ngữ Pháp Hy Lạp Tân Ước bàn về cấu tạo từ, chẳng hạn tìm hiểu biến cách (déclinaison) của danh từ, tính từ, mạo từ…, cách chia động từ ở các dạng (voix), lối (mode) và thì (temps) khác nhau...

Tập sách đã xuất bản: Cú Pháp Hy Lạp Tân Ước, 2010, bàn về trật tự (syntaxe) của từ trong câu văn như sự tương hợp giữa các từ, các mệnh đề, cách đặt câu…

Hai tài liệu: 
1) Ngữ pháp Hy Lạp Tân Ước (phần căn bản),   460 tr.
2) Cú Pháp   Hy Lạp Tân Ước (phần nâng cao), 460 tr.

làm thành bộ sách học tiếng Hy Lạp Tân Ước, giúp tiếp cận bản văn gốc để thưởng thức nét hay, nét đẹp trong kho tàng mặc khải; cũng như nhận ra sự phong phú, đa dạng và phức tạp trong việc dùng ngôn ngữ loài người – giới hạn trong thời gian và không gian – để chuyển tải mặc khải của Thiên Chúa.

Xem trích đoạn 29 trang.

Xin trân trọng giới thiệu đến độc giả.

Ngày 18 tháng 02 năm 2011
Giu-se Lê Minh Thông, O.P. 

9 février 2011

Tìm hiểu TM Ga: Biết bằng lý trí – biết bằng con tim

Xem cách đọc tiếng Híp-ri và Hy Lạp.
 

Tìm hiểu ý nghĩa ba động từ trong Tin Mừng thứ tư liên quan đến đề tài “biết”: “ginôskô” (biết), “oida” (biết), “gnôrizô” (làm cho biết) 


Bài tìm hiểu được trình bày qua các mục:
1. Dẫn nhập
2. Động từ “ginôskô” (biết)
3. Động từ “oida” (biết)
4. Cách dùng động từ “oida” và “ginôskô”
5. “Biết” (ginôskô) và “làm cho biết” (gnôrizô)
6. Kết luận
    Phụ lục: Số lần ba động từ trên xuất hiện trong Tin Mừng

(Các trích dẫn Tin Mừng thứ tư dịch sát theo bản Hy Lạp: NESTLE-ALAND, Novum Testamentum Graece, (27è édition), Stuttgart, Deutsche Bibelgesellschaft, 1996).

1. Dẫn nhập

Đề tài “biết” trong Tin mừng thứ tư diễn tả qua hai động từ Hy Lạp: “oida” và “ginôskô”. Cả hai động từ này đều có nghĩa là “biết”, nhưng chúng có sắc thái nghĩa khác nhau hay không?

Hiện nay có ba ý kiến về nghĩa của động từ “oida” và “ginôskô” trong Tin Mừng thứ tư:
1) Phân bit s khác nhau gia “oida” và “ginôskô” (I. de La Potterie).
2) Hai đng t“oida” và “ginôskô” có th thay thế cho nhau và đng nghĩa (J. Gaffney; K. J. Carl).
3) Có phân bit, nhưng không rõ (R. E. Brown).

Xem trình bày v các lp trường và ý kiến ca các tác giả trong P.-M. JERUMANIS, Réaliser la communion avec Dieu, 1996, n. 181, p. 147.

Trong Tin Mừng thứ tư có những nơi khó phân biệt sự khác nhau về sắc thái nghĩa của hai động từ “oida” và “ginôskô”. Tuy nhiên, bối cảnh văn chương cũng như phân tích từ ngữ cho phép hiểu sắc thái nghĩa khác nhau của hai động từ này. Động từ “oida” nhắm vào sự hiểu biết bằng lý trí nhờ suy luận; động từ “ginôskô” nghiêng về sự hiểu biết bằng con tim, nhờ tương quan và kinh nghiệm sống. Hai động từ này cùng với động từ “gnôrizô” (làm cho biết) cho phép xây dựng điểm thần học độc đáo của Tin Mừng thứ thư về đề tài “biết” – “không biết”. Những phân tích sau đây sẽ phác họa đôi nét về cách dùng và ý nghĩa của ba động từ “oida”, “ginôskô” và “gnôrizô” trong Tin Mừng thứ tư.

2. Động từ “ginôskô” (biết)

Động từ “ginôskô” có tiếp vĩ ngữ: “-skô”. Đây là một dạng láy âm (redoublement) diễn tả ý tưởng học biết, lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm đạt tới một sự hiểu biết nào đó. Biết như thế là một quá trình học hỏi với những kinh nghiệm. Nên động từ “ginôskô” còn có nghĩa: “học biết” (apprendre à connaître).

Trong Kinh Thánh, động từ “ginôskô” (biết) còn có nghĩa đặc biệt. Động từ này diễn tả sự hiệp thông sâu xa, trong tương quan tình yêu. Theo nghĩa này, “ginôskô” (biết) diễn tả việc vợ chồng ăn ở với nhau. Sách Sáng thế 4,1 kể: “Con người biết (theo nghĩa ăn ở với) E-và, vợ mình. Bà thụ thai và sinh Ca-in.” Trong câu này, động từ “biết” tiếng Híp-ri: yāda’, được dịch sang tiếng Hy Lạp trong bản LXX: ginôskô.

Trong Tin Mừng thứ tư, Đức Giê-su mặc khải cho những người Pha-ri-sêu về tương quan giữa Người với đàn chiên của Người và tương quan giữa Người với Chúa Cha như sau: “Chính Tôi là mục tử tốt. Tôi biết (ginôskô) chiên của Tôi, và chiên của Tôi biết (ginôskô) Tôi, như Cha biết (ginôskô) Tôi, và Tôi biết (ginôskô) Cha, và Tôi hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10,14-15). 

Đề tài “biết Chúa Cha” gợi đến đề tài “biết Thiên Chúa” trong toàn bộ Kinh Thánh. Khi chú giải Ga 16,3, M.-é. Boismard và A. Lamouille viết: “Phải cho động từ ‘biết’ nghĩa Kinh Thánh của nó. ‘Biết Thiên Chúa’ nghĩa là sống phù hợp với Lề Luật của Người và với các điều răn của Người” (M.-é. BOISMARD; A. LAMOUILLE, Synopse des quatre évangiles, t. III, p. 379). 

Ở Ga 16,2-3 Đức Giê-su nói với các môn đệ về những kẻ bách hại như sau: “2Họ sẽ làm cho anh em thành những người bị khai trừ khỏi hội đường. Sẽ đến giờ, kẻ nào giết anh em cũng tưởng mình phụng thờ Thiên Chúa. 3Họ sẽ làm những điều đó vì họ đã không biết (ginôskô) Cha cũng chẳng biết Thầy” (Ga 16,2-3). Nếu hiểu động từ “ginôskô” theo nghĩa biết nhờ tương quan, nhờ lòng mến, thì những kẻ bách hại trong Tin Mừng thứ tư đã không biết Đức Giê-su và không biết Thiên Chúa. Họ đã không có tương quan với Thiên Chúa, đã không giữ Lề Luật và các điều răn của Người. Sự “không biết Thiên Chúa” này gợi lại sự bất trung của dân Ít-ra-en được thuật lại trong Cựu Ước.

3. Động từ “oida” (biết)

Động từ Hy Lạp “oida” có ngữ căn là “id-” có nghĩa là thấy, nhận ra, nhận biết. Trong chiều hướng này, động từ “oida” diễn tả sự hiểu biết nhờ khả năng lý luận bằng lý trí. Hễ là con người, ai cũng có khả năng lý trí này. Các môn đệ là những người đã tin vào Đức Giê-su, nhưng vẫn phải học hỏi để hiểu biết mặc khải. Qua những thắc mắc, Đức Giê-su dạy cho các môn đệ biết Người là ai, từ đâu đến và sẽ đi về đâu. Cuối sứ vụ công khai của Đức Giê-su, các môn đệ đã nói với Người: “Bây gi chúng con biết (oida) rng Thy biết (oida) mi s, và Thy không cn có ai đ hi Thy. Vì điu này, chúng con tin rng Thy t Thiên Chúa mà đến” (16,30). Như thế, quá trình ging dy ca Đc Giê-su và quá trình th hun ca các môn đ đã đt kết qu.

Ngược lại, những kẻ chống đối, không tin và không đón nhận Đức Giê-su đã không biết dùng khả năng lý trí để nhận ra Đức Giê-su. Người nói với những người Pha-ri-sêu: “Các ông không biết (oida) Tôi t đâu ti và Tôi đi đâu” (8,14). Họ không biết Đức Giê-su vì họ không thuộc về Thiên Chúa (8,47), không thuộc về sự thật (18,37) và không thuộc về đàn chiên của Người (10,26).

4. Cách dùng động từ “oida” và “ginôskô”

Ý tưởng “Đức Giê-su biết Chúa Cha” được diễn tả bằng cả hai động từ “oida” và “ginôskô”. Ở 8,55, khi tranh luận với những người Do Thái, Đức Giê-su đối lập giữa biết Chúa Cha và không biết Chúa Cha. Người nói với họ: “Các ông không biết (ginôskô) Người [Chúa Cha]; nhưng Tôi, Tôi biết (oida) Người. Nếu Tôi nói là Tôi không biết (oida) Người, thì Tôi sẽ giống như các ông là kẻ nói dối. Nhưng Tôi biết (oida) Người và Tôi giữ lời của Người” (8,55). Đức Giê-su dùng động từ “oida” (biết) để khẳng định Người biết Chúa Cha, điều này phù hợp với bối cảnh tranh luận, trong đó khía cạnh hiểu biết bằng lý trí được đề cao. Đồng thời, ở 10,15, Đức Giê-su dùng động từ ginôskô” để khẳng định Người biết Chúa Cha. Người nói: “Cha biết (ginôskô) Tôi, và Tôi biết (ginôskô) Cha” (10,15). Bằng cách dùng cả hai động từ: “oida” (8,55) và “ginôskô” (10,15), Đức Giê-su cho thấy Người biết Chúa Cha cách trọn hảo và sâu xa đến nỗi Người đã khẳng định với những người Do Thái: “Tôi và Cha, Chúng Tôi là mt” (10,30); “Cha trong Tôi và Tôi trong Cha” (10,38). Người cũng mặc khải điều này cho các môn đệ biết, khi Người nói với họ: “Thy trong Cha và Cha trong Thy” (14,11) và “Ai thy Thy là thy Cha” (14,9). 

Về phía những kẻ chống đối Đức Giê-su (những người Do Thái và những người Pha-ri-sêu) trong suốt sứ vụ công khai, sự không biết của họ cũng được diễn tả bằng hai động từ “oida” và “ginôskô”. Thật vậy, khi giảng dạy trong Đền Thờ, Đức Giê-su nói: “Đấng đã sai Tôi là Đấng chân thật, Đấng mà các ông không biết (oida)” (7,28b). Ở 8,55a, Đức Giê-su nói với những người Do Thái: “Các ông không biết (ginôskô) Người [Chúa Cha]” (8,55a). Như thế, những kẻ chống đối Đức Giê-su trong Tin Mừng thứ tư cũng hoàn toàn không biết Đức Giê-su và không biết Chúa Cha. Họ không biết về tri thức (oida) và không biết về tương quan (ginôskô).

Sự phủ định của hai động từ “oida” và “ginôskô” cho thấy tầm quan trọng trong thần học Tin Mừng thứ tư về đề tài “biết - không biết”. Ở 16,3, sự “không biết Chúa Cha” được nói đến trước. Đức Giê-su nói với các môn đệ về những kẻ bách hại: “Họ đã không biết (ginôskô) Cha cũng chẳng biết Thầy” (16,3b). Chính vì họ không biết Chúa Cha, dẫn đến hậu quả là họ không biết Đức Giê-su. 

Ngược lại, khi Đức Giê-su đối thoại trực tiếp với những người Pha-ri-sêu thì tiến trình hiểu biết lại đảo ngược: Biết Đức Giê-su dẫn đến biết Chúa Cha. Trao đổi giữa Đức Giê-su và những người Pha-ri-sêu ở 8,18-19 cho thấy điều đó. Đức Giê-su nói với họ: “18Chính Tôi là người làm chứng về mình, và Cha, Đấng đã sai Tôi, làm chứng về Tôi. 19Vậy họ nói với Người: ‘Cha của Ông ở đâu?’ Đức Giê-su trả lời: ‘Các ông không biết (oida) Tôi, cũng chẳng biết Cha của Tôi. Nếu các ông biết Tôi (oida), các ông cũng biết (oida) Cha của Tôi’” (8,18-19). 

Bối cảnh tranh luận ở 8,18-19 nhấn mạnh đến khía cạnh hiểu biết bằng lý luận nên dùng động từ “oida”. Nếu họ không biết Đức Giê-su thì cũng không biết Chúa Cha. Nói cách khác, không biết Đức Giê-su dẫn đến không biết Chúa Cha. Đề tài “biết Đức Giê-su và biết Chúa Cha” được trình bày theo cả hai chiều: Nếu thực sự biết Đức Giê-su thì biết Chúa Cha và ngược lại.

Tiến trình hiểu biết của các môn đệ cũng được trình bày theo hướng: Biết Đức Giê-su thì biết Chúa Cha. Đức Giê-su nói với các môn đệ về điều kiện để biết Chúa Cha ở 14,7: “Nếu anh em biết (ginôskô) Thầy, anh em cũng sẽ biết (ginôskô) Cha của Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết (ginôskô) Người và đã thấy Người.” Để biết Chúa Cha, cần biết Đức Giê-su trước và đây là biết trong tương quan, biết bằng con tim, bằng sự lắng nghe và đón nhận. 

Tiến trình học biết của các môn đệ: “Biết cách nghe” những lời giảng dạy của Đức Giê-su và “biết cách nhìn” những dấu lạ Người làm. Từ đó, biết Đức Giê-su là ai và tin vào Người. Nhờ biết Đức Giê-su, các môn đệ biết Chúa Cha như Đức Giê-su đã mặc khải về Cha. Như thế, cần biết Đức Giê-su để biết Thiên Chúa, không biết Đức Giê-su thì cũng không biết Thiên Chúa. Đây là điều Đức Giê-su đã nói với những người Pha-ri-sêu ở 8,19 và nói với các môn đệ ở 14,7 như đã trình bày.

Các môn đ là nhng người đi theo Đc Giê-su và hc hi giáo hun ca Người trong tương quan “Thy – môn đ”. Tiến trình hc hi bao hàm kh năng “nghe” và “nhìn” đ hiu điu Đc Giê-su nói và làm. Đi vi các môn đ, Đc Giê-su là Đng mc khi đích thc, vì Người đến t Chúa Cha, Người được Chúa Cha sai đến đ ban s sng cho người tin. Như thế, chính Đc Giê-su mc khi v Chúa Cha và làm cho các môn đ biết Chúa Cha. 

Ngược li, tiến trình hc biết Đc Giê-su ca nhng k chng đi đã tht bi. H không có kh năng nghe và không biết cách nhìn đ thc s biết Đc Giê-su là ai. Khó khăn lớn nhất của họ chính là đạt đến sự hiểu biết đích thực. Họ tự cho mình là biết, nhưng lại “biết không đúng”. M.-é. Boismard và A. Lamouille nhận định về họ: “Vì định hướng sai lạc về Thiên Chúa, nên họ không thể đón nhận cách đúng đắn Đấng Thiên Chúa sai đến” (M.-é. BOISMARD; A. LAMOUILLE, Synopse des quatre évangiles, t. III, 1977, p. 378).

Thực ra, theo thần học Tin Mừng thứ tư, chỉ những ai đón nhận giáo huấn của Thiên Chúa mới có thể đến với Đức Giê-su, vì Người đã nói: “Không ai có thể đến với Tôi, nếu Cha là Đấng đã sai Tôi, không lôi kéo người ấy” (6,44a). Rồi Người nói tiếp: “Mọi người nghe Cha và đón nhận giáo huấn của Người thì đến với Tôi” (6,45). 

Đối với độc giả không xuất phát từ Do Thái giáo thì giáo huấn của Thiên Chúa chính là “sống theo sự thật” và mở lòng ra đón nhận những gì Đức Giê-su mặc khải. Nói theo ngôn ngữ Tin Mừng thứ tư là “làm sự thật” (3,21) và “thuộc về sự thật” (18,37) như Đức Giê-su đã nói với Phi-la-tô: “Chính ngài nói rằng Tôi là Vua, vì điều này, Tôi đã sinh ra, và vì điều này, Tôi đã đến thế gian để làm chứng cho sự thật, bất cứ ai thuộc về sự thật thì nghe tiếng Tôi” (18,37).

Tuy nhiên bối cảnh Tin Mừng thứ tư cho phép hiểu “sự không biết” của những kẻ chống đối theo hướng tích cực. Những kẻ chống đối đã bách hại Đức Giê-su và các môn đệ của Người vì không biết. Vì thế, Đức Giê-su và các môn đệ vẫn có tương quan với họ. Họ bách hại vì không biết, nên không có sự cắt đứt tương quan giữa người tin với những kẻ chống đối. Ngược lại, sứ vụ của Đức Giê-su và sứ vụ của các môn đệ là làm cho họ nhận biết Chúa Cha đã sai Đức Giê-su đến thế gian (17,21.23). Khả năng “biết” của họ vẫn ở phía trước. Trong viễn cảnh này, đề tài “biết” – “không biết” là một trong những đề tài quan trọng và độc đáo của thần học Tin Mừng thứ tư. Mặc khải của Đức Giê-su vừa giúp các môn đệ đứng vững trước khó khăn thử thách, vừa giúp các môn đệ có tương quan đúng đắn và tích cực với với những người chưa thực sự biết Đức Giê-su là ai.

5. “Biết” (ginôskô) và “làm cho biết” (gnôrizô)

Trong Tin Mừng thứ tư, động từ “gnôrizô” (làm cho biết) chỉ xuất hiện ba lần ở Ga 15,15; 17,25a.25b, nhưng có ý nghĩa quan trọng. Trong cả ba lần chủ từ của động từ “gnôrizô” (làm cho biết) là Đức Giê-su. Đức Giê-su được định nghĩa như là “Đấng làm cho biết”, “Đấng mặc khải”, “Đấng giảng dạy”. Có thể nói, trong suốt Tin Mừng, Đức Giê-su làm cho thính giả (độc giả) biết sự thật về Thiên Chúa, sự thật về Người và sự thật về con người.

Theo thần học Tin Mừng thứ tư, sứ vụ của Đức Giê-su là “làm cho biết”. Thật vậy, Đc Giê-su ng li vi Chúa Cha v kết qu s v ca Người như sau: “Bây gi h [các môn đ] biết (ginôskô) rng: Tt c nhng gì Cha ban cho Con đu là ca Cha. Nhng li mà Cha đã ban cho Con, Con đã ban cho h; và h đã nhn chúng, và h đã biết (ginôskô) tht là Con đã t Cha mà đến, và h đã tin là Cha đã sai Con” (17,7-8). Như thế, tiến trình truyn đt mc khi ca Đc Giê-su và tiến trình hc biết mc khi ca các môn đ đã thành công: Các môn đ đã biết Đc Giê-su và biết Chúa Cha. Tuy nhiên tiến trình này chưa xong, chưa kết thúc.

Trong mạch văn, tiến trình “làm cho biết” và “học để biết” vẫn tiếp diễn và kéo dài trong suốt cuộc đời người môn đệ, cho dù toàn bộ mặc khải đã được Đức Giê-su trao ban rồi. Cuối sứ vụ công khai Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Tất cả những gì Thầy nghe nơi Cha của Thầy, Thầy đã làm cho anh em biết (gnôrizô)” (15,15b). 

Đức Giê-su đã làm cho các môn đệ biết tất cả mặc khải, nhưng các môn đệ chưa biết hết tất cả mặc khải. Vì thế, trước khi bước vào cuộc thương khó, lời cuối cùng Đức Giê-su nói với Cha của Người đã tóm kết và mở về tương lai đề tài “biết” (ginôskô) và “làm cho biết” (gnôrizô). Người ngỏ lời với Cha của Người ở 17,25-26: “25Lạy Cha Đấng Công Chính, thế gian đã không biết (ginôskô) Cha, nhưng Con, Con biết (ginôskô) Cha, và những người này đã biết (ginôskô) rằng: Chính Cha đã sai Con. 26Con đã làm cho họ biết (gnôrizô) danh của Cha, và Con sẽ còn làm cho họ biết (gnôrizô), để tình yêu mà Cha đã yêu mến Con ở trong họ và Con trong họ.” Đức Giê-su vẫn tiếp tục làm cho các môn đệ biết trong suốt cuộc đời của họ qua sự hướng dẫn, giảng dạy của Đấng Pa-rác-lê, Thần Khí sự thật: Đấng Pa-rác-lê dạy và làm cho các môn đệ nhớ lại tất cả những gì Đức Giê-su đã nói (14,26) và chính Đấng Pa-rác-lê dẫn các môn đệ đi trong sự thật toàn vẹn (16,13).

6. Kết luận

Tin Mừng thứ tư dùng ba động từ mô tả sự biết: “oida” (biết bằng lý trí), “ginôskô” (biết bằng con tim) và “gnôrizô” (làm cho biết) để trình bày thần học về quá trình truyền đạt và đón nhận mặc khải. Đức Giê-su biết cách trọn vẹn về Chúa Cha, về các môn đệ và về đàn chiên của Người theo cả hai nghĩa: biết bằng tri thức, nhờ suy luận (oida) và biết bằng con tim, nhờ tình yêu (ginôskô). Các môn đệ cũng biết Đức Giê-su, biết Chúa Cha và biết mặc khải của Đức Giê-su bằng lý trí (oida) và bằng con tim (ginôskô) nhờ sự đón nhận, lắng nghe và tin vào Đức Giê-su.

Ngược lại, những kẻ chống đối và không tin vào Đức Giê-su (những người Do Thái, những người Pha-ri-sêu, các thượng tế) hoàn toàn không biết Đức Giê-su và Chúa Cha. Họ không biết bằng suy luận (oida) cũng không biết bằng con tim (ginôskô) nhờ sự đón nhận và lắng nghe Đức Giê-su. Tuy nhiên, Đức Giê-su luôn mời gọi họ mở lòng ra để biết. Sứ vụ của các môn đệ qua mọi thời đại là sống hiệp nhất để thế gian nhận biết và tin vào Đức Giê-su (17,21.23).

Tin Mừng thứ tư xây dựng thần học về đề tài “biết” – “không biết” – “làm cho biết” qua sắc thái nghĩa của ba động từ “oida”, “ginôskô” và “gnôrizô”. Đây là điểm độc đáo của Tin Mừng thứ tư, vì qua đó, Tin Mừng mời gọi người đọc (đã tin, sẽ tin và chưa tin) qua mọi thời đại bước vào tiến trình học hỏi bằng lý trí và học hỏi bằng con tim để thực sự biết Đức Giê-su và hiểu biết nội dung mặc khải của Người. Tiến trình học này vẫn còn hiện thực ngày hôm nay nơi các môn đệ, vì Đức Giê-su vẫn còn tiếp tục “làm cho biết” mặc khải qua hoạt động của Đấng Pa-rác-lê, Thần Khí sự thật.

Xem phân tích chi tiết đề tài này trong tập sách: Yêu và ghét trong Tin Mừng thứ tư, Phần I, mục “Thế gian không biết (oida và ginôskô)”, trang 202-218.

Email: josleminhthong@gmail.com


Phụ lục: Số lần các động từ xuất hiện trong Ga

1. Động từ “oida” (biết, hiểu biết), xuất hiện 84 lần trong Tin Mừng thứ tư:
Ch. 1–12 xuất hiện 54 lần: 1,26.31.33; 2,9a.9b; 3,2.8.11;
4,10.22a.22b.25.32.42; 5,13.32; 6,6.42.61.64; 7,15.27.28a.28b.28c.29;
8,14a.14b.19a.19b.19c.37.55a.55b.55c;
9,12.20.21a.21b.24.25a.25b.29a.29b.30.31; 10,4.5;
11,22.24.42.49; 12,35.50.
Ch. 13–17 xuất hiện 14 lần: 13,1.3.7.11.17.18;
14,4.5a.5b; 15,15.21; 16,18.30a.30b.
Ch. 18–21 xuất hiện 16 lần: 18,2.4.21; 19,10.28.35;
20,2.9.13.14; 21,4.12.15.16.17.24.
Trong 84 lần trên, đề tài “không biết” xuất hiện 6 lần ở 15,21; 16,3; 17,25 (3 lần Thế gian không biết); 7,28; 8,19; 8,55 (3 lần những kẻ chống đối không biết).

2. Động từ “ginôskô” (biết, học biết), xuất hiện 57 lần trong Tin Mừng thứ tư:
Ch. 1–12 xuất hiện 33 lần: 1,10.48; 2,24.25; 3,10; 4,1.53;
5,6.42; 6,15.69; 7,17.26.27.49.51; 8,27.28.32.43.52.55;
10,6.14a.14b.15a.15b.27.38a.38b; 11,57; 12,9.16.
Ch. 13–17 xuất hiện 22 lần: 13,7.12.28.35;
14,7a.7b.7c.9.17a.17b.20.31; 15,18; 16,3.19; 17,3.7.8.23.25a.25b.25c.
Ch. 18–21 xuất hiện 2 lần: 19,4; 21,17.

3. Động từ “gnôrizô” (làm cho biết), xuất hiện 3 lần trong Tin Mừng thứ tư: 15,15; 17,26a.26b.