5 novembre 2011

Ý nghĩa màu sắc, kim loại và đá quý trong Sách Khải Huyền



Email: josleminhthong@gmail.com
Ngày 06 tháng 11 năm 2011.
Cập nhật ngày 07 tháng 03 năm 2014.

Nội dung

Dẫn nhập
I. Các loại màu sắc, đá và kim loại quý
     1. Màu sắc
     2. Các loại đá, ngọc
     3. Kim loại
II. Ý nghĩa màu sắc
     1. Màu trắng
     2. Trong suốt, tinh khiết
     3. Màu đỏ
     4. Màu đen
     5. Màu xanh nhạt
     6. Các loại ngọc quý và vàng ròng
     7. Vàng và vật dụng bằng vàng
Kết luận


Dẫn nhập

Đọc Sách Khải Huyền, độc giả sẽ thấy xuất hiện nhiều màu sắc (màu trắng, màu đỏ, màu đen…), các loại đá quý và ngọc (cẩm thạch, bích ngọc, kim châu, ngọc trai…) và các kim loại quý (vàng, bạc…). trong đó nhiều nhất là màu vàng (22 lần) và màu trắng (16 lần). Có thể cách dùng màu sắc, vàng bạc và đá quý là một trong những đặc điểm của Sách Khải Huyền, nhưng chúng có ý nghĩa gì? Khi sử dụng vàng và đá quý để mô tả triều đình Thiên Quốc và Thành Giê-su-sa-lem mới, người thuật chuyện muốn nói gì với độc giả? Sau khi đã tìm hiểu các con số trong Sách Khải Huyềný nghĩa của chúng, bài viết này bàn đến ý nghĩa của màu sắc, kim loại và đá quý trong Sách Khải Huyền để phần nào trả lời những câu hỏi trên.

Bài viết gồm hai phần chính. Phần I sẽ liệt kê các nơi xuất hiện (1) màu sắc, (2) các loại đá, ngọc và (3) kim loại. Phần II sẽ giải thích vắn tắt ý nghĩa của màu sắc, đá và kim loại quý. Phần kết luận sẽ nhắc lại bối cảnh lịch sử của Sách Khải Huyền và nối kết đề tài màu sắc, kim loại và đá quý với thực tế lịch sử thời đó để tìm ra thông điệp thần học của đề tài này dành cho độc giả.

I. Các loại màu sắc, đá và kim loại quý

Số lần xuất hiện các từ ngữ trong Sách Khải Huyền đã cho thấy phần nào tầm quan trọng của đề tài. Từ đó độc giả có thể đọc bản văn và tìm hiểu đề tài màu sắc, đá và kim loại quý trong bối cảnh văn chương của nó.

Tiếng Hy Lạp dùng tính từ (adjective) hay danh từ (noun) để nói về cùng một kim loại hay đá quý. Chẳng hạn, kim loại vàng (gold) được dùng nhiều nhất trong Sách Khải Huyền (22 lần) với ba từ Hy Lạp: (1) Danh từ khrusos (vàng, gold) xuất hiện 2 lần. (2) Danh từ khrusion (vàng ròng, pure gold) xuất hiện 5 lần. (3) Tính từ khrusous (bằng vàng) xuất hiện 15 lần (xem chi tiết trong liệt kê dưới đây). Các từ Hy Lạp của các màu sắc, đá, kim loại được trình bày trong Phụ lục 2 “Một số từ ngữ trong Khải Huyền” ở cuối Sách Khải Huyền Hy Lạp – Việt. Sau đây sẽ liệt kê tất cả màu sắc, đá quý và kim loại xuất hiện trong Sách Khải Huyền, các từ ngữ được sắp xếp theo thứ tự a, b, c…

     1. Màu sắc

Đen (black), 2 lần: 6,5.12.
- Ngựa đen, 6,5.
- Mặt trời tối đen, 6,12.

Đỏ như lửa (red as fire), 2 lần: 6,4; 12,3.
- Con ngựa đỏ như lửa, 6,4.
- Con Mãng Xà đỏ như lửa, 12,3.

Đỏ thẫm (red, scarlet), 4 lần: 17,3.4; 18,12.16.
- Con Thú màu đỏ thẫm, 17,3.
- Người đàn bà mặc áo đỏ thẫm, 17,4.
- Vải đỏ thẫm, 2 lần: 18,12.16.
   Người đàn bà này ngồi trên Con Thú (17,3).

Đỏ tía (purple), 2 lần: 17,4; 18,16.
- Trong đó, áo đỏ tía, 17,4.
- Vải đỏ tía, 18,16.

Màu huỳnh ngọc (hyacinth-colored), 1 lần: 9,17.
       - Áo giáp màu huỳnh ngọc.

Màu lửa (fiery), xuất hiện 1 lần: 9,17.
- Ngựa mặc áo giáp màu lửa.

Tinh khiết, tinh ròng, trong suốt, tinh tuyền, thanh sạch (clean, pure), 6 lần: 15,6; 19,8.14; 21,18a.18b.21.
- Thiên sứ mặc áo vải gai tinh khiết sáng chói, 15,6.
- Hôn thê mặc áo vải gai mịn sáng chói tinh tuyền, 19,8
- Đạo quân thiên quốc
  mặc vải gai mịn trắng tinh tuyền, 19,14.
- Thành bằng vàng ròng 21,18a.
- Thành giống như thủy tinh trong suốt, 21,18b.
- Quảng trường của Thành như thủy tinh trong suốt, 21,21.

Trắng (white), 16 lần: 1,14a.14b; 2,17; 3,4.5.18; 4,4; 6,2.11; 7,9.13; 14,14; 19,11.14a.14b; 20,11.
- Tóc trắng, 1,14.
- Len trắng, 1,14.
- Sỏi trắng, 2,17.
- Áo trắng, 7 lần: 3,4.5.18; 4,4; 6,11; 7,9.13.
- Ngựa trắng, 3 lần: 6,2; 19,11.14.
- Mây trắng, 14,14.
- Vải gai mịn màu trắng, 19,14.
- Ngai màu trắng, 20,11.

Trong suốt (transparent), 1 lần: 21,21.
- Quảng trường của Thành như thủy tinh trong suốt.

Xanh, xanh nhạt (yellowish green, light green), 3 lần: 6,8; 8,7; 9,4.
- Ngựa màu xanh nhạt, 6,8.
- Cỏ xanh, 8,7.
- Mọi loài xanh tươi trên mặt đất, 9,4.

     2. Các loại đá, ngọc

Bích ngọc (emerald)
- Bích ngọc, bằng bích ngọc, (tính từ), 1 lần: 4,3.
- Bích ngọc (emerald), 1 lần: 21,19.

Cẩm thạch (marble), 1 lần: 18,12.

Đá (stone)
- Đá (stone), 8 lần: 4,3; 17,4; 18,12.16.21; 21,11a.11b.19.
-  Đá quý (precious stone), 5 lần: 17,4; 18,12.16; 21,11; 21,19.

Hoàng ngọc (topaz), 1 lần: 21,20.

Huỳnh ngọc (jacinth), 1 lần: 21,20.

Kim châu (chrysolite), 1 lần: 21,20.

Kim lục (chrysoprase), 1 lần: 21,20.

Lam ngọc (sapphire), 1 lần: 21,19.

Lục châu (beryl), 1 lần: 21,20.

Lục ngọc (chalcedony), 1 lần: 21,19.

Mã não (sardonyx), 1 lần: 21,20.

Ngọc thạch (jasper), 4 lần: 4,3; 21,11.18.19.

Ngọc trai (pearl), 5 lần: 17,4; 18,12.16; 21,21a.21b.

Pha lê (rock crystal), 2 lần: 4,6; 22,1.

Tử ngọc (amethyst), 1 lần: 21,20.

Xích não (carnelian, sardius), 2 lần: 4,3; 21,20.

     3. Kim loại

Bạc (silver)
- Bạc, bằng bạc (tính từ), 9,20.
- Bạc (silver), 18,12.

Đồng đỏ (gold ore, bronze), 2 lần: 1,15; 2,18.

Sắt, bằng sắt (tính từ), 4 lần: 2,27; 9,9; 12,5; 19,15.

Vàng (gold)
- Vàng (gold), 2 lần: 9,7; 18,2.
Vàng ròng (pure gold), 5 lần: 3,18; 17,4; 18,16; 21,18.21.
- Vàng, bằng vàng (tính từ) 15 lần.
- Bàn thờ bằng vàng, 2 lần: 8,3b; 9,13.
- Bình hương bằng vàng, 8,3a.
- Cây sậy bằng vàng, 21,15.
- Chén bằng vàng, 3 lần: 5,8; 15,7; 17,4.
- Đai bằng vàng, 2 lần: 1,13; 15,6.
- Tượng thần bằng vàng, 19,20.
- Triều thiên bằng vàng, 2 lần: 4,4; 14,14.
- Trụ đèn bằng vàng, 3 lần: 1,12.20; 2,1.

II. Ý nghĩa màu sắc

     1. Màu trắng

a) Biểu tượng thế giới của Thiên Chúa (tóc trắng, mây trắng, ngựa trắng, ngai màu trắng).
b) Biểu tượng sự sống lại (đoàn người mặc áo trắng).
c) Biểu tượng sự chiến thắng (sỏi trắng, áo trắng).

     2. Trong suốt, tinh khiết

Biểu tượng sự trang nghiêm, lộng lẫy, xứng đáng. Thành Giê-ru-sa-lem mới bằng vàng ròng, giống như thuỷ tinh trong suốt (21,21). Vị Hôn Thê mặc áo vải gai mịn, sáng chói, tinh tuyền (19,7-8).

     3. Màu đỏ

Gam màu đỏ (đỏ thẫm, đỏ tía, đỏ như lửa, màu lửa, màu huỳnh ngọc) là màu của máu. Gam màu này ám chỉ chiến tranh, thế lực sự ác và tội lỗi. Sách Khải Huyền dùng màu đỏ để ám chỉ thế lực của đế quốc Rô Ma với hai khía cạnh: a) Chiến tranh, bạo lực, bách hại và giết chết.
b) Đời sống xa hoa và sa đọa qua hình ảnh người đàn bà mặc áo đỏ tía và đỏ thẫm (17,4) ngồi trên Con Thú (17,3).

     4. Màu đen

Màu đen biểu tượng những tai hoạ (ngựa đen) và các tai ương (mặt trời đen).

     5. Màu xanh nhạt

Ngựa màu xanh nhạt (6,8) là màu của xác chết, ám chỉ chết chóc.

     6. Các loại ngọc quý và vàng ròng

Màu sắc của các loại đá quý, các loại ngọc được Sách Khải Huyền sử dụng để mô tả Thành Giê-ru-sa-lem mới. Tác giả kể ở 21,10b-11: “10b Vị Thiên sứ  chỉ cho tôi Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem xuống từ trời, từ Thiên Chúa, 11 có vinh quang của Thiên Chúa, ánh quang của Thành giống như đá quý, như đá ngọc thạch trong suốt tựa pha lê.”

Tác giả mô tả vật liệu để xây dựng Thành Giê-ru-sa-lem mới là vàng ròng và các loại ngọc ở 21,18-21: “18 Vật liệu của tường Thành là ngọc thạch và Thành bằng vàng ròng giống như thủy tinh trong suốt. 19 Các nền móng của tường Thành được trang trí bằng mọi thứ đá quý: Nền móng thứ nhất, ngọc thạch, thứ hai, lam ngọc; thứ ba, lục ngọc, thứ tư, bích ngọc; 20 thứ năm, mã não; thứ sáu, xích não; thứ bảy, kim châu; thứ tám, lục châu; thứ chín, hoàng ngọc; thứ mười, kim lục; thứ mười một, huỳnh ngọc; thứ mười hai, tử ngọc. 21 Mười hai cổng là mười hai viên ngọc trai, mỗi một cổng làm từ một viên ngọc duy nhất. Quảng trường của Thành bằng vàng ròng như thủy tinh trong suốt.”

Mười hai loại đá quý và màu sắc của chúng, cùng với mười hai viên ngọc trai và vàng ròng biểu tượng cho sự vững chắc, huy hoàng, rực rỡ của “vinh quang Thiên Chúa” (21,11); đồng thời diễn tả sự hoàn hảo, thịnh vượng và hạnh phúc của thực tại cánh chung.

     7. Vàng và vật dụng bằng vàng

Trong các màu sắc, kim loại, đá quý và các loại ngọc được nói đến trong Sách Khải Huyền, kim loại vàng (gold) xuất hiện nhiều nhất (22 lần), kế đến là màu trắng (16 lần). Trong thế giới thuộc về Thiên Chúa, các vật dụng được làm bằng vàng: Bàn thờ bằng vàng (8,3b; 9,13), bình hương bằng vàng (8,3a), trụ đèn bằng vàng (1,12.20; 2,1), triều thiên bằng vàng (4,4; 14,14; 9,7). Vật dụng bằng vàng bày tỏ sự phú quý, lộng lẫy, nhằm diễn tả sự trang trọng, uy nghi và uy quyền của Thiên Chúa.

Cũng như các vua chúa trần gian sử dụng vàng, bạc, đá quý để bày tỏ vương quyền và sức mạnh, các thị kiến mô tả triều đình Thiên Quốc cũng dùng vàng, bạc, đá quý để biểu tượng cho vương quyền và sức mạnh của Thiên Chúa và của Đức Ki-tô. Trong Sách Khải Huyền, Con Chiên là Đức Ki-tô có tước hiệu: “Vua các vua, Chúa các chúa” (19,16). Vì thế, sự giàu có, huy hoàng, uy quyền và sức mạnh của các hoàng đế Rô Ma và của các vua chúa trần gian không thể so sánh được với Người. Quyền năng và uy lực của Đức Ki-tô vượt trên quyền hành và sức mạnh của Xa-tan (12,3) và của Con Thú (13,1).

Kết luận

Sách Khải Huyền được viết ra cho bảy Hội Thánh ở Tiểu Á trong hoàn cảnh bị đế quốc Rô Ma bách hại. Các hoàng đế Rô Ma buộc mọi người trong đế quốc tôn thờ hoàng đế như một vị thần (xem ý nghĩa mã số 666 hay 616) qua những nghi thức tôn thờ hoàng đế công khai. Các Ki-tô hữu không chấp nhận tôn thờ hoàng đế. Họ chỉ tôn thờ một mình Thiên Chúa, nên bị bách hại và bị giết chết.

Câu hỏi đặt ra là số phận những Ki-tô hữu bị giết chết vì trung tín với niềm tin vào Đức Ki-tô sẽ ra sao? Trong lúc thế lực sự dữ đang thi thố sức mạnh trong lịch sử, Thiên Chúa đã làm gì để bảo vệ người tin? Uy quyền và sức mạnh của Thiên Chúa so sánh như thế nào với sự giàu sang và thế lực của đế quốc? Ai thực sự là kẻ chiến thắng, khi trong thực tế, các Ki-tô hữu là những kẻ yếu thế và thất bại, bằng chứng là họ bị bắt và bị giết chết?

Trong bối cảnh này, Sách Khải Huyền dùng đề tài “màu sắc, đá và kim loại quý” để đặt song song hai thực tại: “Thực tại lịch sử” và “thực tại mặc khải”. Bản văn hàm ý so sánh triều đình đế quốc Rô Ma với triều đình Thiên Quốc; so sánh sức mạnh và uy quyền của các hoàng đế Rô Ma với sức mạnh và uy quyền của Thiên Chúa và của Con Chiên là Đức Ki-tô. Sách Khải Huyền cho thấy: Không có sự huy hoàng lộng lẫy nào ở trần gian (cụ thể là các cung điện của hoàng đế Rô Ma) có thể so sánh với sự sang trọng và rực rỡ của Thành Giê-su-ra-lem mới. Không có sức mạnh nào của các vua chúa trần gian (cụ thể là các vua chúa trong đế quốc Rô Ma) có thể so sánh với sức mạnh và vương quyền của Đức Ki-tô. Bởi vì Người là “Vua các vua, Chúa các chúa” (21,16), Người là “An-pha và Ô-me-ga” (22,13), là “Đấng Đầu Tiên và Cuối Cùng” (1,17; 2,8), “Đấng là Khởi Nguyên và Tận Cùng” (22,13). Như thế, Thiên Chúa và Con Chiên bị sát tế là Đức Ki-tô, mới thực sự là Chúa của lịch sử. Những mặc khải này là nguồn động viên lớn lao cho các Ki-tô hữu trong hoàn cảnh khó khăn thử thách (xem lời nói đầu Sách Khải Huyền Hy Lạp – Việt).

Tóm lại, đề tài “màu sắc, đá và kim loại quý” là một đặc trưng độc đáo của Sách Khải Huyền, nhằm chuyển tải đến độc giả thông điệp thần học: Người Ki-tô hữu sống trong trần gian có cơ sở để tin tưởng và cậy trông vào quyền năng và sức mạnh của Thiên Chúa. Cho dù họ bị giết chết, nhưng họ thực sự là những kẻ chiến thắng và sống hạnh phúc. Sách Khải Huyền mô tả cuộc sống của những kẻ trung tín với Đức Ki-tô cho đến cùng, với những lời đầy khích lệ như sau:

Kh 7,14-17: “14 Họ là những người đã đến từ cơn thử thách lớn lao, họ đã giặt áo của họ và tẩy trắng áo mình trong máu của Con Chiên. 15 Vì điều này, họ ở trước ngai Thiên Chúa, thờ phượng Người ngày và đêm trong Đền Thờ của Người, và Đấng ngự trên ngai sẽ căng lều của Người trên họ. 16 Họ sẽ không còn phải đói, không còn phải khát, mặt trời cũng như mọi sức nóng không còn đổ xuống trên họ nữa. 17 Vì Con Chiên ở giữa ngai sẽ chăn dắt họ và dẫn đưa họ tới nguồn nước sự sống, và Thiên Chúa sẽ lau mọi giọt lệ trên mắt họ.”

Ước mong độc giả tìm được nguồn khích lệ và động viên khi đọc Sách Khải Huyền, để từ đó xác tín, cam đảm và trung kiên khi gặp thử thách trong cuộc sống. Những lời mặc khải mạnh mẽ trong Sách Khải Huyền làm cho độc giả nhận ra rằng: Dù hoàn cảnh có bi đát như thế nào đi nữa, người tin vẫn có lý do để hy vọng và cậy trông. Trong mọi gian nan, thử thách, người tin vẫn có bình an, thứ bình an đích thực Đức Giê-su ban tặng. Bình an của Đức Giê-su không làm biến mất những thử thách, nhưng là bình an ngay giữa cơn thử thách. Đó là thứ bình an có khả năng làm cho người tin đứng vững và vượt qua mọi gian nan, khốn khó./.



6 commentaires:

  1. Tạ ơn Chúa về bài viết này.

    Khi nghiên cứu lời Chúa thì cách tốt nhất là chúng ta dùng chính Kinh thánh để giải nghĩa Kinh thánh (kẻo không khéo thì sinh ra chủ quan), cho nên chuyện phân tích từ ngữ theo bản văn gốc tiếng Hi Lạp như Linh mục từng làm là rất đáng hoan nghênh.

    Xin góp ý với Linh mục là nên mở ngoặc trích dẫn tiếng Hi Lạp (có mã số STRONG) thì hay hơn là mở ngoặc bằng tiếng Anh. Ví dụ về màu sắc:

    [G2063] ἐρυθρός [ĐỎ]
    [G2847] κόκκινος [ĐỎ-TƯƠI]
    [G4210] πορφυροῦς [ĐỎ-TÍA]
    [G4450] πυρρός [ĐỎ-HỒNG]
    [G3189] μέλας [ĐEN]
    [G3022] λευκός [TRẮNG]
    [G5515] χλωρός [XANH-LỤC]

    Nguyện xin Thiên Chúa là đức Chúa Trời 3 ngôi thêm ơn cho Linh mục!

    RépondreSupprimer
  2. Xin cảm ơn độc giả đã khích lệ, động viên và có những góp ý thiết thực về chuyên môn.
    Thực ra, tác giả bài viết cũng muốn đưa tiếng Hy Lạp vào để các từ ngữ được rõ ràng, nhưng trang blog này nhằm chia sẻ Kinh Thánh với đại chúng, nên chỉ để trong ngoặc tiếng Anh, nhờ đó có thể tra cứu và tìm hiểu thêm.

    Những người biết tiếng Hy Lạp thì không khó khăn bao nhiêu trong việc truy tìm từ gốc. Vì thế, để bài viết được nhẹ nhàng và phù hợp với đại chúng, xin phép không đưa quá nhiều tiếng Hy Lạp vào bài viết mà chỉ để trong ngoặc tiếng Hy Lạp khi thực sự cần thiết mà thôi. Mong quý độc giả thông cảm./.

    RépondreSupprimer
  3. Kính thưa Cha giáo, qua bài viết mới này của Cha giúp con hiểu hơn về con số, về màu sắc trong sách Khải Huyền, đó là một trong những đề tài rất mới về Kinh Thánh, con ước mong sao Cha có nhiều đề tài hay và sâu sắc trong Kinh Thánh để cho những học trò và mọi người đọc để hiểu hơn về Kinh Thánh và ngày càng thêm xác tín vào sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa, con cám ơn CHa Giáo.

    RépondreSupprimer
  4. Thưa Cha, sách Khải huyền là sách đọc rất khó hiểu, nhưng qua hai bài viết của Cha về những con số và những mầu sắc dđã làm cho những ai đã đọc đến đều cảm thấy rất dễ hiểu và thực tế, làm tăng thêm sự hấp dẫn cho bản văn thu hút người đọc, nhờ đó sẽ thêm niềm tin vào Thiên Chúa.
    con cám ơn Cha nhiều lắm, xin Chúa ban sức khỏe cho Cha.

    RépondreSupprimer
  5. Thưa Cha, trong cuộc chiến nếu một bên ra hiệu cờ trắng thì có nghĩa là đầu hàng vô điều kiện, là thua cuộc. Vậy ý nghĩa này có liên hệ gì với ý nghĩa biểu tượng sự chiến thắng trong TM Ga như Cha chia sẻ trong bài viết?

    RépondreSupprimer
    Réponses
    1. Ý nghĩa cờ trắng là đầu hàng không được dùng trong sách Khải Huyền (chứ không phải TM Ga) và không có liên hệ gì với sách Khải Huyền cả. Màu trắng trong sách Khải Huyền được dùng để mô tả thế giới của Thiên Chúa chứ không phải thực tại trần gian. Trong sách Khải Huyền, màu trắng biểu tượng sự chiến thắng của những kẻ đã trung tín với niềm tin vào Đức Giê-su cho đến chết.

      Supprimer