15 janvier 2011

Ga 1,6-8.19-28: Làm chứng và giới thiệu Đức Giê-su

Thượng nguồn sông Gio-đan [ngày 10/11/2007]

Làm chứng về Ánh Sáng
và giới thiệu Đức Giê-su cho mọi người
Ga 1,6-8.19-28

Bản văn (Lê Minh Thông dịch sát theo theo bản văn Hy Lạp)

6 Có một người được sai đến từ Thiên Chúa, tên ông là Gio-an.
7 Ông ấy đến làm chứng. Ông làm chứng về ánh sáng, để mọi người tin nhờ ông ấy.
8 Ông ấy không phải là ánh sáng, nhưng làm chứng về ánh sáng.
[1,9-18]
19 Và đây là lời chứng của Gio-an, khi những người Do Thái từ Giê-ru-sa-lem cử các tư tế và các Lê-vi đến với ông ấy để họ hỏi ông ấy: “Ông là ai?”
20 Ông ấy tuyên xưng chứ không chối, Ông ấy tuyên xưng rằng: “Chính tôi không phải là Đấng Ki-tô.”
21 Họ hỏi ông ấy: “Vậy thì sao? Ông là Ê-li-a phải không?” Ông ấy nói: “Không phải tôi.” – “Ông có phải là vị ngôn sứ chăng?” Ông ấy đáp: “Không.”
22 Vậy họ nói với ông ấy: “Ông là ai, để chúng tôi trả lời cho những người đã cử chúng tôi? Ông nói gì về chính mình?”
23 Ông ấy khẳng định: “Tôi là tiếng kêu trong hoang mạc, hãy làm cho thẳng con đường của Chúa, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.”
24 Những người được sai đến thì thuộc nhóm Pha-ri-sêu.
25 Họ hỏi ông ấy và nói với ông: “Vậy tại sao ông làm phép rửa, nếu chính ông không phải là Đấng Ki-tô, cũng không phải là Ê-li-a hay vị ngôn sứ?”
26 Gio-an trả lời họ rằng: “Chính tôi làm phép rửa trong nước. Người đang đứng giữa các ông mà các ông không biết,
27 Người đến sau tôi và chính tôi không xứng đáng cởi quai dép của Người.”
28 Những điều đó đã xảy ra tại Bê-ta-ni-a, bên kia Gio-đan, nơi Gio-an làm phép rửa.

Tìm hiểu

Nhân vật chính của đoạn Tin Mừng (Ga 1,6-8.19-28) là Gio-an Tẩy Giả, đoạn văn nói về vai trò và sứ vụ của ông trước khi Đức Giê-su xuất hiện rao giảng công khai. Nội dung đoạn văn trích một phần (1,6-8) của “lời tựa thần học” (1,1-18) và một phần (1,19-28) của “lời tựa lịch sử” (1,19-51). Hai lời tựa này mở đầu sách Tin Mừng thứ tư. Lời tựa thần học nói về nguồn gốc thần linh của Đức Giê-su; lời tựa lịch sử nói về việc Đức Giê-su xuất hiện khai mạc sứ vụ công khai qua lời chứng và lời giới thiệu của Gio-an Tẩy Giả.
Đoạn Tin Mừng thoáng cho thấy nội dung và cách hành văn trong sách Tin Mừng thứ tư, cũng như cho biết vài ám chỉ lịch sử về sự xuất hiện của Đức Giê-su. Sách Tin Mừng thứ tư mở đầu bằng lời chứng của Gio-an và kết thúc bằng lời chứng của người môn đệ Đức Giê-su yêu mến (21,24). Xin chia sẻ vài gợi ý về vai trò và vị trí của Đức Giê-su, về việc làm chứng và giới thiệu Đức Giê-su cho mọi người qua nhân vật Gio-an Tẩy Giả.
Nội dung bài tìm hiểu ngắn gồm năm mục:
1. Làm chứng về ánh sáng
2. Lịch sử và thần học về Đức Giê-su
3. Ánh sáng và bóng tối
4. Lời chứng về Đức Giê-su, lời chứng của Đức Giê-su
5. Kết luận



1. Làm chứng về ánh sáng

Phần đầu đoạn Tin Mừng (1,6-8) nói đến vai trò của Gio-an, ông không đến tự mình nhưng ông được Thiên Chúa sai đến và nhiệm vụ của ông là làm chứng về ánh sáng. Bản văn vừa lặp lại vừa khẳng định bằng câu phủ định: “Ông ấy không phải là ánh sáng, nhưng để làm chứng về ánh sáng” (1,8). Có thể người ta đã lầm tưởng Gio-an là ánh sáng nên cần làm rõ bằng sự phủ định. Gio-an có thể là gì đó, nhưng điều chắc chắn là ông không phải là ánh sáng. Trong phần lời tựa sách Tin Mừng (1,1-18), những câu trước (1,1-5) và sau (1,9-11) phần nói về Gio-an (1,6-8) cho biết ánh sáng mà Gio-an làm chứng là ai.
Trước khi nói đến vai trò của Gio-an, lời tựa viết: “Ở nơi Người [Lời, Logos] là sự sống, và sự sống là ánh sáng của loài người, và ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không lấn át được ánh sáng” (1,4-5). Những câu 1,9-11 nói tiếp về Lời (Logos) như sau: “Người là ánh sáng thật, ánh sáng chiếu soi mọi người, đến trong thế gian. Người ở trong thế gian, thế gian được tạo thành nhờ Người và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, và những kẻ thuộc về Người đã không đón nhận Người” (1,9-11).
Như thế, lời chứng của Gio-an đặt trong bối cảnh xung đột giữa “ánh sáng” và “bóng tối”, giữa “đón nhận” và “không đón nhận”, giữa “nhận biết” và “không nhận biết” ánh sáng. Ánh sáng đó chính là Lời Nhập Thể (1,14) mà những câu đầu tiên của sách Tin Mừng (1,1-4) đã khẳng định mạnh mẽ nguồn gốc thần linh của Lời: “Lời có lúc khởi đầu, và Lời ở với Thiên Chúa, và Lời là Thiên Chúa. Người ở với Thiên Chúa lúc khởi đầu. Nhờ Người, mọi sự được tạo thành, và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành. Điều đã được tạo thành ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng của loài người” (1,1-4).
Sự hiện hữu, vị trí và vai trò của Lời Nhập Thể được giới thiệu như thế thì làm sao có thể lầm lẫn với Gio-an Tẩy Giả được? Thực ra, trên bình diện lịch sử, người ta có thể lầm tưởng Gio-an là Đấng Mê-si-a vì Gio-an xuất hiện trước Đức Giê-su và đã gây được tiếng vang đáng kể. Còn những gì nói về Lời Nhập Thể là khẳng định niềm tin của cộng đoàn. Vì thế, cần phải làm rõ vai trò của Gio-an Tẩy Giả và vai trò của Đức Giê-su là “người đến sau”.

2. Lịch sử và thần học về Đức Giê-su

Phần thứ hai của đoạn Tin Mừng (1,19-28) cũng nói về những ý tưởng trong phần thứ nhất (1,6-8) nhưng cụ thể hơn qua cuộc đối thoại giữa Gio-an và giới lãnh đạo Do Thái, gồm các tư tế và các Lê-vi (1,19), họ là những người thuộc nhóm Pha-ri-sêu (1,24).
Đây là lúc Gio-an thi hành sứ vụ làm chứng của ông. Chúng ta gặp lại kiểu hành văn phủ định trước đó ở 1,8. Trước khi giới thiệu Đức Giê-su, Gio-an làm chứng bằng cách nói “không” về mình. Ông khẳng định mình “không phải là Đấng Ki-tô” (1,20), “không phải là Ê-li-a” (1,21a), “không phải là vị ngôn sứ” (1,21b). Trả lời bằng phủ định vừa cho phép loại trừ sự lầm lẫn, vừa chuẩn bị để giới thiệu ai đó theo nguyên tắc mà Gio-an đã nói với môn đệ của mình: “Đấng ấy phải lớn lên, còn thầy phải suy giảm” (3,30). Qua bản văn Tin Mừng thứ tư, có thể phác họa sự xuất hiện của Đức Giê-su trong lịch sử như sau:
Lúc đầu, Gio-an xuất hiện trước Đức Giê-su và được nhiều người biết đến, đã có người nghĩ rằng Gio-an là Đấng Ki-tô mà dân chúng mong đợi. Vì thế, cần làm rõ qua cách nói phủ định để tránh hiểu lầm trước khi giới thiệu Đức Giê-su. Gio-an khẳng định: “Chính tôi làm phép rửa trong nước. Người đang đứng giữa các ông mà các ông không biết, Người đến sau tôi và chính tôi không xứng đáng cởi quai dép của Người” (1,26-27).
Lời nói và việc làm của Gio-an trong Tin Mừng thứ tư có ba gợi ý lịch sử:
1) “Người đang đứng giữa các ông mà các ông không biết” ám chỉ rằng vào thời điểm ấy, người ta biết Gio-an Tẩy Giả hơn là biết Đức Giê-su, vì Đức Giê-su chưa xuất hiện công khai.
2) Trước khi bước vào sứ vụ công khai, Đức Giê-su có liên hệ với nhóm Gio-an Tẩy Giả, vì Gio-an giới thiệu Đức Giê-su cho dân chúng, và Gio-an giới thiệu môn đệ của mình cho Đức Giê-su (1,35-37).
3) Kiểu nói: “người đến sau tôi” hay “người đi sau tôi” (1,15.30) muốn nói người ấy là môn đệ, bởi vì đi sau người nào là môn đệ của người ấy. Có giả thuyết cho rằng trước khi bước vào hoạt động công khai, Đức Giê-su là môn đệ của Gio-an Tẩy Giả. Giả thuyết này dựa vào lời Gio-an nói về Đức Giê-su như là “người đến sau Gio-an” hay “người đi sau Gio-an”. Ý tưởng này được Gio-an Tẩy Giả lặp lại hai lần ở 1,15 và 1,30.
Tuy nhiên khi Đức Giê-su khởi đầu sứ vụ công khai, Gio-an khẳng định sự đảo lộn nền tảng về vị trí giữa ông và Đức Giê-su. Gio-an nói về Đức Giê-su như sau: “Người đến sau tôi, nhưng vượt trước tôi, vì Người có trước tôi” (1,15.30). Câu này có ý nghĩa thần học quan trọng về vị trí và nguồn gốc của Đức Giê-su so với Gio-an Tẩy Giả. Về lịch sử, Đức Giê-su là “Người đi sau”, nhưng đã “vượt lên đi trước” nghĩa là trở thành vị Thầy. Đối với Gio-an Tẩy Giả, Đức Giê-su trở thành Thầy của ông vì Đức Giê-su đã “vượt trước ông”.
Điểm thần học quan trọng hơn được Gio-an nói đến hai lần: “Người có trước tôi (prôtos mou en)” (1,15.30). “Có trước” trong câu này dùng động từ eimi (là, có, hiện hữu). Vì thế, Gio-an khẳng định Đức Giê-su hiện hữu trước ông. Trên bình diện lịch sử, Gio-an Tẩy Giả sinh ra trước Đức Giê-su, còn trên bình diện thần học, Đức Giê-su hiện hữu trước Gio-an Tẩy Giả vì “Lời có lúc khởi đầu” (1,1a). Để cụ thể hoá sự trổi vượt ấy, Gio-an cho rằng mình “không xứng đáng để cởi quai dép” của Đức Giê-su (1,27).
Ý tưởng về mối liên hệ giữa Đức Giê-su và nhóm của Gio-an Tẩy Giả phù hợp với lịch sử. Thực vậy, theo Tin Mừng thứ tư, hai môn đệ đầu tiên của Đức Giê-su thuộc nhóm môn đệ của Gio-an Tẩy Giả. Người thuật chuyện kể về hai môn đệ đầu tiên của Đức Giê-su: “Hôm sau, Gio-an lại đứng với hai người trong các môn đệ của ông ấy. Và chăm chú nhìn Đức Giê-su đang đi qua, ông ấy nói: ‘Đây là Chiên của Thiên Chúa.’ Hai môn đệ của ông ấy nghe nói thế, họ đi theo Đức Giê-su” (1,35-37).
Đồng thời Gio-an Tẩy Giả khẳng định mạnh mẽ căn tính và nguồn gốc thần linh của Đức Giê-su phù hợp với thần học về Lời Nhập Thể trong lời tựa sách Tin Mừng. Như thế, qua nhân vật Gio-an Tẩy giả, Tin Mừng thứ tư vừa đề cao tính lịch sử của biến cố Đức Giê-su xuất hiện, vừa khẳng định mạnh mẽ thần học về Lời Nhập Thể.

3. Ánh sáng và bóng tối

Phần làm chứng và giới thiệu Đức Giê-su trong đoạn Tin Mừng 1,6-8.19-28 còn đặt trong bầu khí xung đột với giới lãnh đạo Do-thái – qua những lời chất vấn – để biết Gio-an là ai. Chính họ cũng sẽ chất vấn Đức Giê-su trong suốt Tin Mừng để biết: Người là ai, từ đâu đến, đã làm gì và lấy quyền ở đâu để rao giảng.
Chất vấn và tranh luận là kiểu hành văn của Tin Mừng thứ tư, vì Tin Mừng được trình bày như một vụ kiện lớn giữa Thiên Chúa và con người. Thực vậy, nếu như Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi ban Con Một (3,16) thì người ta lại yêu mến bóng tối hơn ánh sáng và ghét ánh sáng (3,19-20). Đó là vụ kiện giữa những người không đón nhận ánh sáng” và “những người đón nhận ánh sáng” (1,10-13). Vụ kiện giữa “ánh sáng” và “bóng tối” này vẫn còn tiếp diễn trong cộng đoàn đón nhận Tin Mừng thứ tư và vẫn còn hiện thực qua mọi thời đại.

4. Lời chứng về Đức Giê-su, lời chứng của Đức Giê-su

Trong bối cảnh trên, việc làm chứng có tầm quan trọng đặc biệt. Có thể nói toàn bộ Tin Mừng thứ tư là một chuỗi các li chng v Đc Giê-suli chng ca Đc Giê-su.
1) “Lời chứng về Đức Giê-su” vì tất cả các lời chứng của Chúa Cha, của Gio-an Tẩy Giả, của Kinh Thánh.v.v… (5,31-47) đều làm chứng cho Đức Giê-su.
2) Nội dung sách Tin Mừng là “lời chứng của Đức Giê-su” vì Người đến để làm chứng cho sự thật. Cái chết của Người trên thập giá là lời chứng hùng hồn về tình yêu của Người dành cho các môn đệ (13,1; 15,13) và là lời chứng về tình yêu của Thiên Chúa dành cho thế gian (3,16).

5. Kết luận

Tóm lại, đoạn Tin Mừng trên có một phần (1,6-8) thuộc lời tựa thần học (1,1-18) và một phần (1,19-28) thuộc lời tựa lịch sử (1,19-51) giới thiệu về toàn bộ Tin Mừng thứ tư. Đoạn Tin Mừng Ga 1,6-8.19-28 vừa cho biết Đức Giê-su là ai so với Gio-an Tẩy Giả; vừa khai mở sứ vụ công khai của Đức Giê-su; vừa báo trước sự xung đột giữa Đức Giê-su và những kẻ chống đối Người trong Tin Mừng.
Ước mong chúng ta cũng biết can đảm làm chứng như Gio-an Tẩy Giả, dám nói không về mình để ánh sáng đích thực là Đức Giê-su được tỏ lộ; dám làm chứng cho tình yêu của Thiên Chúa được bày tỏ nơi Đức Giê-su; dám làm chứng cho tình yêu cao cả ấy giữa cộng đoàn và cho thế giới hôm nay.

Xem phân tích về Lời (Logos) và Lời Nhập Thể trong bài Tìm hiểu Tin Mừng Ga 1,1-18: “Thấy” và “Nghe” Lời Nhập Thể .

Ngày 15 tháng 01 năm 2011
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.

1 janvier 2011

Lc 2,6b-20: Hành trình các mục đồng, hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su


Đường phố Bê-lem [24/11/2007]
Hành trình các mục đồng cũng là
hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su:
Thấy, nghe, xác tín, ra đi loan báo 

và ca tụng Thiên Chúa
Lc 2,6b-20
(Bản dịch của NPDCGKPV)
Khi ông Giu-se và bà Ma-ri-a đang ở Bê-lem, miền Giu-đê,
6b thì bà Ma-ri-a đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa.
7 Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong nhà trọ.
8 Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật.
9 Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng.
10 Nhưng sứ thần bảo họ: "Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân:
11 Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.
12 Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ."
13 Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng:
14 "Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."
15 Khi các thiên sứ từ biệt mấy người chăn chiên để về trời, những người này bảo nhau: "Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết."
16 Họ liền hối hả ra đi. Đến nơi, họ gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ.
17 Thấy thế, họ liền kể lại điều đã được nói với họ về Hài Nhi này.
18 Nghe các người chăn chiên thuật chuyện, ai cũng ngạc nhiên.
19 Còn bà Ma-ri-a thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng.
20 Rồi các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ.

Chia sẻ
Đoạn Tin Mừng Lc 2,6b-20 vẽ lên ba bức tranh chính: (1) Đức Ma-ri-a hạ sinh Đức Giê-su ở Bê-lem. (2) Chuyện những người chăn chiên được báo tin và tìm đến gặp Hài Nhi. (3) Lời ca ngợi Thiên Chúa của các sứ thần.
Xin chia sẻ câu chuyện về những người chăn chiên trong bức tranh thứ hai, liên quan đến các động từ “nghe”, “thấy”, “nói” và “tôn vinh Thiên Chúa”. Có thể hành trình của những người chăn chiên cũng là hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su qua mọi thời đại.
Bức tranh về nhân vật những người chăn chiên thật sinh động. Sứ điệp mà sứ thần dành cho những người chăn chiên là audio-visuel, nghĩa là vừa nghe bằng tai vừa thấy bằng mắt.
Trước hết những người chăn chiên thấy sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả, khiến họ kinh khiếp hãi hùng (2,9). Kế đến là họ nghe lời sứ thần với hai ý. Một là báo tin vui: Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít. Thứ đến là dấu chỉ để nhận ra Hài Nhi: “Anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (2,12). Như thế, lời loan báo của sứ thần không phải chỉ để nghe cho biết, nhưng là một sứ điệp có khả năng biến “sợ hãi” thành “niềm vui”, có khả năng biến “lời nói” thành “hành động”: đứng dậy và lên đường.
Đáp trả lời mời gọi, những người chăn chiên bảo nhau: “Nào chúng ta sang Bê-lem, để xem sự việc đã xảy ra, như Chúa đã tỏ cho ta biết” (2,15). Họ đã “gặp bà Ma-ri-a, ông Giu-se, cùng với Hài Nhi đặt nằm trong máng cỏ” (2,16) như lời sứ thần loan báo. Nhờ kiểm chứng “lời đã nghe” bằng “mắt đã thấy”, những người chăn chiên xác tín sự kiện đã xảy ra, từ đó trình thuật chuyển sang đề tài đối thoại với ba khía cạnh:
1) Đối thoại với người khác. Những người chăn chiên đã kể lại những điều họ đã nghe sứ thần Chúa nói với mình về Hài Nhi.
2) Đối thoại với chính mình qua hình ảnh Đức Ma-ri-a hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng. Tự đối thoại với chính mình bằng cách sống với biến cố, tự đặt câu hỏi và tìm câu trả lời để hiểu ý nghĩa của biến cố.
3) Đối thoại với Thiên Chúa bằng cách “tôn vinh và ca tụng” (2,20) như những người chăn chiên đã làm.
Câu kết cho thấy điểm nhấn của câu chuyện: “Các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ” (2,20). Nhắc lại những gì đã thấy và lời loan báo để kết câu chuyện, làm lộ ra ý nghĩa trình thuật nhắm tới:
Thấy vinh quang Chúa, nghe tin vui và dấu chỉ của sứ thần, vội vã lên đường; khi đã gặp thì kể cho mọi người biết và rồi lại ra đi tôn vinh Thiên Chúa.
Đó là hành trình của người tin, hành trình trở thành môn đệ Đức Giê-su. Nghe, biết, đón nhận, tin vào Người để rồi ra đi chia sẻ cho người khác và không ngừng ca tụng tình thương của Thiên Chúa dành cho loài người.
Người chăn chiên là hạng người thấp nhất trong xã hội, nhưng họ lại là người được loan báo tin vui trước hết. Không những Thiên Chúa không loại trừ một ai mà Người còn dành ưu ái cho hạng người thấp nhất trong xã hội. Vì thế, chúng ta đừng bao giờ thất vọng về chính mình hay nghĩ là Chúa bỏ rơi mình. Thực ra, chỉ có con người bỏ rơi Thiên Chúa chứ Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi con người.
Đoạn Tin Mừng Lc 2,6b-20 gợi lại hành trình trở thành người môn đệ và hành trình sứ vụ của chúng ta. Xin cho chúng ta biết cách nhìn để thấy những gì đã và đang xảy ra trong lịch sử; biết cách lắng nghe Lời mặc khải để đón nhận tin vui trọng đại cho loài người, để từ đó xác tín và lên đường, hân hoan loan báo tin vui và cất lời ca tụng Thiên Chúa như những người chăn chiên đã làm. Để được như thế, ước gì chúng ta luôn suy đi nghĩ lại trong lòng giáo huấn của Đức Giê-su trong suốt hành trình làm người, như Mẹ đã làm./.

Ngày 01 tháng 01 năm 2011
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.